TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN ĐIỆN TỬ - VIỄN THÔNG
====o0o====
ĐỒ ÁN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA
NHIỄU CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN DƯỚI
NƯỚC
Hà Nội, 6-2014
i
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN XUÂN NAM
LỚP KSTN- ĐTVT- K54
Giảng viên hướng dẫn : TS. HÀ DUYÊN TRUNG
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, thông tin liên lạc dưới nước được sử dụng rộng rãi cho
nhiểu mục đích khác nhau như thám hiểm tài nguyên biển, vận hành các phương tiện
dưới biển tự động và quân sự. Với bờ biển dài hơn 3000km và thềm lục địa rộng lớn,
nhu cầu thông tin liên lạc dưới nước ở Việt Nam ngày càng trở nên cần thiết. Tuy nhiên,
do sự khác biệt cơ bản về đặc tính của môi trường không khí tự do và môi trường biển
nên những công nghệ sử dụng cho thông tin vô tuyến hiện thời khó có thể áp dụng cho
việc thông tin dưới nước. Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, em đã quyết định chọn đồ án
“ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỄU CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN
DƯỚI NƯỚC ”. Trong quá trình thực hiện đồ án này, ngoài việc vân dụng và củng cố
hơn những kiến thức đã học, tôi đã có thêm được những kỹ năng như làm việc nhóm,
thuyết trình, trao đổi và thảo luận, … Những kỹ năng đó thật sự cần thiết cho bản thân.
Hơn thế nữa, quá trình làm đồ án còn giúp tôi rèn luyện khả năng tư duy logic, có hệ
thống.
Để xây dựng được đồ án này, em đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ, giúp đỡ
effects of Noise to Underwater Acoustic Communication System” focues on
researching, evaluating present underwater communication system that have been
deployed in the world and. After that, it models the underwater channel. The thesis
presents and analyzes components in the system: used frequencies, pathloss models,
multipath propagation models, noise and channel capacity.
Besides, my thesis has simulated and evaluated the effects of noise,
multipath propagation to the Bit Error Rate (BER) of system by Matlab simulator.
Finally, I have given some new ideas to develop and improve the effectiveness of
the underwater acoustic channel.
iv
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ii
TÓM TẮT ĐỒ ÁN ii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ix
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT x
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN DƯỚI NƯỚC 3
CHƯƠNG 2. KÊNH TRUYỀN DƯỚI NƯỚC 10
CHƯƠNG 3. CÁC KỸ THUẬT ĐIỀU CHẾ 45
CHƯƠNG 4. MÔ PHỎNG HỆ THỐNG 55
KẾT LUẬN 78
THAM KHẢO 79
BẢNG ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH VIỆT 80
v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Hệ thống thông tin dưới nước sử dụng sóng âm 3
Hình 1.2 Sự phụ thuộc của vận tốc sóng âm vào nhiệt độ và độ sâu (S=35ppt) 5
Hình 3.28 Phổ của tín hiệu ASK 47
Hình 3.29 Dạng tín hiệu FSK 48
Hình 3.30 Phổ của tín hiệu FSK 49
Hình 3.31 Tín hiệu PSK 50
Hình 3.32 Phổ của tín hiệu PSK 51
Hình 3.33 Biểu đồ trạng thái tín hiệu của phương trình 52
Hình 3.34 Sơ đồ khối bộ phát QPSK 53
Hình 4.35 Hệ thống mô phỏng 55
Hình 4.36 Sơ đồ khối bộ phát 56
Hình 4.37 Sơ đồ ánh xạ các bit vào symbol QPSK 57
Hình 4.38 Biên độ bộ chỉnh dạng xung trong miền thời gian 58
Hình 4.39 Mô hình kênh truyền đa đường dưới nước 59
Hình 4.40 Sơ đồ khối bộ thu 60
Hình 4.41 Tín hiệu đầu ra của bộ lọc phối hợp khi không có nhiễu 62
Hình 4.42 Tín hiệu sau khi đi qua bộ lọc thích ứng 63
Hình 4.43 Tương quan chéo giữa tín hiệu nhận và training sequence 65
Hình 4.44 Hàm mật độ phổ công suất nhiễu theo lý thuyết 67
Hình 4.45 Hàm mật độ phổ công suất nhiễu khi xấp xỉ bởi nhiễu Gauss. 68
Hình 4.46 Tín hiệu đa đường trong môi trường đáy cát và đáy bùn 69
Hình 4.47 Tín hiệu đa đường trong môi trường đáy cát và đáy là đất sét. 69
Hình 4.48 Tín hiệu đa đường trong môi trường đáy bùn và đáy là đất sét 69
Hình 4.49 Tính chất đa đường tại các khoảng cách khác nhau với đáy bùn 70
Hình 4.50 Tín hiệu đa đường với những tọa độ khác nhau nhưng cùng khoảng
cách 71
Hình 4.51 Tính chất đa đường tại các khoảng cách khác nhau với đáy cát, phản
xạ tốt 71
Hình 4.52 Tỉ lệ lỗi bit khi ta không tính đến đa đường 73
Hình 4.53 Tỉ lệ lỗi bit theo SNR với đáy bt=0 và bt=7 74
Hình 4.54 Tỉ lệ BER của hệ thống khi hoạt động tại các tần số khác nhau với
khoảng cách máy thu và máy phát là 1000m 75
x
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Ý tưởng đề tài
Trong những năm gần đây, thông tin liên lạc dưới nước được sử dụng khá
rộng rãi cho nhiều mục đích khác nhau như thám hiểm tài nguyên biển, vận hành
các phương tiện dưới biển tự động, và quân sự. Nhu cầu thông tin liên lạc dưới
nước ngày một tăng đã thúc đẩy nhiều nhà nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực này.
Việc mô hình hóa một cách chính xác các yếu tố của kênh thông tin dưới nước như
mô hình kênh truyền, ảnh hưởng của nhiễu, giao diện vô tuyến được đặc biệt chú
trọng. Sự khác nhau giữa môi trường dưới nước và trên không khiến các module
không dây đang được sử dụng trong môi trường trên không rất khó được tái sử dụng
trong môi trường dưới nước. Do đó, việc nghiên cứu các module không dây mở
rộng cho môi trường dưới nước là cần thiết.
Trong môi trường dưới nước, tín hiệu điện từ bị giới hạn về khoảng cách
truyền do nó bị hấp thụ và suy hao với tốc độ rất nhanh. Mặt khác, tín hiệu quang
học cũng bị hấp thụ nhanh trong môi trường nước do các thành phần trong các cột
nước. So với các dạng tín hiệu trên, tín hiệu sóng âm có nhiều ưu điểm hơn nhờ sự
suy hao thấp của âm thanh trong nước do nó hoạt động ở miền tần số thấp. Do đó,
thông tin liên lạc sử dụng tín hiệu sóng âm là công nghệ linh hoạt và được sử dụng
nhiều nhất trong các ứng dụng trong môi trường dưới nước. Việc sử dụng tín hiệu
sóng âm có thể bị ảnh hưởng xấu bởi sự biến đổi nhiệt độ, nhiễu bề mặt, và truyền
dẫn đa đường do sự phản xạ và tán xạ. Hơn nữa, tốc độ truyền dẫn chậm đáng kể
của tín hiệu sóng âm so với tín hiệu điện tử và quang học gây nên trễ truyền dẫn
lớn. Những đặc tính đó làm cho kênh truyền trong môi trường dưới nước khác so
với kênh truyền trên không trung. Việc mô hình hóa một cách chính xác kênh truyền
sử dụng tín hiệu sóng âm là một bước cực kì quan trọng nhằm nâng cao hiệu năng
của hệ thống thông tin dưới nước. Xuất phát từ những ý tưởng trình bày trên, tôi
quyết định chọn đồ án liên quan đến việc nghiên cứu và đánh giá ảnh hưởng của
nhiễu tới kênh thông tin dưới nước.
1
Hệ thống thông tin dưới nước đã được nghiên cứu từ rất nhiều thập kỉ trước
trên thế giới. Cùng với các hệ thống truyền thông trên mặt đất, hệ thống thông tin
dưới nước ngày càng góp phần quan trọng vào các lĩnh vực của cuộc sống. Tuy
nhiên, do những tính chất của môi trường nên hệ thống thông tin dưới nước có
nhiều điểm khác biệt với hệ thống trên mặt đất.
Chương 1 trình bày loại sóng truyền dẫn dưới nước và các yếu tố ảnh hưởng
đến hệ thống, qua đó giúp ta có được cái nhìn tổng quan về hệ thống.
1.1 Vai trò của hệ thống thông tin dưới nước
Trước sự phát triển của cuộc sống, việc thông tin dưới nước ngày càng đóng
vai trò quan trọng. Những ứng dụng của hệ thống này rất đa dạng, như: các hoạt
động thăm dò dưới biển, điều khiển thiết bị tự động, thu thập dữ liệu về môi trường
một cách tự động sau đó truyền về trung tâm.
Nếu như kết hợp với những cơ sở hạ tầng hiện có của hệ thống truyền thông
trên mặt đất, ứng dụng của thông tin dưới nước sẽ được mở rộng, vai trò của nó
trong thực tế sẽ được nâng cao. Hình 1 .1 cung cấp cho ta cái nhìn tổng quan về vai
trò của hệ thống thông tin dưới nước.
Hình 1.1 Hệ thống thông tin dưới nước sử dụng sóng âm
3
1.2 Loại sóng sử dụng trong thông tin dưới nước
Việc thông tin dưới biển thực tế khó có thể thực hiện được bằng sóng điện từ
trường, lý do mức độ suy hao rất lớn trong môi trường lan truyền dưới nước. Sóng
quang học tuy không có suy hao lớn trong môi trường nước tuy nhiên lại bị nhiễu
bởi hiện tượng tán xạ. Cho đến nay, phương pháp hiệu quả nhất cho việc truyền dẫn
thông tin vô tuyến dưới nước là sử dụng lan truyền sóng âm.
Những đặc điểm cơ bản nhất của sóng âm được trình bày trong các phần dưới
đây.
1.2.1 Vận tốc của sóng âm dưới nước
Sự biến thiên vận tốc sóng âm trong môi trường biển là tương đối nhỏ.
Thông thường, vận tốc sóng âm c sẽ biến thiên từ 1450 tới 1540m/s. Tuy nhiên,
những thay đổi nhỏ trong vận đốc sóng âm cũng có những ảnh hưởng lớn tới lan
thức khác vì nó không bị giới hạn bởi việc chỉ áp dụng cho một độ sâu khoảng 1km.
4
Hình 1.2 Sự phụ thuộc của vận tốc sóng âm vào nhiệt độ và độ sâu (S=35ppt)
Trong Hình 1 .2 màu sắc của đồ thị chỉ ra giá trị mật độ của tốc độ, từ màu
xanh tới màu đỏ biểu diễn sự tăng của tốc độ âm thanh. Một điều rõ ràng trong Hình
1.3 là tốc độ âm thanh trong nước biển không phải là giá trị cố định 1500m/s mà nó
thay đổi từ 1400÷1700 m/s, với độ sâu trên 8km và nhiệt độ trên 30
o
C. Hơn nữa
Hình 1.3 cũng chỉ ra rằng tốc độ âm thanh tăng theo độ sâu và sự tăng của nhiệt độ
môi trường; trong khi độ dốc của tốc độ âm thanh theo chiều dọc nhiều hơn là chiều
ngang.
Với biển Đông Việt Nam, nhiệt độ và độ mặn của nước biển thay đổi rất
nhiều theo các mùa trong năm, và theo vị trí ven bờ hay ngoài khơi, cả theo độ sâu.
Hơn nữa, vùng Vịnh Bắc Bộ, biển miền Trung và biển miền Nam cũng có đặc điểm
khác nhau khá nhiều. Nhưng theo thống kê thì có thể lấy S=30÷40ppt (trung bình
33ppt), T=10÷30
o
C.
5
Hình 1.3 Tốc độ âm thanh phụ thuộc vào nhiệt độ và độ sâu (S=33ppt).
Dù tốc độ âm thanh tăng theo cả nhiệt độ và độ sâu, nhưng theo chiều tăng
nhiệt độ, đặc tính tốc độ âm thanh dốc hơn nhiều. Tốc độ âm thanh đối với vùng
biển Việt Nam có độ sâu dưới 1000m thay đổi từ 1400÷1560 m/s.
Hình 1.4 Sự phụ thuộc của tốc độ âm thanh vào độ mặn của nước
6
Hình 1 .4 chỉ ra rằng mặc dù tốc độ âm thanh thay đổi theo sự thay đổi của
độ mặn, nhưng thậm chí những giá trị về độ sâu và nhiệt độ được sử dụng được cho
là tối ưu cho sự thay đổi của tốc độ âm thanh, nhưng tốc độ âm thanh cũng chỉ thay
đổi 10m/s trong phạm vi tăng giảm độ mặn đi 10ppt, do vậy ảnh hưởng của độ mặn
giảm càng nhanh. Tương tự như nhiệt độ, độ mặn cũng là thông số thay đổi rất
nhiều theo độ sâu. Ở Việt Nam do có khá nhiều sông đổ ra biển nên vùng ven bờ độ
mặn là thấp nhất, độ mặn cũng thay đổi nhiều theo mùa mưa và khô. Đồ thị sau là
một ví dụ được khảo sát ở vùng biển Atlantic [2]:
8
Hình 1.7 Sự thay đổi của độ mặn theo độ sâu ( Biển Atlantic) [2].
Đường biểu diễn sự thay đổi của độ mặn theo độ sâu khá phức tạp đặc biệt là
trong vùng halocline. Độ mặn bị giảm mạnh khi độ sâu tăng, qua vùng đó, độ mặn
lại có xu hướng tăng nhẹ theo độ sâu. Sau đây chúng ta sẽ xem xét ảnh hưởng của
chúng lên các đặc tính của kênh truyền như thế nào.
1.4 Kết luận
Tóm lại, Chương 1 đã trình bày tổng quan về vai trò của kênh thông tin dưới
nước và các đặc tính cơ bản của sóng âm. Qua chương 1, ta hiểu rõ hơn về các yếu
tố tác động tới vận tốc sóng âm trong kênh thông tin dưới nước . Để hiểu sâu hơn về
hệ thống thông tin dưới nước, chương 2 sẽ trình bày chi tiết hơn về các đặc tính của
kênh truyền.
9
CHƯƠNG 2. KÊNH TRUYỀN DƯỚI NƯỚC
Trong bất kỳ một hệ thống thông tin nào, các đặc tính của kênh truyền đóng
một vai trò quan trọng. Việc hiểu đúng và đầy đủ các đặc tính đó giúp ta có được
những thiết kế phù hợp, hiệu quả với kiến trúc máy thu, máy phát cũng như các
thiết bị khác dùng trong hệ thống.
Chương 2 sẽ trình bày về những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình truyền sóng
âm dưới nước. Các yếu tố này bao gồm: suy hao, nhiễu, các yếu tố về môi trường,
hiệu ứng Doppler. Việc tìm hiểu về các tính chất của kênh truyền sẽ giúp ta có cơ sở
để xây dựng mô hình cho quá trình mô phỏng và đánh giá.
2.1 Suy hao trong môi trường dưới nước
Tín hiệu sóng âm khi truyền trong môi trường nước sẽ chịu ảnh hưởng của
suy hao. Suy hao trong môi trường nước khi truyền sóng âm sẽ ảnh hưởng đến rất
nhiều yếu tố: việc chọn lựa tần số và phạm vi truyền tín hiệu.
sóng âm có xu hướng bị giới hạn bởi hai mặt phẳng là: mặt nước và mặt đáy. Lúc
này mô hình suy hao trong môi trường nước nông là suy hao do sự phân bố hình trụ.
2.1.1.1 Suy hao cầu
Mô hình suy hao cầu được áp dụng cho những vùng nước sâu. Trong mô
hình suy hao cầu, mật độ năng lượng được xác định như sau [4]:
( )
2
0
0
sphere
sphere
I r
g r
I r
= =
Trong đó
0
2
0
4
a
P
I
10log 20log
sphere
dB
sphere
I r
G r
I r
= =
Hình 2.9 Suy hao theo phân bố cầu ở vùng nước sâu [4]
2.1.1.2 Suy hao trụ
Suy hao trải hình trụ xuất hiện khi môi trường truyền dẫn bị giới hạn bởi hai
mặt phản xạ.Hai mặt phản xạ này chính là bề mặt nước và mặt đáy của môi trường.
Khoảng cách giữa hai mặt phản xạ này là h, thỏa mãn điều kiện h >10λ, λ là bước
sóng của sóng âm. Suy hao do phân bố trụ được tính như sau[4]:
( )
0
cylinder
cylinder
0
I r
g r
I r
10log 10log
cylinder
sphere
I r
G r
I r
= =
12
Hình 2.10 Suy hao theo phân bố trụ trong môi trường nước nông [4]
2.1.2 Suy hao do hấp thụ
Sự suy giảm do sự hấp thụ xảy ra do sự biến đổi của năng lượng âm thanh
trong nước biển thành nhiệt. Quá trình suy giảm do hấp thụ này là phụ thuộc tần số
và tại tần số cao hơn thì năng lượng bị hấp thụ nhiều hơn. Có một số công thức mô
tả về quá trình hấp thụ âm thanh trong nước biển đã đặt nền móng cho những hiểu
biết hiện nay. Mỗi phương trình đó trong thời gian qua đã giúp cải thiện khả năng
ứng dụng và độ chính xác về mặt toán học của việc đánh giá sự hấp thụ của âm
thanh trong nước biển.
Tại tần số thấp, sự hấp thụ trong nước biển chuẩn là quá nhỏ so với môi
trường này nên một yêu cầu tính toán chính xác sự chuyển hóa năng lượng âm
thanh trong nước biển ở tần số thấp thì các mô hình hiện nay khó có thể đáp ứng.
W.H.Thorp đưa ra năm 1967 [4], trình bày một công thức để tính toán hệ
số suy giảm theo dB/km. Còn Francois và Garrison đưa ra công thức cho hệ số suy
giảm phức tạp hơn, nó đưa cả nhiệt độ, độ mặn, pH và axit Boric, Magie Sunfat. Để
hiểu ảnh hưởng của tất cả các thông số được sử dụng trong các mô hình này thì
nữa. Những tham số khác có
thể ảnh hưởng tới sự hấp thụ trong nước biển là độ pH. Thường thì pH=8 được sử
dụng là tiêu chuẩn để thể hiện độ axit của nước biển [4].
Phương trình Thorp
Phương trình Thorp cho sự suy giảm bởi hấp thụ là phương trình đơn giản
nhất vì nó chỉ xét tới ảnh hưởng của tần số và bỏ qua ảnh hưởng của sự giãn tần số,
độ mặn, độ axit của nước biển. Biểu thức của phương trình được cho bởi biểu thức
dưới đây [4].
2 2
4 2
2
0.1 40
2.75 10 . 0.003
1 4100
f f
f
f f
α
−
= + + × +
+ +
14
Phương trình này chỉ áp dụng cho nước biển có nhiệt độ 4
o
C và độ sâu xấp
xỉ 1000 m. Những giới hạn đó khiến cho phương trình này rất khó để được sử dụng
trong những ứng dụng của hệ thống mạng dưới nước và hơn thế, bằng việc lờ đi
những hấp thụ hóa học thì phương trình này khó có được kết quả chính xác. Trong
khi đó mô hình này lại có thể ước lượng một cách nhanh chóng hệ số suy giảm,
những giá trị mà hầu như không đủ để cung cấp một ước lượng chính xác về hiệu