MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời đại mới, thời đại của sự bùng nổ công
nghệ thông tin và khoa học kỹ thuật, thời đại của nền kinh tế tri thức, của xu
hướng toàn cầu hoá, hội nhập hoỏ đó tạo ra nhiều cơ hội và cũng đặt ra cho
con người không ít những áp lực, thách thức.
Cùng với sự phát triển của kinh tế, khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ của
công nghệ thông tin bên cạnh những mặt tích cực cũn cú những mặt tiêu
cực, không lành mạnh đã ảnh hưởng xấu đến nền văn hoá Việt Nam đặc
biệt là có tác động tiêu cực đối với thế hệ trẻ. Tầng lớp học sinh, sinh viên
thường thích những cái mới lạ, hấp dẫn, dễ bị lôi kéo và cám dỗ trước những
tác động của TNXH nh rượu chè, cờ bạc, cá cược bóng đá, hót hít Chính vì
vậy mà tệ nạn xã hội đã ảnh hưởng xấu đến công tác giáo dục của nhà
trường, của gia đình ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng, của xã hội. Tệ
nạn xã hội không chỉ gây thiệt hại về kinh tế phá huỷ nhân cách, băng hoại
đạo đức, làm tan vỡ hạnh phúc nhiều gia đình, gây mất trật tự xã hội, ảnh
hưởng to lớn đến cộng đồng và làm suy thoái đến kinh tế đất nước. Một
trong những lý do dẫn đến tình trạng tiêu cực nói chung và tệ nạn xã hội
trong học đường nói riêng là do nhận thức, thái độ và hành vi sai lầm của thế
hệ trẻ. Nhận thức, thái độ là những hiện tượng tõm lớ trong con người. Nếu
nhận thức sai sẽ dẫn đến thái độ và hành vi sai. Mọi tác động của con người
đến thế giới, mọi biểu hiện qua thái độ của con người trước những hiện
tượng của đời sống xã hội nói chung và tệ nạn xã hội nói riêng trước hết
phải đi từ nhận thức. Nhưng thực tế hiện nay: Theo báo cáo của hai ngành
công an và giáo dục đào tạo, năm 2004 cả nước còn 979 học sinh, sinh viên
và giáo viên nghiện ma tuý, trong đó học sinh là 503 em, sinh viên là 177
em, giáo viên là 229. Cuối năm 2004 số học sinh sử dụng ma tuý đã lên tới
600 em. Theo báo cáo của bộ lao động thương binh và xã hội tính đến cuối
năm 2006 có 160.226 người nghiện trong cả nước, trong đó có xấp xỉ 63% ở
1
độ tuổi thanh thiếu niên. Tình trạng sử dụng các loại ma tuý tổng hợp trong
nhiệm, các cán bộ phòng, ban của trường.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu nhận thức và thái độ của sinh viên trường CĐSP
Lào Cai trước những tệ nạn xã hội trong học đường.
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay tệ nạn xã hội đã xâm nhập vào các trường học do nhiều
nguyên nhân, một trong những nguyên nhân đó là do các em chưa nhận
thức được đầy đủ các hậu quả của tệ nạn và chưa có thái độ đúng mực
trước các tệ nạn đó. Vì vậy nếu có những tác động sư phạm nhằm nâng cao
nhận thức cho sinh viên về TNXH sẽ giỳp cỏc em có thái độ đúng và biết
cách phòng chống nó.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài: như nhận
thức, thái độ, tệ nạn xã hội, tệ nạn xã hội trong học đường.
6.2. Nghiên cứu thực trạng nhận thức, thái độ của sinh viên về TNXH trong
học đường.
6.3. Tổ chức thực nghiệm (thử nghiệm tác động) nhằm góp phần nâng cao
nhận thức, thái độ cho sinh viên về TNXH. Từ đú giỳp cỏc em có hành động
đúng trước các tệ nạn xã hội trong học đường.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc và phân tích các tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài để xây
dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Đây là phương pháp chủ yếu của đề tài. Mục đích của phương phương
pháp này là nhằm khảo sát nhận thức và thái độ của sinh viên trước những
TNXH trong học đường.
3
7.2.2. Phương pháp đàm thoại
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Trong các thời kỳ xã hội khác nhau, việc xử lý các hành vi tiêu cực trong
học đường là vấn đề bức xúc, khó khăn của mỗi quốc gia. Để giỳp cỏc học
sinh, sinh viên có cái nhìn trân trọng và đúng đắn hơn về việc học tập, sinh hoạt
trong trường Cao đẳng sư phạm, từ đó góp phần nâng cao chất lượng các giáo
viên tương lai, giỏi về năng lực và có phẩm chất đạo đức tốt. Đõy là vấn đề rất
cần thiết, vì thế mỗi quốc gia luụn cú những phương hướng, biện pháp khác
nhau để giảm bớt vấn đề tiêu cực, tệ nạn xã hội trong học đường.
Năm 1979 G.G. Bochi canava người Mỹ : ông đã nghiên cứu những
đặc điểm tâm lý của sự điều chỉnh xã hội đối với hành vi.
Theo E.C.Toman (1886 – 1959) “Thuyết hành vi nhận thức” ông giả
thiết rằng hành vi nhận thức gồm 5 biến độc lập cơ bản: Các kích thích của
môi trường, cỏc tác động tâm lý, di truyền, sự dạy học từ trước và tuổi tác.
Alberl Bandura nghiên cứu quy mô lớn về đặc điểm của những mô hình
có ảnh hưởng lớn đến hành vi của chúng ta: “Nếu học sinh chứng kiến hành
vi mong muốn hoặc được tán thưởng, hoặc bị bỏ qua không trừng phạt, hành
vi không mong muốn của học sinh thể là hậu quả của điều đó. Điều này có ý
nghĩa và tác dụng rất lớn: Hành vi ổn định và tính tích cực của giáo viên tạo
ra bầu không khí lành mạnh trong lớp. [17,157]
Tóm lại, một số công trình ở nước ngoài cũng đã chú ý đến việc nghiên
cứu những hiện tượng tiêu cực và tác dụng của việc nghiên cứu đó. Song các
công trình nghiên cứu các tệ nạn xã hội ở trường Cao đẳng sư phạm cũn ớt.
5
Các công trình nghiên cứu trong nước
Về vấn đề nhận thức và thái độ của sinh viên cũng được nhiều tác giả
quan tâm nghiên cứu.
Tác giả Hoàng Thị Thư nghiên cứu thực trạng nhận thức và thái độ của
sinh viên Đại học sư phạm Hà nội về về bạo lực phụ nữ trong gia đình. Tác
1.2.1. Hoạt động nhận thức
1.2.1.1. Khái niệm về hoạt động nhận thức
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tõm lớ con người:
Nhận thức - tình cảm - hành động. Trong quá trình sống và hoạt động con
người tiếp nhận, phản ánh và phản ứng lại các kích thích từ thế giới khách
quan tác động đến con người và phản ánh những biến đổi trong bản thân con
người. Vì vậy nếu không có hoạt động nhận thức thì sẽ không thực hiện được
các chức năng trên.
Hoạt động nhận thức là cơ sở của mọi hoạt động tõm lớ con người.
Nhờ nhận thức con người mới có xúc cảm, tình cảm và hành động. Nhận thức
là tiền đề cho các hoạt động khác. Đặc trưng nhất của hoạt động nhận thức là
phản ánh hiện thực khách quan. Hoạt động này bao gồm nhiều hoạt động
khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng ) và mang lại những sản
phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, biểu tượng, khái niệm ).
1.2.1.2. Các giai đoạn của hoạt động nhận thức
+ Nhận thức cảm tính
+ Nhận thức lớ tớnh.
Nhận thức cảm tính bao gồm quá trình cảm giác và tri giác. Đây là
giai đoạn đầu tiên, sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con
người. Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính là chỉ phản ánh những
thuộc tính bề ngoài, cụ thể của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào
giác quan của con người. Do đó, nhận thức cảm tính có vai trò rất quan trọng
7
trong việc thiết lập mối quan hệ của cơ thể với môi trường, định hướng và
điều chỉnh hoạt động của con người trong môi trường. Vì vậy, Lê Nin đã nói
: “cảm giác là viên gạch xây dựng nên lâu đài nhận thức”. Tuy nhiên nhận
thức cảm tính chỉ có thể phản ánh được những thuộc tính bề ngoài của sự vật
hiện tượng một cách riêng lẻ, trong cuộc sống con người phải đi tìm những
cái bên trong của sự vật hiện tượng. Điều này nhõn thức cảm tính không thể
phản ánh được. Vì thế xuất hiện một giai đoạn nhận thức ở mức độ cao hơn
chính xác hơn.
Lờnin đã khái quát: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ
tư duy trừu tượng trở về thực tiễn. Đó là con đường nhận thức biện chứng,
nhận thức hiện thực khách quan. (Bỳt kí triết học – NXB Sự thật – Hà nội
1963, trang 189)
Nhận thức trải qua hai giai đoạn: trực quan sinh động và tư duy trừu
tượng. Hai giai đoạn này thống nhất và gắn bó với nhau nhưng lại khác nhau.
sự khác nhau này trên mấy mặt:
1. Về vị trí: Trực quan sinh động (cảm giác, tri giác) là giai đoạn đầu,
giai đoạn thấp của quá trình nhận thức, tư duy trừu tượng (Tư duy, tưởng
tượng)là giai đoạn tiếp theo, giai đoạn cao của quá trình nhận thức.
2. Về tính chất: Trực quan sinh động là nhận thức có tính trực tiếp, cụ
thể dựa vào các giác quan; tư duy trừu tượng là nhận thức cú tớn chất gián
tiếp, là quá trình chế biến những thong tin do giác quan mang lại trong đầu óc
con người.
3. Về trình độ: Trực quan sinh động là nhận thức ở trình độ thấp, hời
hợt, cho ta sự hiểu biết về những hiện tượng, những mối liên hệ bề ngoài của
sự vật, của quá trình, sự hiểu biết kinh nghiệm cụ thể. Tư duy trừu tượng là
9
nhận thức ở trình độ cao, sâu sắc, cho ta sự hiểu biết về bản chất, những mối
liên hệ bên trong, mối liên hệ có tính qui luật của sự vật hiện tượng, của quá
trình, sự hiểu biết lý luận, trừu tượng.
4. Về hình thức: Trực quan sinh động sử dụng những hình thức tư duy
như cảm giác, tri giác. Tư duy trừu tượng sử dụng những hình thức tư duy
như phán đoán, suy lý.
1.2.1.3. Vai trò của hoạt động nhận thức
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người:
Nhận thức - Tình cảm - Hành động và cũng là một trong năm phạm trù cơ bản
của triết học. Nhờ có nhận thức đỳng giúp con người nảy sinh tình cảm, hứng
thú từ đó hành động đúng. Quá trình nhận thức bao giờ cũng là quá trình có
nhận và đánh giá cao.
Do những đặc điểm về thể chất, ảnh hưởng của hoạt động và hoạt động
học tập mà hoạt động tâm lý nói chung và nhận thức của sinh viên nói riêng
có những thay đổi quan trọng.
Ở tuổi thanh niên, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá
trình nhận thức. Tri giác có mục đích đạt tới đỉnh cao. Quan sát trở nên có hệ
thống và toàn diện. Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín
hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ.
Ghi nhớ lụgic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt (các
em biết sử dụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ, tóm tắt ý chính, so sánh
đối chiếu ).
Các em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc
lập, sáng tạo, có căn cứ và nhất quán hơn, đồng thời tính phê phán của tư duy
cũng phát triển. Những đặc điểm đó tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện các
thao tác tư duy phức tạp, nắm được các mối liên hệ nhân quả trong tự nhiên
và xã hội Đó là cơ sở để hình thành thế giới quan.
11
Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong sự phát triển tõm lớ
của tuổi thanh niên. Sự phát triển ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự
phát triển nhân cách. Đặc điểm quan trọng trong sự tự ý thức của thanh niên
là sự nhận thức của họ xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động, do
địa vị mới mẻ của họ. Nội dung của tự ý thức cũng khá phức tạp, các em
không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức về vị
trí của mình trong xã hội, trong tương lai. Tuy nhiên nhận thức về người khác
bao giờ cũng ít khó khăn hơn là nhận thức bản thân. Tự đánh giá khách quan
không phải là dễ dàng do vậy thanh niên thường có xu hướng cường điệu
trong tự đánh giá.
Một số đặc điểm tõm lớ của sinh viên trường CĐSP Lào Cai
Ngoài những đặc điểm nhận thức của lứa tuổi thanh niên – sinh viên
nói chung, thanh niên – sinh viên trường CĐSP Lào cai nói riêng có một số
* Theo từ điển tiếng Việt khoa học: Thái độ là tổng thể nói chung
những biểu hiện ra bên ngoài (Bằng nét mặt, lời nói, hành động) của ý nghĩ,
tình cảm đối với ai hoặc đối với sự việc nào đó.
* PGS. TS Võ Thị Minh Chí quan niệm: Thái độ là phản ứng, ứng xử
mang tính chủ thể với hiện thực khách quan, được hình thành trên cơ sở các
mối quan hệ xã hội mà chủ thể tham gia vào đó thông qua hoạt động và giao
tiếp của mình. [8,281]
Như vậy có thể nói: thái độ là sự biểu hiện ra bên ngoài (Bằng nét mặt,
lời nói, hành động) của những ý nghĩ, tình cảm của chủ thể đối với hiện thực
khách quan, được hình thành trên cơ sở các mối quan hệ xã hội mà chủ thể
tham gia vào đó, thông qua hoạt động và giao tiếp của mình.
1.2.2.2. Đặc điểm của thái độ
13
Khái niệm thái độ mang tính phức tạp được hiểu dưới nhiều góc độ
khác nhau, có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ các quá trình hoạt động tâm lý
khác của con người. Thái độ có thể được biểu hiện ra bên ngoài nhưng cũng
có thể không biểu hiện ra bên ngoài. Đầu tiờn nó là xúc cảm đối với đối tượng
đối tượng mới gặp hoặc là tình cảm đối với đối tượng quen thuộc. Tuy vậy
còn bao gồm cả ý định và hành động. Hành động ở đõy là một hành động đối
xử với một đối tượng nhất định muốn có một hành động gì đó về phía chủ thể,
về phía đối tượng, đó là mặt bên trong, mặt chủ quan của thái độ hay còn gọi
là thái độ bên trong. Không phải lúc nào cũng được phản ánh một cách trọn
vẹn nguyên si mà thái độ bên trong này có thể giấu kín nếu người ta cảm thấy
cần che giấu. Khi đó chủ thể sẽ kìm chế hoặc đố nén và không biểu lộ thái độ
của mình.
Mặt bên ngoài của thái độ là khi con người muốn biểu lộ thái độ đó như
là một sự cần thiết hoặc khi chủ thể không ý thức được cần phải giấu diếm
thái độ mà cứ để lộ ra bên ngoài một cách tự nhiên, thoải mái.
Thái độ của con người có thể được biểu hiện một cách rõ ràng nhưng
cũng có thể được che dấu, biểu hiện một cách không chân thực.
với đối tượng.
- Thành phần xúc cảm - tình cảm: thể hiện sự rung động, hứng thú của
cá nhân đối với đối tượng của thái độ.
- Thành phần thứ ba là ý định hành động và hành động: là sự thể hiện
thái độ của cá nhân đối với đối tượng thông qua xu hướng hành động và hành
động thực tế.
Trong đời sống tâm lý của con người, nhận thức được coi là một trong
ba mặt cơ bản (nhận thức, thái độ và hành động). Quá trình nhận thức về đối
tượng là quá trình con người tìm tòi, khám phá những thuộc tính bề ngoài và
cả những thuộc tính bản chất, những quy luật của đối tượng. Khi một sự vật,
15
hiện tượng tác động đến cá nhân, để có thái độ nhất định đối với sự vật hiện
tượng đú thỡ trước hết, cá nhân phải có sự hiểu biết về đối tượng đó (cho dù
hiểu biết đú đỳng hay sai). Trong cấu trúc của thái độ, nhận thức là “điều
kiện cần” cho việc hình thành thái độ. Xúc cảm - tình cảm là thành phần
quan trọng, là động lực có thể kích thích hoặc kìm hãm tính tích cực hoạt
động của chủ thể. Hành vi là sự thể hiện ứng xử của chủ thể đối với đối
tượng. Giữa hành vi và thái độ luụn cú sự quy định lẫn nhau, thái độ muốn
biểu hiện ra bên ngoài phải thông qua hành vi và hành vi là sự thể hiện của
thái độ ra bên ngoài, hành vi là một thành phần cấu thành lên thái độ. Mặc dù
giữa hành vi và thái độ đôi khi cũng có những mâu thuẫn, nhưng nhìn chung,
hành vi vẫn là hình thức biểu hiện cụ thể nhất của thái độ.
Ba thành phần nêu trên trong cấu trúc của thái độ có quan hệ chặt chẽ
với nhau, sự thống nhất giữa chúng tạo nên một thái độ xác định của chủ thể.
Đứng trước một đối tượng nào đó, để có thái độ với đối tượng đó, con người
phải tuân theo quy luật sau: trước hết, con người phải nhận thức (có hiểu biết)
về đối tượng; nhận thức đó sẽ là cơ sở định hướng làm xuất hiện những xúc
cảm, tình cảm với đối tượng (yêu – ghột, thớch – khụng thớch…); cuối cùng,
với nhận thức và tình cảm nhất định với đối tượng mà con người sẽ có những
hành động, hành vi cụ thể với đối tượng. Ta cũng cần hiểu, mặc dù đều có
thoát khỏi các căng thẳng nội tâm, biểu hiện cảm xúc và thể hiện giá trị nhân
cách của bản thân. Hệ thống thái độ của mỗi người hợp lại tạo thành bộ mặt
tâm lý, thành nhân cách riêng của mình. Vì vậy, thông qua thái độ của cá nhân
đối với đối tượng, ta cũng có thể biết được giá trị nhân cách của cá nhân đó.
- Chức năng bảo vệ cái tôi (tự vệ): giúp chúng ta phòng thủ bảo vệ
động cơ và suy nghĩ tiềm thức. Chính trong những tình huống xung đột (giữa
17
các suy nghĩ, niềm tin, giữa thái độ và hành vi…), chúng ta thường tìm cách
tự bào chữa, thậm chí tìm một người khác chịu trách nhiệm thay mình hoặc
hợp lý hóa hành vi của mình. Quá trình này dẫn đến sự thay đổi thái độ tương
ứng, giúp con người giảm bớt được sự “bất đồng” nội tâm.
Cách lập luận của Katz như trên cho chúng ta thấy rằng: một số thái độ
của chúng ta rất giống cái tôi bên trong.
Theo Smith, Bruner & White (1956) thái độ có ba chức năng:
Thứ nhất là đánh giá đối tượng: thái độ giúp chúng ta đánh giá những
đặc điểm khác nhau của môi trường sao cho biết cách hành động với chúng.
Thái độ giúp kinh nghiệm trước đây định hướng phản ứng của chúng ta sao
cho chúng ta không phải trải qua quá trình tập quen nên phản ứng ra sao vào
mỗi thời điểm. Vì chúng ta phát triển một thái độ tích cực đối với vấn đề đã
tìm thấy lợi ích trong quá khứ hay một thái độ tiêu cực đối với vấn đề chúng
ta nhận thấy là có hại, ngay lập tức chúng ta hiểu liệu cú nờn tiếp cận vấn đề
hay trỏnh nó.
Chức năng thứ 2 là điều chỉnh xã hội: có một số thái độ này khác một
số thái độ khỏc giỳp chúng ta đồng nhất hay xác nhập với cỏc nhúm xã hội cụ
thể. Cú cựng thái độ như các thành viên khác của một nhóm xã hội cụ thể là
cách nhấn mạnh bạn giống họ nhiều đến mức nào, vì thế cũng xác định vị trí
của chính bạn trong xã hội hay nói cách khác là có thái độ cụ thể giúp cho quá
trình đồng nhất hoá xã hội.
Chức năng thứ 3 là ngoại hiện hoá: chức năng này liên quan đến cỏch
chỳng dùng làm động cơ thúc đẩy bên trong, tiềm thức phù hợp với những gì
Theo H. Benesch - nhà tâm lý học người Đức, thái độ gồm có các mức
độ sau:
19
-Về mức độ: nhiều hay ít, thường xuyên hay không thường xuyên, cao
hay thấp.
-Về cường độ: thái độ thể hiện ở sự tích cực, nhiệt tình, chủ động.
Theo B.PH.Lomov - nhà tâm lý học người Nga thì:
- Xét về cường độ: thái độ gồm các mức độ mạnh hay yếu. Trong quá
trình phát triển thái độ có sự thay đổi về cường độ, nó có thể ở thời kỳ gia
tăng (rất mạnh mẽ) hoặc thời kỳ suy yếu. Khi thái độ ở cường độ bão hoà, có
thể dẫn dến sự thay đổi về tính chất thái độ.
- Xét về phạm vi (độ rộng): thái độ thể hiện ở tập hợp các đối tượng
hay khía cạnh của hoạt động mà cá nhân tỏ thái độ đó là sự phong phú hay
hạn hẹp của thái độ.
- Xét về mức độ tích cực: đó là mức độ ảnh hưởng của thái độ đối với
tính tích cực của cá nhân.
- Về mức độ ý thức: thái độ của cá nhân là thái độ có ý thức, cá nhân
nhận thức được thái độ của mình.
Theo định nghĩa trên, đề tài này được thực hiện nhằm đo lường thái độ
của sinh viên đối với các tệ nạn xã hội trong học đường.
Mối quan hệ giữa nhận thức và thái độ
Nhận thức và thái độ đều phản ánh hiện thực khách quan nhưng thái độ
mang tính chủ thể đậm nét hơn so với nhận thức. Trong khi nhận thức phản
ánh những thuộc tính và mối quan hệ của bản thân thế giới thì thái độ thể hiện
mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhu cầu, động cơ của con người.
Con người thường có thái độ tích cực khi có những đối tượng nào đó làm thoả
mãn nhu cầu, hoặc ngược lại, con người có thái độ tiêu cực khi có những đối
tượng gây trở ngại cho sự thoả mãn nhu cầu.
Nhận thức và thái độ hình thành hai tõm lớ cơ bản tạo nên cấu trúc của
ý thức, do vậy nhận thức và thái độ có mối quan hệ rất gắn bó với nhau.
1.2.3.1. Khái niệm
Tệ nạn
Tệ nạn được hiểu là thói quen phổ biến trong xã hội, xấu xa và có tác
hại lớn như rượu chè, cờ bạc và các tệ nạn xã hội khác. [20,890]
Tệ nạn xã hội
Dưới góc độ khoa học xã hội học, khoa học pháp lý, vấn đề tệ nạn xã
hội ở nước ta có nhiều bài viết, nhiều công trình đề tài nghiên cứu theo những
phạm vi và góc độ khác nhau có nhiều khái niệm về tệ nạn xã hội Đại tá
Nguyễn Mạnh Tề, phó cục trưởng cục cảnh sát hình sự – Bộ công an trong
báo cáo khoa học “khắc phục có hiệu quả các tệ nạn xã hội là yêu cầu bức xúc
hiện nay và là trách nhiệm của toàn xã hội” cho rằng: Tệ nạn xã hội là những
hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa phải là tội phạm, là những thói hư tật
xấu trái với thuần phong mỹ tục, đạo đức dân tộc do nhiều người mắc phải
gây tác hại đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta. Tệ nạn xã hội
rất đa dạng gồm cả văn hoá phẩm đồi truỵ bói toán, mại dâm, nghiện hút, cờ
bạc… Ngoài ra còn phải kể đến một số quan niệm khác về TNXH như an
niệm của TS Nguyễn Hữu Dũng bộ lao động thương binh và xã hội trong báo
cáo khoa học “Đổi mới các chính sách xã hội nhằm khắc phục tệ nạn xã hội
trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường” cho rằng tệ nạn xã hội là
những hiện tượng xã hội rất tiêu cực, đem lại những hậu quả nghiêm trọng
trong đời sống kinh tế – văn hoá - xã hội và gây ra tâm trạng xã hội rất nặng
nề thậm chí gây mất ổn định về an ninh chính trị, an toàn xã hội.
Tệ nạn xã hội theo quan điểm của các nhà kinh điển macxit là các vấn đề
của xã hội có giai cấp. Dựa vào thế giới quan, tập quán, truyền thống lịch sử văn
hoá mà người ta nhìn nhận tệ nạn xã hội và có cách giải quyết khác nhau.
Theo từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam thì “Tệ nạn xã hội
là hiện tượng tiêu cực có tính phổ biến, biểu hiện bằng những hành vi lệch
22
chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và gây hậu quả nghiêm trọng trong đời
sống cộng đồng”.
Ba là, tệ nạn xã hội thường gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh
hưởng đến mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội, tư tưởng, tình cảm, tinh
thần của xã hội, của con người. Đôi khi nó tác động mạnh mẽ đến cả hệ thống
quyền lực của một xã hội.
Đặc điểm của tệ nạn xã hội ở Việt Nam.
- Số vụ TNXH và đối tượng TNXH được phát hiện hàng năm có xu
hướng tăng và hậu quả gây ra cho xã hội ngày càng trầm trọng đặc biệt là mại
dâm và nghiện ma tuý. TNXH ở Việt Nam gắn liền với những mặt trái của
nền kinh tế thị trường và “mở cửa” đất nước. Theo thống kê của Bộ công an,
nếu tính theo đầu dõn thỡ tỉ lên TNXH ở Việt Nam đối với tệ nạn mại dâm và
ma tuý 0,31%, tức là cứ 1000 dõn thỡ cú khoảng 3 đối tượng TNXH thuộc hai
loại trên [23, 81]. Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều TNXH như nghiện hút cờ
bạc, tham nhũng…
- Nếu như trước đõy TNXH có tính chất tự phát có quy mô nhỏ, mức
độ ít nghiêm trọng thì ngày nay TNXH đã phát triển có tính phổ biến và mang
tính tội phạm có tổ chức cao.
- TNXH ở Việt Nam luôn gắn liền và là “sõn sau” của tội phạm và các
hành vi vi phạm pháp luật khác
Như vậy có thể nói, tệ nạn xã hội là vấn đề xã hội phức tạp, có ở nhiều
quốc gia trên thế giới. Tệ nạn xã hội không chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển
trong thời kì kinh tế suy yếu mà cả trong giai đoạn kinh tế - xã hội phát triển.
Ở mỗi quốc gia khác nhau trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, tệ nạn xã
hội cũng tồn tại và phát triển ở mức độ khác nhau. Có những loại đã tồn tại
hàng thế kỉ, không thể loại trừ chúng trong một thời gian ngắn hay bằng một
biện pháp đơn giản. Tệ nạn xã hội xấu xa và gây thiệt hại nghiêm trọng cho
24
kinh tế - xã hội, đạo đức, lối sống, huỷ hại nhân cách, sức khoẻ của con
người Để ổn định và phát triển xã hội chúng ta cần phải quyết tâm đấu
tranh, ngăn chặn TNXH.
1.1.3.2. Các loại tệ nạn xã hội trong trường học