Những biện pháp và hạn chế lạm phát ở Việt nam - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
1.Giới thiệu về đề tài :
Lạm phát là một “căn bệnh trầm kha” xảy ra phổ biến ở hầu hết các nước trên
thế giới, tuy nhiên nó thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau nên cách nhìn nhận về nó
của các nhà kinh tế học cũng khác nhau. Có thể khái quát về việc tìm hiểu một cách
chính xác khái niệm lạm phát được chia thành ba giai đoạn, trong đó ở mỗi giai đoạn
điều đưa ra các nguyên nhân dẫn đến lạm phát và biện pháp khắc phục khác nhau.
Trên cơ sở khắc phục các nhược điểm mà các giai đoạn nghiên cứu trước mắc phải,
cuối cùng thì khái niêm lạm phát hoàn chỉnh đã ra đời. Với quan điểm Lạm phát là
hiện tượng thừa tiền trong lưu thông, làm cho đồng tiền bị giảm giá trị so với tất cả
các loại hàng hoá, vàng, ngoại tệ và được đo lường bằng chỉ số giá tổng quát ngày
càng tăng, các nguyên nhân dẫn đến lạm phát, cũng như biểu hiện và diễn biến của
lạm phát đã được trình bày. Trên cơ sở đó, một số biện pháp đã được đề xuất nhằm
góp phần khắc phục hạn chế lạm phát.
2.Lí do chọn đề tài :
Trong hơn vài thập kỉ trở lại đây ,kinh tế Việt Nam đă có những sự chuyển
mình to lớn.Từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp gây ra hậu quả nặng nề đối với
sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, lạm phát trên 3 con số ,kinh tế tăng trưởng âm
,kéo dài trong nhiều năm .Sự chuyển đổi kịp thời sang nền kinh tế thị trường cùng
nhiều chính sách phát triển kinh tế như thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài của
chính phủ ta đă đem lại hiệu quả tốt. Trải qua các giai đoạn phát triển trên ,chúng ta
có thể nhận thấy sự liên quan giữa tỷ lệ lạm phát và sự tăng trưởng và phát triển của
nền kinh tế Việt Nam. Không chỉ đối với Việt Nam mà đối với bất kỳ nền kinh tế nào
thì tỷ lệ lạm phát luôn luôn có ảnh hưởng nhất định đến sự tăng trưởng của nền kinh
tế đó. Tuy nhiên sự tồn tại của lạm phát ở một mức độ vừa phải không nguy hại
,ngược lại còn là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế .Nghiên cứu những ảnh
hưởng của lạm phát tới nền kinh tế là một việc hết sức cần thiết. Việc đó giúp chúng
ta dự đoán ,không chế lạm phát ở mức độ phù hợp nhằm xây dựng một nền tài chính
ổn định và nhằm tạo một động lực duy trì và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng.
3.Mục đích của đề tài :
Cung cấp cho người đọc những vấn đề cơ bản của một hiện tượng tiền tệ phổ

1.1Quan điểm về lạm phát của Karl-Marx
Quan điểm Karl-Marx cho rằng lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hàng
trong nền kinh tế.Khi ông nghiên cứu quy luật lưu thông tiền tệ K-Marx đã nhìn thấy
trong mọi trường hợp Quy luật lưu thông tiền tệ luôn được cân bằng.
Có thể tóm gọn trong đẳng thức: M.V=P.Q.
Nếu tổng khối lượng tiền lưu hành (M) tăng thêm, trong khi V và Q cùng tăng
lên theo một tỷ lệ thì tất nhiên mức giá trung bình P tăng lên tương ứng.Do đó sẽ dẫn
đến lạm phát.
Như vậy, lạm phát là sự cân bằng của quy luật lưu thông tiền tệ.
Quan điểm này tuy giúp ta hiểu rõ về hiện tượng lạm phát, nhưng không cho
biết nguyên nhân của lạm phát và khiến ta lầm tưởng lạm phát cao là kết quả của việc
tăng trưởng mức cung tiền tệ cao.
Thật ra thì còn nhiều trường hợp chưa hẳn là như vậy.Ví dụ: Nhà nước có thể
tăng mức cung ứng tiền mà không làm cho giá cả tăng cao, không gây ra lạm phát,
nếu như khối lượng tăng đó phù hợp với lượng tiền cần thiết trong lưu thông.
1.2 Quan điểm của V.I Lênin
Cũng giống như quan điểm của k-Marx nhưng lênin cho rằng sở dĩ khối lượng
tiền trong lưu thông tăng lên là do nhà cầm quyền phát hành thêm tiền để thỏa mãn
nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước.
Tóm lại: Lạm phát là sự gia tăng khối lượng tiền trong lưu thông do sự phát
hành tăng thêm của bộ máy nhà nước cầm quyền.
1.3 Quan điểm về lạm phát của Milton-Friedman
Theo ông" Lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ".Ông cho
răng nguồn gốc của lạm phát là một tỷ lệ tăng trưởng cao của mức cung tiền.
Điều đó được chứng minh ở những hiện tượng sau:
Khi lạm phát tâng cao thì thì tỷ lệ tăng trưởng của cung tiền cũng tăng
cao.Tiêu biểu như: Tình trạng lạm phát ở Đức 1921-1923.Năm 1923 tỷ lệ lạm phát ở
Đức là 1.000.000% và mức tăng cung tiền cũng tương ứng.
Nhưng năm 80 của TK XX các nước châu mỹ La Tinh cũng lâm vào tình trạng
này:Argentina 10.000%, Bolivia 20.000% năm 1985.

Lạm phát là một thuật ngữ kinh tế mà bản chất của nó là giá trị danh nghĩa
(mệnh giá) của tiền bị suy giảm một cách tương đối so với cái giá trị mà đáng lẽ nó
phải đại diện tốt khi nó làm đại diện
Vấn đề có thể hiểu như sau . Giả sử trước đây tạ có một loại hàng hoá có giá
trị 100.000 đồng/sp thì với một tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng, chúng ta có thể
mua được 1 sản phẩm. Nay vì lạm phát, tờ tiền này bị mất giá trị 50%, nghĩa là mệnh
giá của tờ tiền vẫn 100.000 đồng nhưng để mua được cùng loại hàng hoá trên ta phải
bỏ ra 2 tờ cho 1 sản phẩm như trước. Lưu ý rằng hàng hoá trên giá trị vẫn không đổi
bởi đã không hề có một yếu tố nào tác động đến giá trị của nó cả. Giá trị không đổi
thì giá cả cũng phải không đổi vì xét theo lý thuyết (thị trường cạnh tranh hoàn hảo)
giá cả chỉ là hình thức biểu hiện cho giá trị. Vì vậy, nếu nhìn vào hiện tượng thì bạn
chỉ thấy giá cả hàng hoá này là 200.000 đồng do người mua hàng phải trả 2 tờ mệnh
giá 100.000 đồng để đổi lấy nó. Còn về bản chất thì giá trị hàng hoá không đổi trong
khi sức mua của tờ tiền giảm sút.
Vậy, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền
kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm
sức mua của đồng tiền
3. Biểu hiện của lạm phát:
Như khái niệm thì lạm phát là một thuật ngữ mô tả hiện tượng mức giá cả
chung trong nền kinh tế tăng lên.Lạm phát ảnh hưởng đến tổng thể nền kinh tế, điển
hình là qua các mặt sau đây:
3.1 Sự gia tăng giá cả hàng hóa, dịch vụ hàng loạt.
Điều này cũng đồng nghĩa với “vật giá leo
thang”, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiến với
cùng một số lượng tiền, người tiêu thụ mua được ít
hàng hóa hơn hoặc phải trả một giá cao hơn để hưởng
cùng một dịch vụ.
Khi giá cả trong nền kinh tế tăng lên điều đó có
nghĩa là thu nhập thực tế của những người có thu nhập
cố định hay ít thay đổi như quân nhân, cán bộ hưu trí,

khác. Từ tháng 9- 1985 đến cuối năm 2007, VND luôn luôn mất giá so với USD. Cụ thể
tháng 9-1985, tỷ giá VND/USD là 15 VND/1 USD, đến năm 2007 thì tỷ giá đó đã là 16.115
VND/ 1 USD. Như vậy, sau 22 năm VND mất giá so với USD 16.100 VND hay 107.333,33%
{[(16.115 VND - 15 VND) : 15 VND] x 100 = 107.333,33%}. Tỷ giá hối đoái chịu
tác động của nhiều nhân tố, trong đó hai nhân tố quan trọng nhất là sức mua của đồng
tiền và tương quan cung cầu ngoại tệ. Khi lạm phát tăng, sức mua đồng nội tệ giảm so
với ngoại tệ, làm cho tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ so với nội tệ tăng (hay tỷ giá
đồng nội tệ so với ngoại tệ giảm)
3.4 Giá cả các loại chứng khoán giảm
Đầu tiên, việc lạm phát tăng cao là lý do khiến giá các loại chứng khoán suy
giảm.Việc lạm phát tăng cao, không được khống chế sẽ làm cho nhà đầu tư mất niềm
tin và họ sẽ không dám đầu tư trên TTCK do sợ rủi ro.
Một khi nền kinh tế rơi vào lạm phát, chính phủ sẽ phải áp dụng nhiều biện
pháp, trong đó có cả biện pháp hành chính để điều hành nền kinh tế nhằm kiềm chế
lạm phát thì tất yếu sẽ ảnh hưởng đến thị trường tài chính nói chung và thị trường
chứng khoán nói riêng.
Ví dụ rõ nét nhất là thị trường chứng khoán ở Việt Nam.Khi nền kinh tế VN
rơi vào lạm phát thì buộc NHNN phải có những biện pháp để hút bớt lượng tiền thừa
trong lưu thông.Việc NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ giữa tháng 1/2008 và phát
hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc, nhà đầu tư càng hiểu rõ vốn cho TTCK ngày
càng thu hẹp đi.
Chính vì vậy lạm phát tăng cao đồng nghĩa với việc sụt giảm giá cả của các
loại chứng khoán
3.5 Mọi thứ đều khan hiếm trừ tiền
Việc lạm phát tăng cao dẫn đến giá cả của hàng hóa dịch vụ không ngừng leo
thang. Lạm phát cao khuyến khích các hoạt động đầu tư mang tính đầu cơ trục lợi
hơn là đầu tư vào các hoạt động sản xuất (ví dụ: khi có lạm phát, nếu ngân hàng
không tăng lãi suất tiền gửi thì dân chúng sẽ không gửi tiền ở ngân hàng mà tìm cách
đầu cơ vào đất đai khiến giá cả đất đai tăng cao...).Điều này tạo nên sự khan hiếm đối
với tất cả những loại hàng hóa dịch vụ.

Điều đáng chú ý ở đây là không nhất thiết cả 4 yếu tố đều ngả về cùng một phía,
rất có thể một số yếu tố ngả về phía này, còn các yếu tố khác lại ngả về hướng khác.
Ngoài ra sự thiểu phát cũng gây ra những tác hại không kém gì lạm phát.
- Vào những năm 1980, vàng từ mốc 450$ đã vọt lên mức 850$ chỉ trong vòng
năm tuần lễ.
- Giá dầu được kéo lên bởi tình hình bất ổn của Trung Đông và đồng USD rơi
nhanh do lo ngại về suy thoái kinh tế.
- Tại Mỹ, năm 1971 dến 1981 tỷ lệ lạm phát (tăng giá) cao hơn tỷ lệ tăng trưởng
tiền tệ, nói cách khác tốc độ mất giá tiền giấy lớn hơn, nhanh hơn tốc độ tăng
tiền .
- Chúng ta có thể nhìn nhận 1 cách chung nhất về thế giới qua biểu đồ sau :
Tỷ lệ lạm phát của 5 thành viên chính của G8
1.2 Tình hình của Việt Nam :
- Cơn sốt lạm phát không biết đã ra đời trong nền kinh tế từ bao giờ, nhưng chỉ
biết ngay những năm 1976 nó đã từng tồn tại. Cho dù người ta dấu diếm, che
mắt và kiềm chế nó, nhưng nó cứ lớn dần lên ngoài ý muốn của con người. Năm
1985, cuộc cải cách giá- lương -tiền theo giải pháp xốc đã thất bại làm cho cơn
sốt lạm phát vụt lớn nhanh, hoành hành trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế -
xã hội. Giá cả leo thang từng ngày đã vô hiệu hóa tác dụng đổi tiền chỉ mới tiến
hành vài tháng trước đó, làm rối loạn điều hành kinh tế vĩ mô. Giá cả không chỉ
tăng ở kinh tế thị trường tự do mà còn tăng rất nhanh trong thị trường tổ chức.
Về cơ bản giá cả đã tuột khỏi vòng tay bao cấp của Nhà Nước.
- Chỉ số sinh hoạt ở năm 1985 tăng gấp 30 lần so với năm 1976 . Và đồng bạc
“Ông Hồ” đã bị phá giá đến 92% so với đồng dollar USA! Lương thực, thực
phẩm và hàng hóa tiêu dùng vô cùng khan hiếm. Chỉ trong vòng vài tháng cuối
năm 1985, giá nông phẩm vọt lên đến 10-12 lần, giá hàng công nghệ phẩm tăng
vọt đến 28-30 lần. Giá cả tăng vọt theo cấp số nhân trong tình trạng lạm phát phi
mã, đã đẩy nền chính trị CHXHCN Việt Nam lâm vào hoàn cảnh “tưởng chừng
như sụp đổ đến nơi”.
- Nạn lạm phát tăng nhanh, đầu những năm 80 tăng khoảng 30-50 % hàng năm,

Nam đã thực hiện tập trung vào những việc làm cụ thể như:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status