MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.1. Cơ sở lý luận:
Ngôn ngữ là sự sáng tạo kỳ diệu của con người. Sự tuyệt vời của
ngôn ngữ là do ngôn ngữ ngay từ khi hình thành đã trở thành phương
tiện giao tiếp cơ bản nhất, hữu hiệu nhất của cả loài người. Chúng ta, ai
cũng có thể sử dụng phương tiện "không mất tiền mua" này để trao đổi
thông tin cho nhau một cách nhanh nhất, nhiều nhất, đầy đủ nhất, từ đó
có thể dễ dàng hiểu nhau, thông cảm, chia sẻ, liên kết hay hợp tác với
nhau… Nhờ ngôn ngữ mà con người từ khắp năm châu bốn bể, con
người ở các thời đại khác nhau, các thế hệ khác nhau có thể tìm hiểu
nhau hoặc giao lưu với nhau… Hơn thế ngôn ngữ là công cụ để chúng
ta tư duy, là chìa khoá vạn năng thông minh nhất để chúng ta mở kho
tàng tri thức khổng lồ của nhân loại để tha hồ mà chiếm lĩnh nó, phát
triển nó, đưa nó đến với mọi người… Cứ như thế cá nhân ngày càng
hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn, hiện đại hơn.
Khi nói về ngôn ngữ, nhà giáo dục nổi tiếng người Nga E.I. Tikheeva
đã khẳng định "Tiếng mẹ đẻ là cơ sở phát triển trí tuệ và là nguồn gốc để
chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của dân téc và nhân loại" [9].
Bởi vậy giáo dục ngôn ngữ cho trẻ là vô cùng cần thiết và phải bắt
đầu ngay từ rất sớm từ tuổi mầm non (0 - 6 tuổi) đặc biệt là từ 2 - 5
tuổi, lứa tuổi này ngôn ngữ trẻ có điều kiện phát triển cực kỳ nhanh về
tất cả các mặt: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp mà không giai đoạn nào có
thể sánh bằng. Nếu nhà giáo dục bỏ qua giai đoạn phát cảm trong ngôn
ngữ này sẽ là thiệt thòi lớn cho sự phát triển của đứa trẻ, trẻ sẽ khó theo
kịp sự phát triển của các bạn cùng lứa tuổi. E.I.Tikheeva cho rằng phát
1
triển ngôn ngữ cho trẻ là khâu chủ yếu của hoạt động trong trường mẫu
giáo, là tiền đề cho mọi sự thành công khác.
Mặt khác khi hết tuổi Mẫu giáo trẻ sẽ chuyển sang trường Tiểu học,
đây là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của trẻ 6 tuổi vì trẻ phải
những yếu tố tâm lý cần thiết cho trẻ em vào líp 1 thu được kết quả là
30% số trẻ ngôn ngữ nói chưa rành rọt (nghiên cứu trên 240 trẻ lúc mới
vào líp 1).
Vì tất cả những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu vốn
ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) "làm đề tài luận văn
của mình với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nâng cao vốn ngôn
ngữ của trẻ nói riêng và chất lượng giáo dục trẻ mẫu giáo nói chung.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu thực trạng vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ Mẫu giáo lớn
(5 - 6 tuổi). Trên cơ sở đó tìm ra biện pháp tác động để chuẩn bị tốt về
ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi học, giúp trẻ thích ứng với môi trường học
tập ở líp 1 tốt nhất.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ Mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi).
3.2. Khách thể nghiên cứu:
- Khách thể trực tiếp: 60 trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi): 27
nữ, 33 nam ở trường mầm non Hoa hồng thành phố Thái bình.
- Khách thể gián tiếp: Giáo viên dạy líp mẫu giáo lớn.
4. GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
4.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu vốn ngôn ngữ của trẻ có rất nhiều vấn đề phong phú,
phức tạp. Trong phạm vi luận văn thạc sĩ chúng tôi chỉ giới hạn nghiên
3
cứu vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ gồm: vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp, ngôn
ngữ mạch lạc.
4.2. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:
Trường Mầm non Hoa Hồng thành phố Thái Bình.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn còn hạn chế chưa đủ
lên vượt xa về chất so với mọi giống loài.
Ngôn ngữ là chức năng tâm lý cấp cao của con người, là công cụ để
tư duy, để giao tiếp, là chìa khoá để con người nhận thức và chiếm lĩnh
kho tàng tri thức của dân téc và nhân loại.
Với mỗi cá nhân, sự phát triển ngôn ngữ diễn ra cực kỳ nhanh ở giai
đoạn từ 0 - 6 tuổi (lứa tuổi mầm non). Từ chỗ sinh ra chưa có ngôn ngữ,
đến cuối 6 tuổi - chỉ một khoảng thời gian rất ngắn so với cả một đời
người - trẻ đã có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng
ngày. Đây chính là giai đoạn phát cảm về ngôn ngữ. Ở giai đoạn này nếu
không có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngôn ngữ thì sau
này khó có thể phát triển tốt được. Chính vì vậy ngôn ngữ nói chung và
ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học là vấn đề được nhiều nhà khoa học trên
thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu.
Vấn đề ngôn ngữ đã được đề cập đến ngay từ thời cổ đại. Nhưng
thời cổ đại người ta nghiên cứu ngôn ngữ không tách khỏi triết học và
lôgíc học. Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ như là một hình thức
biểu hiện bề ngoài của các bên trong là "logos", tinh thần, trí tuệ của con
người. Trong cuốn "Bàn về phương pháp", Descartes đã chỉ ra những
đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con
5
người, khác với động vật. Ông đã nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, cái
tín hiệu duy nhất Êy chắc chắn là của một tư duy tiềm tàng trong cơ thể
và kết luận rằng "Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa
con người và con vật" [25]. Chỉ đến giữa thế kỷ 19 khuynh hướng tâm lý
học mới nảy sinh trong ngôn ngữ học. Người đầu tiên sáng lập ra trường
phái ngôn ngữ học tâm lý là Shteintal (1823 - 1899). Ông đã đưa ra học
thuyết ngôn ngữ là sự hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân
téc. Theo ông, ngôn ngữ học phải dùa vào tâm lý cá nhân trong khi
nghiên cứu ngôn ngữ cá nhân, phải dùa vào tâm lý dân téc trong khi
nghiên cứu ngôn ngữ của dân téc.
1.1.1. Nghiên cứu sự phát triển các thành phần ngôn ngữ của trẻ:
Vốn từ, khả năng hiểu từ, ngữ pháp… của trẻ em ở các độ tuổi khác
nhau có các công trình nghiên cứu của Dương Diệu Hoa (1985), Nguyễn
Minh Huệ (1989), Hồ Minh Tâm (1989) v.v… Chẳng hạn Lưu Thị Lan
(1996) trong công trình nghiên cứu "Những bước phát triển ngôn ngữ
trẻ em từ 1 - 6 tuổi" [19] đã chỉ rõ các bước phát triển về ngữ âm của trẻ
em Việt nam bắt đầu từ giai đoạn tiền ngôn ngữ (0 - 1 tuổi) giai đoạn
ngôn ngữ (1 - 6 tuổi), về mặt ngữ âm có những bước tiến dài đặc biệt là
giai đoạn 4 - 6 tuổi. Các bước phát triển về từ vựng được tác giả thống
kê từng lứa tuổi với số lượng từ tối thiểu và số lượng từ tối đa. Từ 18
tháng tuổi trở đi trẻ có sự nhảy vọt về số lượng từ và yếu tố văn hoá, xã
hội ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển vốn từ của trẻ. Các bước phát
triển về ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam được tác giả
nghiên cứu rất cụ thể từng lứa tuổi với loại câu đơn, câu phức, các loại
câu phức như câu phức chính phụ, câu phức đẳng lập. Câu phức chính
phụ xuất hiện muộn và có số lượng Ýt hơn.
7
Đặc biệt ngôn ngữ mạch lạc của trẻ 5 - 6 tuổi, điều kiện cần thiết
cho trẻ học tập ở phổ thông được rất nhiều tác giả dày công nghiên cứu
như: A.M.Leusina; X.L.Rubinxtêin; D.N.Ixtomina; Nguyễn Xuân Khoa,
Nguyễn Thị Oanh…
A.M.Leusina đã tiến hành nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ mạch
lạc của trẻ mẫu giáo và đi đến kết luận: Không phải là từ mà là câu và
ngôn ngữ mạch lạc là đơn vị của ngôn ngữ như một phương tiện giao
tiếp. Trẻ càng lớn tính hoàn cảnh của ngôn ngữ càng giảm dần chuyển
sang hình thức nói mạch lạc gắn chặt với sự lĩnh hội của vốn từ, lĩnh hội
hệ thống ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ.
X.L.Rubinxtêin cho rằng: Điều cơ bản trong phát triển lời nói mạch
lạc cho trẻ là chỉnh sửa và hoàn thiện kỹ năng sử dụng lời nói như một
phương tiện giao tiếp… Phát triển vốn từ cũng như việc nắm vững các
buổi là trẻ có thể nhận thức được cách phát âm đúng, cần căn cứ vào
thời gian bị ngọng để định hình lại cách phát âm chuẩn đòi hỏi ngắn hay
dài và sự có mặt của cha mẹ trẻ trong các buổi tập là cần thiết để từ đó
họ có thể hướng dẫn cho trẻ luyện tập pháp âm khi trẻ ở nhà.
1.1.3. Nghiên cứu đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ 0
- 6 tuổi theo từng giai đoạn lứa tuổi:
Theo hướng này có thể kể đến các tác giả G.I. Liamina (1960); V.I.
Iadenco (1966); M. N. Popova (1968); Lưu Thị Lan (1986); Bùi Anh
Tuấn (1989)… Các tác giả đã nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
theo từng giai đoạn: 12 – 24 tháng, 24 – 36 tháng, 3 tuổi, 4 – 5 tuổi, 5
tuổi, 1 – 3 tuổi, 3 – 5 tuổi.
9
1.1.4. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn
ngữ trẻ em như môi trường sống, sức khoẻ, giáo dục gia đình… Có
thể kể đến công trình nghiên cứu của Lưu Thị Lan (1989).
1.1.5. Nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ trẻ em với các
lĩnh vực khoa học, văn học, giao tiếp, tư duy… Với các công trình
nghiên cứu của các tác giả: Đào Thị Minh Huyền (1984); Hồ Lam Hồng
(1993); Nguyễn Thạc (1995); Nguyễn Xuân Thức (1997)…
Riêng vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi 5 - 6 tuổi
cũng có một số công trình như:
+ Công trình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thức về khả năng
hiểu từ của trẻ 5 - 6 tuổi.
+ Luận án Tiến sĩ giáo dục học của Nguyễn Thị Oanh "Các biện
pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi".
+ Luận án Tiến sĩ của Hồ Lam Hồng về "Một số đặc điểm tâm lý
trong hoạt động ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua hình thức kể
chuyện".
+ Luận văn Thạc sĩ "Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn kể
chuyện về sinh hoạt nhằm phát triển lời nói mạch lạc" của Hoàng Thị
vậy việc nghiên cứu vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ cả về vốn từ, ngữ âm,
ngữ điệu, ngữ pháp, ngôn ngữ mạch lạc là rất cần thiết. Thông qua đó,
chúng ta có thể giúp trẻ có sự phát triển ngôn ngữ một cách đầy đủ về
các mặt, đó cũng là phương tiện cơ bản nhất, quan trọng nhất để trẻ tiếp
thu tri thức không chỉ môn Tiếng Việt mà còn tất cả các môn học khác
của chương trình líp 1. Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu vốn
ngôn ngữ cơ bản của trẻ 5 - 6 tuổi với hy vọng góp một phần nhỏ vào
việc chuẩn bị tốt cho trẻ vào học ở líp 1.
11
1.2. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NGÔN NGỮ:
1.2.1. Khái niệm về ngữ ngôn và ngôn ngữ:
Ngữ ngôn bao gồm một hệ thống các kí hiệu từ ngữ và hệ thống quy
tắc ngữ pháp có chức năng là một phương tiện của giao tiếp, một công cụ
của tư duy.
Ngữ ngôn là một hiện tượng tồn tại khách quan trong đời sống tinh
thần của xã hội, là một hiện tượng của nền văn hoá tinh thần của loài
người. Ngữ ngôn là đối tượng của khoa học về tiếng. Ngữ ngôn gồm 2
bộ phận là từ vựng, các ý nghĩa của từ và ngữ pháp - là một hệ thống các
quy tắc quy định sự ghép các từ thành câu.
Bất cứ một thứ ngữ ngôn nào cũng chứa đựng hai phạm trù: phạm
trù ngữ pháp - là một hệ thống các quy tắc quy định việc thành lập từ và
câu, phạm trù này đặc trưng cho từng thứ tiếng (Ngữ pháp tiếng Việt
khác ngữ pháp tiếng Anh…) và phạm trù lôgíc - là quy luật, phương pháp
tư duy đúng đắn của con người, nó chung cho cả loài người. Vì vậy, tuy
dùng các thứ tiếng (ngữ ngôn) khác nhau, các dân téc khác nhau vẫn
hiểu được nhau.
Ngôn ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử dụng một thứ ngữ ngôn để
giao tiếp, để truyền đạt, để lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội lịch sử
hoặc để kế hoạch hoá hoạt động của mình.
Ngôn ngữ là một quá trình tâm lý. Nó là đối tượng của tâm lý học.
nói, hành vi, cử chỉ, sắc thái biểu cảm, kết hợp với âm thanh của âm
nhạc, màu sắc của hội hoạ… Trong mọi phương tiện đa dạng Êy, không
ai có thể phủ nhận rằng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản nhất
của con người. So với lời nói thì các phương tiện khác hạn chế hơn rất
nhiều. Vì có những cử chỉ, sắc thái biểu cảm… chỉ một số người hay
13
người trong cuộc mới hiểu được còn ngôn ngữ có thể truyền đạt những
thông tin, tư tưởng, tình cảm chính xác, rõ ràng và hoàn toàn xác định.
Chính nhờ có ngôn ngữ trong lao động, trong sinh hoạt con người có thể
dùng chúng làm phương tiện chính, thường xuyên để diễn đạt và làm cho
người khác hiểu được những tư tưởng, tình cảm, trạng thái nguyện vọng
của mình. Với sự hiểu biết lẫn nhau, con người có thể đồng tâm hiệp lực
để cùng nhau chinh phục thiên nhiên, chinh phục xã hội và làm cho đời
sống con người ngày càng phát triển văn minh hơn, tốt đẹp hơn.
Thứ ba, ngôn ngữ là công cụ của hoạt động trí tuệ, có chức năng
thiết lập và giải quyết các nhiệm vụ của hoạt động trí tuệ của con người
(Bao gồm cả việc kế hoạch hoá hoạt động, thực hiện hoạt động và đối
chiếu kết quả hoạt động với mục đích đã đặt ra).
Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể lập kế hoạch, định ra mục
đích cần đạt tới trước khi tiến hành bất cứ một công việc gì và kể cả
trong khi tiến hành công việc, ngôn ngữ giúp con người tổ chức, hướng
dẫn, điều chỉnh và điều khiển hoạt động của mình. Điều đó đã đem lại
cho con người những thành tựu vĩ đại, làm cho con người ngày càng
khác xa về chất so với động vật.
Ba chức năng cơ bản nói trên của ngôn ngữ có mối quan hệ khăng
khít với nhau và dưới một góc độ nào đó chúng ta có thể quy chúng về
một chức năng là giao lưu. Nếu xét vai trò của ngôn ngữ là một công cụ
của hoạt động trí tuệ thì chính công cụ này cũng biểu hiện như là mặt
hoạt động giao lưu chỉ khác ở chỗ đó là hoạt động tự giao lưu với bản
thân mà thôi. Mặt khác, công cụ đó cũng được bộc lé như là một hoạt
hơn. Lời nói là một hoạt động tâm lý đi kèm với hoạt động nhận thức,
cảm xúc, ý chí, trí nhớ đặc biệt là tư duy. Lời nói của mỗi cá nhân mang
đặc trưng riêng về cách phát âm, cách lùa chọn và sử dụng từ, cấu trúc
15
câu và luôn tương ứng với năng lực nhận thức của từng cá nhân. Lời nói
được phát triển tốt sẽ là một trong những phương tiện quan trọng nhất
của hoạt động tích cực đối với con người trong xã hội.
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói là mối quan hệ giữa cái
chung và cái riêng. Nếu ngôn ngữ được coi là sản phẩm, là ký hiệu
chung cho cả một cộng đồng thì lời nói là sản phẩm riêng biệt của mỗi cá
nhân. Ngôn ngữ mang tính khái quát và có tính ổn định trong một thời
gian tương đối lâu, còn lời nói lại mang tính cụ thể, nhất thời và luôn
luôn thay đổi.
Tuy có sự đối lập, nhưng giữa ngôn ngữ và lời nói lại có mối quan
hệ mật thiết với nhau. Ngôn ngữ được con người thể hiện trong lời nói
và lời nói là phương tiện tồn tại của ngôn ngữ. Ngôn ngữ cần thiết để
cho lời nói có thể hiểu được và chính nhờ có lời nói mà ngôn ngữ được
xác lập, tồn tại và phát triển. Lời nói cũng chính là ngôn ngữ, nó cũng
mang trong mình mặt xã hội của ngôn ngữ lẫn những sắc thái cá nhân
của người nói.
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ:
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ phải có sự kết hợp của nhiều yếu tố.
Yếu tố đầu tiên cần phải có là sự phát triển của hệ thần kinh, sinh lý, sự
hoàn thiện của bộ máy phát âm, sự phát triển của các giác quan đặc biệt
là thính giác, thị giác. Các yếu tố vật chất này là tiền đề trực tiếp cho sự
hình thành và phát triển khả năng ngôn ngữ của trẻ. Một thực tế ai cũng
nhận thấy đó là trẻ mới sinh ra mặc dù được tiếp xúc ngay với môi
trường ngôn ngữ, được bố mẹ và những người thân luôn luôn nói với trẻ
những lời nói yêu thương trìu mến, người lớn luôn dạy trẻ nói, mong chờ
trẻ biết nói nhưng trẻ vẫn không thể nói được ở giai đoạn dưới 8 tháng
ảnh đẹp vào trong lời nói. Và ngược lại nếu trẻ sống trong môi trường
17
không thuận lợi cho sự phát triển ngôn ngữ thì ngôn ngữ của trẻ chậm
phát triển, sẽ có nhiều tật về ngôn ngữ như: nói ngọng, nói trống không,
nói không toát ý, rõ nghĩa…
Sự hình thành và phát triển khả năng ngôn ngữ của trẻ còn phụ
thuộc vào sự phát triển về khả năng nhận thức của trẻ. Chúng ta đã biết
ngôn ngữ là phương tiện để nhận thức và hiểu biết lẫn nhau. Nhận thức
của trẻ phát triển từ mức độ nhận thức cảm tính đến mức độ nhận thức lý
tính. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào quá trình
phát triển này. Thông qua các quá trình cảm giác, tri giác trẻ nắm được
những thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng, cùng với việc nghe và
hiểu lời nói do người lớn nói và giải thích dần dần ở trẻ hình thành
những từ đầu tiên. Số lượng từ của trẻ tăng dần theo sự nhận thức của trẻ
về thế giới xung quanh. Đồng thời vốn từ đó lại làm phương tiện để trẻ
tiếp tục nhận thức thế giới xung quanh làm cho khả năng nhận thức của
trẻ ngày càng cao hơn. Trẻ có thể nói tên, màu sắc, hình thành các biểu
tượng mới về đặc điểm tính chất của vật, làm quen với các khái niệm
không gian, thời gian, lắng nghe và phân biệt các âm thanh của ngôn
ngữ. Như vậy, ngôn ngữ của trẻ chỉ được phát triển khi trẻ được hoạt
động với các đối tượng trong thế giới khách quan. Nếu ta tách trẻ khỏi
thế giới của các sự vật, hiện tượng trẻ sẽ không có những Ên tượng, biểu
tượng về các sự vật hiện tượng khách quan, trẻ sẽ không tiếp thu được
những từ ngữ gắn với các hiện tượng Êy như tên gọi, màu sắc, hình
dạng, mùi vị, tính chất… Càng được tiếp xúc nhiều với các đồ vật, các
hiện tượng trong xã hội, thiên nhiên, thì nhận thức của trẻ về thế giới
xung quanh sẽ phong phú hơn rất nhiều. Các biểu tượng đa dạng về thế
giới đồ vật sẽ làm cho ngôn ngữ của trẻ không chỉ tăng lên về số lượng
mà nghĩa của từ cũng được trẻ hiểu một cách đầy đủ hơn và chính thế
giới xung quanh muôn màu, muôn vẻ còn kích thích trẻ hay nói, hay hỏi
lên 3, trẻ em đã nghe và hiểu lời nói của người lớn vượt ra khỏi tình
huống cụ thể. Lúc này trẻ đã biết sử dụng ngôn ngữ như là một phương
tiện cơ bản để nhận thức thế giới xung quanh. Đồng thời trẻ cũng đã
phần nào nắm được ngữ pháp đơn giản của tiếng mẹ đẻ. Cùng với việc
sự nắm vốn từ, biết phát âm ngày càng giống hơn với cách phát âm của
người lớn, trẻ đã biết sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện để giao tiếp với
mọi người xung quanh, để nhận thức hiện thực khách quan xung quanh
trẻ. Tuy nhiên ở giai đoạn này việc phát âm hiểu nghĩa của trẻ và lĩnh
hội cấu trúc ngữ pháp cũng như việc sử dụng ngôn ngữ phù hợp hoàn
cảnh giao tiếp cụ thể của trẻ vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh. Sang tuổi mẫu
giáo (3 - 6 tuổi), ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo tiếp tục được phát triển, diễn
ra trong mối quan hệ với sự phức tạp hoá hoạt động của trẻ và sự biến
đổi các quan hệ với những người xung quanh, đặc biệt là trong giao tiếp.
Trẻ mẫu giáo có nhiều khả năng thu thập tri thức phong phú và đa dạng,
có tính tự chủ cao hơn tuổi Êu nhi. Người lớn đề ra cho trẻ những yêu
cầu mới, dạy trẻ làm những nhiệm vụ nhất định, tổ chức cho trẻ nhiều
hoạt động hơn, nội dung phong phú hơn. (Trò chơi đóng vai theo chủ đề,
trò chơi xây dựng, vẽ, nặn, hát, múa, đọc thơ, kể chuyện với nhiều hình
thức…). Ở tuổi Êu nhi, hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động với đồ
vật. Trong hoạt động này trẻ có thể một mình tác động vào đồ vật. Còn
tuổi mẫu giáo, hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi mà trung tâm là
trò chơi đóng vai theo chủ đề. Với trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ
không thể chơi nếu không có một trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất
định. Nếu đứa trẻ không diễn đạt mạch lạc nguyện vọng và ý kiến của
mình đối với trò chơi, nếu nó không hiểu được những lời chỉ dẫn hay bàn
bạc của các bạn cùng chơi, trẻ sẽ không thể phối hợp được cùng với các
bạn trong quá trình chơi, các bạn sẽ không cho chơi. Để đáp ứng được
20
với những yêu cầu của việc cùng chơi đòi hỏi ở trẻ phải phát triển ngôn
ngữ mạch lạc, do đó trò chơi ở tuổi mẫu giáo chính là điều kiện kích
tuổi khoảng từ 800 - 1926 từ [11]. Trong đó phần lớn là danh từ, động
từ, còn các từ loại khác là tính từ, trạng từ, đại từ chiếm tỷ lệ thấp.
Cụ thể: 3 tuổi ( 800 từ trở lên) trong đó:
50% danh từ
26% động từ
10% tính từ
6% trạng từ
4% đại từ
1,8% số từ (số đếm, một, hai…)
4 tuổi (1926 từ) trong đó:
50,2% là danh từ
27,4% là động từ
11,8% là tính từ
5,8% là trạng từ
1,9% là số từ
1,2% là liên từ
Các từ trẻ sử dụng thường là tên gọi của đồ chơi, đồ dùng, con vật,
cây cối, hoa lá xung quanh mà hàng ngày trẻ thường xuyên được tiếp
xúc. Trẻ đã sử dụng những từ chỉ hành động, công việc của chính bản
thân trẻ và mọi người xung quanh như ăn, ngủ, tắm rửa, dọn, giặt, đi
chợ, đi làm… hoặc các từ chỉ hành động của các con vật mà trẻ biết như
cào, cắn, nhảy, bơi, mổ, kêu…
- Theo một số kết quả nghiên cứu khác đó là nghiên cứu về ngôn
ngữ trẻ em lứa tuổi mẫu giáo ở nội thành Hà Nội của Trung tâm nghiên
22
cứu giáo dục mầm non cho biết số lượng từ của trẻ tăng dẫn theo tháng
tuổi.
Cụ thể
: 39 tháng tuổi: 515 từ
Trẻ 3 - 4 tuổi đã nắm được ngữ pháp cơ bản để diễn đạt khá chính
xác những nhu cầu cơ bản. Ngôn ngữ của trẻ được xây dựng từ câu ngắn
(câu đơn) đến câu có nhiều âm tiết (câu phức).
Theo nghiên cứu của E.A.Arkin, trong 1000 tình huống giao tiếp
của trẻ, tác giả đã thống kê được: 40% câu đơn âm tiết; 38% câu hai âm
tiết; 17% câu 3 âm tiết; 4% câu 4 âm tiết; chỉ có 2% câu 5 âm tiết.
Tuy nhiên trong ngôn ngữ của trẻ 3 - 4 tuổi còn chưa hoàn chỉnh về
ngữ pháp, trẻ vẫn còn nói câu cụt, câu thiếu thành phần trong nhiều tình
huống giao tiếp. Các từ dùng trong câu còn chưa chính xác. Lời nói còn
chưa mạch lạc. Một số kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em lứa tuổi
mẫu giáo ở nội thành Hà Nội cho thấy trong các câu nói của trẻ 3 - 4 tuổi
dùng để giao tiếp có 455 câu thì 182 câu chưa đúng, 291 câu đơn, 164
câu phức.
1.3.2. Đặc điểm pháp triển ngôn ngữ của trẻ 4 - 5 tuổi:
+ Vốn từ: Vốn từ của trẻ tăng 1300 - 2000 từ trong đó danh từ, động
từ vẫn chiếm ưu thế, còn tính từ và các loại từ khác tuy đã xuất hiện trong
ngôn ngữ của trẻ nhưng còn Ýt và đôi khi trẻ sử dụng chưa chính xác.
+ Phát âm và ngữ điệu khi sử dụng ngôn ngữ:
Trẻ 4 - 5 tuổi phát âm có tiến bộ hơn trẻ mẫu giáo bé (3 - 4 tuổi).
Trẻ nói rõ hơn, dứt khoát hơn, Ýt ngọng hơn, song vẫn hay sai thanh
ngã, âm đệm và âm cuối.
Ở trẻ đã hình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ
điệu âm tiết …Tuy nhiên dưới tác động của cảm xúc trẻ có thể nghe
24
nhầm, phát âm nhầm như các âm vị "t" = "ch" ("tôm to" trẻ nói là "chôm
cho"), dễ bị nhoè các phụ âm như "l" phát âm thành "nh".
+ Việc nắm ngữ pháp của trẻ 4 - 5 tuổi có tiến bộ hơn trẻ 3 - 4 tuổi.
Câu nói của trẻ dài hơn, Ýt câu cụt hơn. Khi nói câu chưa đúng, chưa
chuẩn về ngữ pháp, trẻ biết sửa nhưng không biết vì sao phải sửa. Trẻ đã
sử dụng các câu phức hợp nhiều hơn mẫu giáo bé, trẻ biết sử dụng các