skkn Một vài biện pháp nâng cao chất lượng môn chính tả cho hs lớp 4 - Pdf 26

MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU:
I. Tên đề tài.
II. Lí do chọn đề tài.
III. Mục tiêu nghiên cứu.
B. NỘI DUNG:
I. Giải quyết vấn đề.
1. Một số tồn tại trong thực tế.
2. Nguyên nhân chủ yếu.
a. Lỗi về dấu thanh.
b. Lỗi khi viết âm đầu.
c. Lỗi khi viết âm cuối.
3. Một số biện pháp khắc phục lỗi.
a. Biện pháp 1: Tích cực luyện phát âm đúng.
b. Biện pháp 2: Phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh.
c. Biện pháp 3: Phân biệt bằng nghĩa của từ.
d. Biện pháp 4: Ghi nhớ một số mẹo luật chính tả.
e. Biện pháp 5: Vận dụng củng cố bằng các bài tập chính tả.
4. Kiểm nghiệm - Tự nhận xét kết quả.
II. Một số vấn đề lưu ý khi vận dụng sáng kiến kinh nghiệm.
III. Kết luận.
2
2
2; 3
2; 3
4
4
4
4
5

không hề đơn giản. Một số ví dụ tiêu biểu như: Phát âm của một số vùng Bắc Bộ (Hải
Dương) thì “nói và làm” thành ra “lói và nàm”, khu vực Trung Bộ (khu vực Bình Trị
Thiên, Nghệ Tỉnh) hầu như không phân biệt lỗi các dấu thanh “sắc- nặng-hỏi - ngã”
như “nói” lại thành “nọi”; phát âm khu vực các Tỉnh “xứ Quãng” thì càng gay gắt hơn
với những nguyên âm chính như “ ăn” thành “eng”, “nói” thì nghe thành “núa”, các
tỉnh Miền Nam thì “về” thành ra “dề” hay “lan” và “lang” nghe như nhau, đặc biệt
vùng Đồng bằng Nam bộ còn có phát âm như ngọng “Con cá rô bỏ vô rổ giãy rột rột”
thành “ Con cá gô bỏ vô gổ dảy gột gột” Gần gũi và đặc trưng hơn như trong phạm vi
Xã Hòa Long - Long Phước- nơi Trường đóng- việc phát âm cũng có vài phương ngữ
như: “Ông Nội” thành “Ông Nậu”, “Con người, số mười” lại nghe thành “con ngừ, số

2
mừ”, “bên ngoài” thành “bên quài”, “đàng hoàng” thành “đàng quàng” Nhưng “vùng
nào hiểu theo vùng nấy” nên thật ra trong từng địa phương có kiểu phát âm như vậy đã
thành “quen tai” nên không có gì đáng nói. Có điều là hiện nay, sự sống chung pha
trộn trong các vùng cả nước hiện nay là phổ biến nên khó khăn trong việc “nghe và
viết” sao cho đúng là một vấn đề lớn đối với Chính tả Việt Nam là rất rõ nét.
Chính vì vậy, học sinh hiện nay mắc lỗi chính tả rất nhiều. Điều này ảnh hưởng tới kết quả
học tập của các em ở môn Tiếng Việt nói chung cũng như các môn học khác. Vì vậy, trong quá
trình giảng dạy thực tế tôi đã tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra Một vài biện pháp nâng cao chất
lượng môn chính tả cho học sinh và một số biện pháp khắc phục để giúp học sinh học tốt
môn chính tả, một trong những biện pháp tích cực giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt và các
môn học khác trong chương trình. Bởi trên thực tế, nếu người nói “không chuẩn phát âm” không
thể làm người nghe hiểu mình muốn gì thì “viết không đúng” cũng không thể diễn đạt được ý
tưởng của mình cho người khác hiểu. Đặc biệt là trong chương trình phổ thông, môn Tiếng Việt lại
là môn “chủ lực và trung tâm” để có thể khai thác các môn học khác một cách tốt nhất.
III. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu nội dung, chương trình và những phương pháp để khắc phục viết sai lỗi
chính tả.
- Tìm hiểu những kỹ năng cơ bản để trang bị và phục vụ việc rèn cho học sinh viết

+ư/ươi: con ngừ , hai mư

4
2. Nguyên nhân chủ yếu:
a/ Lỗi về dấu thanh:
Thực tế qua ngôn ngữ nói, Nghệ An trở vào không phát âm phân biệt được những thanh
hỏi, ngã. Nói cách khác trong phương ngữ khu vực miền Trung và miền Nam không có thanh ngã.
Trong khi số lượng từ mang 2 thanh này khá lớn. Do đó đây là lỗi rất phổ biến trong học sinh.
b/ Lỗi khi viết âm đầu:
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch/tr, d/gi, s/x . Mặt
khác, trong khi một số vùng miền Bắc thường lẫn lộn các âm đầu l/n thì người Miền Nam thường
lẫn lộn v/d, r/g. Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ:
âm “cờ” ghi bằng 3 chữ cái c / k /qu , âm “ngờ” ghi bằng ng/ngh, âm “gờ” ghi bằng g/gh…) dù có
những quy định riêng cho mỗi dạng khi ghép chữ, nhưng đối với học sinh tiểu học thì rất dễ lẫn
lộn.
c/. Lỗi khi viết âm cuối:
Đối với người Miền Nam, có thể nói việc phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có
âm cuối n/ng và t/c. Mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai bán âm cuối i,u/ lại
được ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lây), u/o (trong: sau/sao), ư/ươi (trong : tư/tươi) do đó lỗi
về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh các tỉnh phía Nam nói chung và tại địa phương
nói riêng
3.Một số biện pháp khắc phục lỗi:
a. Tích cực luyện phát âm đúng:
Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm rõ tiếng, đúng chuẩn,
đồng thời chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm cuối. Việc rèn
phát âm bắt đầu phải được thực hiện trong tiết Tập đọc và được thực hiện thường xuyên, liên tục,
lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn…
b Phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh:
Song song với việc phát âm, giáo viên có thể áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so
sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, phát hiện những điểm khác nhau để học sinh lưu ý và ghi nhớ.

• Sắc + hỏi: Mát mẻ, sắc sảo, vắng vẻ…

6
• Hỏi + hỏi: Thỏ thẻ, hổn hển, rủ rỉ…
• Huyền + ngã: Mỡ màng, lững lờ, vồn vã
• Nặng + ngã: Đẹp đẽ, mạnh mẽ, vật vã…
• Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo…
Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:
+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu
bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng,
choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo
bẻo, chìa vôi…
+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s: Sả,
si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu
riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương,
san hô…
+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:
Đa số từ chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc có vần ênh: Gập ghềnh, khấp khểnh,
chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, công
kênh…
Hầu hết các từ tận cùng là ng hoặc nh là từ tượng thanh: oang oang, đùng đoàng, loảng
xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, pằng pằng, eng éc, beng beng,
chập cheng, leng keng, lẻng kẻng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, rập rình, xập
xình, huỳnh huỵch…
Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ tượng hình: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu
chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân
e. Vận dụng củng cố bằng các bài tập chính tả:
Giáo viên nên cho học sinh thực hiện các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh
tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Sau mỗi
bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ.

nhiệt tình và nỗ lực theo khả năng, tôi cũng đã tích lũy được một số bài học thực

8
tiễn. Rất mong được nhận ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp, để việc giảng
dạy bộ môn Chính tả trong nhà trường ngày càng nâng cao chất lượng, giúp học
sinh học tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Mỹ Hưng, ngày 25 tháng 4 năm 2011
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thu Chung
NHẬN XÉT – ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
Chủ tịch hội đồng
(Ký tên, đóng dấu)

9
NHẬN XÉT – ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRÊN
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………….
Chủ tịch hội đồng
(Ký tên, đóng dấu)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status