BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4 - Pdf 27

ĐỀ TÀI : BIỆN PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG MÔN CHÍNH TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 4
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm. Do đó việc
viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sử viết đúng. Tuy nhiên do yếu tố
vùng miền, cách phát âm mỗi nơi có khác nhau. Mặc dù những qui tắc, qui ước về
Chính tả đ được thống nhất theo ngữ pháp chung. Nhưng việc “viết đúng Chính tả”
trong học sinh hiện nay nói chung vẫn cịn nhiều khĩ khăn, tồn tại.
Vấn đề là: Cũng như tất cả các nước dùng hệ thống chữ cái Latin khác trên thế
giới, “ghi giọng nói” là thao tác hiển thị cơ bản của ngôn ngữ viết. Trong khi trong
thực tế ở nước ta, hiện tượng không đồng nhất trong phát âm là khá phổ biến. Do tình
hình kinh tế x hội chung, hầu như bất kỳ địa phương nào trong cả nước cũng có sự pha
trộn, giao thoa của nhiều vùng miền. Từ giáo viên đến học sinh, “Cô Bắc- trị Nam; Cơ
Trung-trị Bắc...”. “Nghe v hiểu” được tiếng nói của nhau quả là không đơn giản. Trong
khi “chuẩn chính tả” của Ngữ pháp Việt Nam căn cứ vào phát âm của khu vực Hà Nội
thì với các vùng miền khác việc “nhại giọng nói” theo phát âm tiêu chuẩn không hề
đơn giản. Một số ví dụ tiêu biểu như: Phát âm của một số vùng Bắc Bộ (Hải Dương)
thì “nĩi v lm” thnh ra “lĩi v nm”, khu vực Trung Bộ (khu vực Bình Trị Thin, Nghệ
Tỉnh) hầu như không phân biệt nỗi các dấu thanh “sắc- nặng-hỏi - ng” như “nói” lại
thành “nọi”; pht m khu vực cc Tỉnh “xứ Qung” thì càng gay gắt hơn với những nguyên
âm chính như “ ăn” thành “eng”, “nói” thì nghe thnh “na”, cc tỉnh Miền Nam thì “về”
thnh ra “dề” hay “lan” và “lang” nghe...như nhau, đặc biệt vùng Đồng bằng Nam bộ
cịn cĩ pht m như ngọng “Con cá rô bỏ vô rổ giy rột rột” thnh “ Con c gơ bỏ vơ gổ dảy
gột gột”...Gần gũi và đặc trưng hơn như trong phạm vi X Hịa Long - Long Phước- nơi
Trường đóng- việc phát âm cũng có vài phương ngữ như: “Ông Nội” thành “Ông
Nậu”, “Con người, số mười” lại nghe thành “con ngừ, số mừ”, “bên ngoài” thành “bên

1
quài”, “đàng hoàng” thành “đàng quàng”... Nhưng “vùng nào hiểu theo vùng nấy” nên
thật ra trong từng địa phương có kiểu phát âm như vậy đ thnh “quen tai” nn khơng cĩ

+ s/x: Cây xả , xa mạc…
c.Lỗi âm cuối, vần:
- Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ at/ac- ăt/ăc - ât/âc: mác mẻ, lường gạc, gặc lúa, nổi bậc, lấc phấc…
+ an/ang- ân/âng: cây bàn, bàng bạc, khoai lan, hụt hẫn, tần lầu...
+âu/ôi : ông Nậu (nội), cái gấu (gối)...
+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
+ư/ươi: con ngừ , hai mư...
2. Nguyên nhân chủ yếu:
a/ Lỗi về dấu thanh:
Thực tế qua ngôn ngữ nói, Nghệ An trở vào không phát âm phân biệt được
những thanh hỏi, ng. Nói cách khác trong phương ngữ khu vực miền Trung và miền
Nam không có thanh ng. Trong khi số lượng từ mang 2 thanh này khá lớn. Do đó
đây là lỗi rất phổ biến trong học sinh.
b/ Lỗi khi viết âm đầu:
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch/tr,
d/gi, s/x . Mặt khác, trong khi một số vùng miền Bắc thường lẫn lộn các âm đầu l/n
thì người Miền Nam thường lẫn lộn v/d, r/g. Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc
ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: âm “cờ” ghi bằng 3 chữ cái c / k /qu ,

3
âm “ngờ” ghi bằng ng/ngh, âm “gờ” ghi bằng g/gh…) dù có những quy định riêng
cho mỗi dạng khi ghép chữ, nhưng đối với học sinh tiểu học thì rất dễ lẫn lộn.
c/. Lỗi khi viết âm cuối:
Đối với người Miền Nam, có thể nói việc phát âm hoàn toàn không phân biệt
các vần có âm cuối n/ng và t/c. Mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai
bán âm cuối i,u/ lại được ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lây), u/o (trong: sau/sao),
ư/ươi (trong : tư/tươi) do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh các
tỉnh phía Nam nói chung và tại địa phương nói riêng
3.Một số biện pháp khắc phục lỗi:

cho học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách rất hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đ
được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp
với các nguyên âm i, e, ê, iê, ie.
Luật bổng - trầm: Qui luật về dấu hỏi, ng trong cc từ ly (mt mẻ, vui vẽ, sạch
sẽ...) Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu tố ở cùng một hệ
bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ng/nặng). Để nhớ được 2 nhóm này, giáo
viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc nguyên tắc : Ngang- sắc = hỏi/ Huyền- nặng =
ng
Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền,
nặng, ng thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ng, nếu yếu tố đứng trước mang thanh
ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại).
Ví dụ:
• Ngang + hỏi: Nhỏ nhoi, trẻ trung, vui vẻ…
• Sắc + hỏi: Mát mẻ, sắc sảo, vắng vẻ…

5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status