SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN
TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 1
Người thực hiện: Quách Thị Yến
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học thị trấn Kim Tân
Huyện: Thạch Thành
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
THANH HÓA, NĂM 2019
Mục
1.
1.1
1.2
1.3
1.4
2.
2.1
2.2
3
3.1
3.2
3.3
3.4
Phát huy tính tích cực, tự giác cho học sinh trong giờ học
Tổ chức trò chơi học tập trong các tiết học.
Tổ chức phong trào “Đôi bạn cùng tiến”.
Phát động phong trào “Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp”
Phối kết hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với cha mẹ học sinh
Tăng thời lượng dạy học môn Tiếng Việt nhằm củng cố kiến
thức cho học sinh một cách vững chắc vào các buổi chiều trong
tuần.
Kết luận, kiến nghị
Kết luận
Kiến nghị
Trang
2
2
2
3
3
3
3
3
6
6
7
7
10
11
11
12
12
dạy, làm thế nào để học sinh tiếp thu một cách có hiệu quả. Nhận thức được tầm
quan trọng của vấn đề này, bản thân tôi mạnh dạn đưa ra “giải pháp nâng cao
chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1C” trong năm học 2018 – 2019.
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Dạy học nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 giúp học sinh
luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác thực hành, rèn luyện kĩ
năng học tập có hiệu quả, đồng thời từng bước tập vận dụng kiến thức và kĩ năng
thực hành vào thực tiễn học tập và đời sống.
- Nâng cao chất lượng dạy học là nguồn thông tin ngược giúp giáo viên nhìn rõ
hiệu quả của việc dạy học, từ đó điều chỉnh quá trình dạy học cho phù hợp.
- Nâng cao chất lượng dạy học, giáo viên có điều kiện dạy học sinh đạt được các
kiến thức, kĩ năng cơ bản, tối thiểu của môn học, các hoạt động giáo dục. Từ đó,
phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và rèn luyện kĩ năng suy luận,
3
khêu gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi.
1. 3 Đối tượng nghiên cứu
Dạy học nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1C do tôi chủ
nhiệm.
1.4 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thực nghiệm.
- Phương pháp mô tả.
- Phương pháp đối chiếu.
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp tổng hợp.
- Sử dụng phương pháp thực hành ở lớp trực tiếp phụ trách giảng dạy.
- Nghiên cứu qua thực tế giờ dạy, qua dự giờ, trao đổi kinh nghiệm.
2. Nội dung
cái. Điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của nhà trường và khó
khăn cho việc dạy học của giáo viên. Hơn ai hết, giáo viên chủ nhiệm và đặc biệt
là giáo viên chủ nhiệm lớp Một thực hiện nhiệm vụ quản lí lớp học, là người chủ
chốt dìu dắt, giáo dục học sinh, xây dựng cho các em thói quen học tập, giáo dục
Kĩ năng sống cho các em thành con ngoan trò giỏi.
Được Ban giám hiệu phân công lớp Một, là lớp đầu cấp và cũng là năm học
thứ năm tôi giảng dạy lớp Một. Mặc dù có nhiều lo lắng, trăn trở nhưng tôi đã cố
gắng hết mình, qua thời gian giảng dạy tôi thấy được một số vấn đề sau:
- Khả năng tiếp thu và đạt các yêu cầu đặt ra chưa đồng đều, vẫn còn nhiều học
sinh đạt kết quả thấp.
- Sự phát triển nhận thức của học sinh cùng lứa tuổi không đồng đều, hoạt động
tư duy có nhiều nét riêng.
- Việc lĩnh hội kiến thức trước đó có nhiều lỗ hổng.
- Thái độ học tập chưa tốt, chưa được định hướng rõ.
- Do một số em khi đã học qua lớp mẫu giáo nhưng các em nhận thức còn non
nớt, tiếp thu bài còn gặp rất nhiều khó khăn. Có thể các em chưa quen với cách
học mới ở trường Tiểu học.
- Cách cầm bút và tư thế ngồi viết của một số học sinh chưa đúng do thói quen
cầm bút màu, vẽ màu ở bậc học mầm non.
Do đó, tác động của một số yếu tố trên mà một số học sinh hứng thú học tập
kém, thiếu tự tin, thiếu cố gắng vươn lên trong học tập, kết quả học tập kém,
không ổn định. Quan sát tôi thấy từ những nguyên nhân đó mà học sinh yếu có
những biểu hiện sau:
- Tư duy thiếu linh hoạt.
- Sự chú ý, óc quan sát, trí tưởng tượng đều phát triển chậm.
- Diễn đạt bằng ngôn ngữ khô khan, lúng túng, nhiều chỗ còn lộn xộn.
- Biểu hiện bề ngoài là thờ ơ với thái độ học tập, giáo viên giảng bài hỏi lại học
5
cái thì tương đối cao nhưng khi vào các bài học, các em thường không biết ghép
tiếng, từ (đánh vần). Một số em đọc được nhưng lại đọc sai do tiếng địa phương,
hoặc do còn nói ngọng. Tuy nhiên, có những em biết đọc nhưng khi viết thì tay
yếu, viết không đúng mẫu, không đúng ô li, dòng kẻ, cách cầm bút không đúng,
ngồi sai tư thế. Đứng trước thực tế đó, tôi băn khoăn và tự đặt ra câu hỏi là: Phải
làm gì và làm như thế nào để giúp học sinh học tập tốt hơn? Với trách nhiệm của
người giáo viên chủ nhiệm tôi không thể nào yên tâm được, tôi nghĩ rằng nếu để
tình trạng này kéo dài thì chất lượng của lớp tôi sẽ kém đi không đạt được yêu
cầu về chất lượng mà lớp cũng như nhà trường đề ra, nhất là sẽ ảnh hưởng tới
toàn bộ quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh.
Thông qua quá trình dạy học, qua việc tìm hiểu nguyên nhân và những biểu
hiện của học sinh yếu, tôi đã mạnh dạn cải tiến tìm ra những biện pháp giáo dục
phù hợp với nhận thức của từng đối tượng, từng học sinh. Chính vì vậy, việc
“Nâng cao chất lượng Môn Tiếng Việt” cho học sinh ở lớp 1C – Trường Tiểu học
Thị trấn Kim Tân là cần thiết.
Từ thực trạng trên, để nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh lớp
1C đạt kết quả tốt hơn, tôi mạnh dạn đưa ra các giải pháp sau:
3. Các giải pháp tổ chức thực hiện
6
3.1. Tìm hiểu tình hình học tập của học sinh, từ đó rèn luyện cho học sinh có
những thói quen và phương pháp học tập tốt.
Để rèn luyện cho học sinh có những thói quen và phương pháp học tập tốt, đáp
ứng với yêu cầu đặt ra, giáo viên phải tìm ra những biện pháp phù hợp, kết hợp
với lòng yêu nghề mến trẻ, hiểu được tâm lí của trẻ và bản thân phải nhiệt tình
trong công tác giáo dục, phải thật sự là người mẫu mực, là tấm gương sáng cho
học sinh noi theo.
Giáo viên phải nắm bắt được hoàn cảnh, tình hình học tập của từng em, nắm rõ
được những em học yếu, yếu ở mức độ nào? Do đâu? Từ đó tìm ra những phương
khuyến khích rằng “Em cần cố gắng hơn nữa”, hay “Em chắc chắn sẽ đạt thành
tích cao trong học tập nếu em chăm chỉ học tập”, tránh có thái độ lời nói chạm
lòng tự ái hoặc mặc cảm đối với các em. Qua đó, sau mỗi lần kiểm tra kết quả
học tập cũng như gọi các em đọc bài, tôi thấy học sinh tự tin và mạnh dan hơn.
3.2. Kiểm tra phân loại đối tượng học sinh
Tôi phân loại học sinh ra nhiều đối tượng: Đọc kém, viết kém. Khi đã nắm được
điểm yếu kém của học sinh tôi lập ngay kế hoạch theo dõi thường xuyên cụ thể
kết quả học tập, kết quả kiểm tra thật chặt chẽ. Tôi phân loại học sinh theo hai
khả năng: Đọc và viết.
+ Với những em trí tuệ chậm thì bản thân tôi luôn phải kiên trì, thật kiên trì và
tìm nhiều biện pháp thích hợp khắc sâu kiến thức cho các em.
Ví dụ: Trường hợp em Trịnh Thị Thu Hoài, bố mẹ bỏ nhau, mẹ đi làm xa phải ở
nhà với ông bà nội. Thu Hoài đọc kém, chưa nhớ hết bảng chữ cái, viết phải nhìn
từng nét. Tôi thiết nghĩ trường hợp này phải tích cực rèn đọc. Ngoài việc kèm cặp
vào các giờ ra chơi, tôi giao cho cán bộ lớp kèm trong giờ sinh hoạt 15 phút. Mặt
khác, tôi động viên gia đình giúp đỡ cháu trong thời gian ở nhà. Đến đầu học kì
2, Thu Hoài có tiến bộ nhưng đọc chậm, tôi đã thưởng cho em những quyển
truyện tranh, khích lệ em đọc để tìm hiểu truyện nói về ai? Về vấn đề gì? Kết
thúc câu chuyện ra sao? Đến thời điểm này, Hoài có sự tiến bộ rõ rệt, đọc thông
và viết thạo, tự tin trong học tập và luôn tìm kiếm sự hỗ trợ từ cô giáo và bạn bè.
+ Với những học sinh không nắm chắc kiến thức, trong tiết dạy ôn luyện tôi phải
tìm hiểu các em thường đọc sai, làm sai ở những phần nào? Thuộc mảng kiến
thức nào? Từ đó tôi có biện pháp kèm cặp và gọi các em đọc, viết, trả lời các câu
hỏi, luyện nói theo chủ đề. Chỉ sau một học kì 1, nhiều em đã tiến bộ cả về đọc
và viết, mạnh dạn, tự tin khi hơn khi trả lời về nội dung bài đọc.
3.3. Kích thích nhu cầu nhận thức tạo niềm tin trong học tập cho các em
Tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp linh hoạt, kết hợp với tổ chức giáo dục
ngoài giờ lên lớp, tăng cường kĩ năng giao tiếp cho học sinh. Ngoài một số hoạt
động như múa hát, kể chuyện hoặc các phong trào thi đua: giữ vở sạch, viết chữ
đẹp, ngàn hoa việc tốt, đôi bạn cùng tiến...càng giúp các em tự tin, mạnh dạn đạt
đối với nhiệm vụ được giao.
Ngay từ đầu năm học, tôi hướng dẫn cho các em về khái niệm đường kẻ dọc,
đường kẻ ngang, ô, li. Khi hướng dẫn viết, để học sinh viết đúng tôi luôn nhắc
nhở các em không được viết thiếu nét của các con chữ, nét nối giữa các con chữ
sao cho đúng về khoảng cách và kĩ thuật. Vì một số học sinh khi viết hay tùy tiện,
có thói quen dựa vào đường kẻ dọc nên chữ viết thường sai mẫu, không đúng về
khoảng cách và độ rộng của con chữ. Tôi luôn chú ý đến điểm đặt bút và dừng
bút giữa các nét, các con chữ, vị trí của dấu phụ và dấu thanh. Mặc dù chữ viết
9
của học sinh trong thời gian nửa đầu học kì 1 còn run nét, chưa mượt mà. Song
các em viết đúng mẫu, nét chữ ngay ngắn thì nhìn bắt mắt hơn, dễ có cảm tình
với bài viết hơn.
Ví dụ: Khi viết con chữ M các em thường viết hai nét móc xuôi và nét móc hai
đầu dựa vào đường kẻ dọc. Nhưng khi hướng dẫn tôi nhắc nhở các em khoảng
cách giữa các nét là 1 ô rưỡi, vì vậy nét móc xuôi thứ hai phải viết vào giữa ô,
tiếp đến là nét mọc hai đầu độ rộng một ô rưỡi nên phải dựa vào đường kẻ dọc và
điểm dừng bút là ở góc liền kề bám đường kẻ thứ 2.
Hình 1: Hướng dẫn học sinh viết đúng chữ m
Hoặc khi viết các chữ có nét khuyết trên các em thường viết sai, nét chữ thường
lép hoặc to quá. Tôi hướng dẫn các em cách tìm góc tương ứng, dựa vào góc có
thể viết nét khuyết đẹp hơn.
10
Hình 2: Hướng dẫn học sinh viết đúng nét khuyết
Đây là việc hết sức quan trọng đối với các em lớp đầu cấp, nên trong giờ học
tôi đã dành thời gian để các em được xem hình vẽ, mô hình minh họa.
Ví dụ: Trong giờ học vần các em thực hiện phần luyện nói theo tranh, học sinh có
thể quan sát vào tranh minh họa để tự nói một câu về tranh đó. Đặc biệt tôi luôn
khuyến khích các học sinh yếu được nói nhiều hơn trong giờ học, mặc dù có thể
các em nói chưa hay, chưa đúng trọng tâm nhưng đó cũng là một yếu tố giúp các
em cố gắng trong học tập.
Dựa vào tranh phóng to phần luyện nói theo chủ đề Bữa cơm. Khi tôi yêu cầu
học sinh quan sát tranh sách giáo khoa thì đa phần các em không phát huy hết
tính tích cực, nhưng khi cho các em quan sat tranh phóng to thì các em tỏ ra thích
thú. Dựa vào tranh các em thảo luận và đưa ra các câu hỏi thú vị như: Bạn thấy
trong tranh vẽ gì? Một ngày nhà bạn ăn mấy bữa cơm? Mỗi bữa ăn thường có
những món gì? Nhà bạn ai nấu cơm? Mỗi bữa bạn ăn mấy bát? Bạn thích ăn món
gì nhất?....
Hoặc khi học sinh viết bảng con, viết vào vở, tôi có thể kiểm tra và sửa sai cho
học sinh một cách tương đối nhiều, bao quát nhanh những học sinh viết chưa
đúng, chưa đẹp để kịp thời uốn nắn.
3.6. Phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh trong giờ học
Khắc phục được hiện tượng một số học sinh không làm việc trong giờ học, đó
là những học sinh không có đủ đồ dùng học tập, không thích ứng với nhịp độ bài
giảng. Tôi thường tranh thủ hướng dẫn thêm cho các em đọc kém, viết kém vào
những giờ ra chơi hay những buổi học ôn luyện. Giáo viên cần lôi cuốn học sinh
bằng cách nhắc lại câu hỏi của cô hay câu trả lời của bạn, đưa ra hệ thống câu hỏi
12
trong mỗi bài thật cụ thể vừa phải với mọi đối tượng học sinh, tránh tình trạng
không cho các em tham gia hoạt động học tập vì không được giao nhiệm vụ.
Để làm tốt biện pháp này tôi phải tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của những học
13
sinh yếu có sự tiến bộ dù là ít nhưng tôi luôn thưởng nóng các em, kể cả những
học sinh được giao kèm cặp bạn yếu một số đồ dùng học tập như quyển vở, cái
bút, thước kẻ, quyển truyện tranh.... nhằm khích lệ các em tích cực giúp đỡ lẫn
nhau. Sau khi được giao nhiệm vụ, những học sinh học tốt cũng cảm thấy phấn
khởi, tự hào về bản thân và có trách nhiệm với bạn của mình. Phong trào “ Đôi
bạn cùng tiến” còn giúp các em gần gũi và thân thiện với nhau hơn.
3.9 Phát động phong trào “Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp”
Vào đầu năm học, tôi hướng dẫn học sinh cách giữ gìn vở sạch. Tôi mua bìa kê
tay để kẹp một số quyển vở, sử dụng bìa kê tay có tác dụng giữ vở không bọ quăn
mép, không long bìa, vở luôn sạch sẽ. Ngoài ra còn hướng dẫn học sinh lót tay
khi viết bằng tờ giấy nhỏ để tránh mồ hôi quệt ra vở. Hàng tháng, tôi phát động
phong trào “Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp”, tôi luôn xếp loại vở sạch, chữ đẹp hàng
tháng nhằm khuyến khích học sinh thi đua, có ý thức rèn chữ viết và giữ vở cẩn
thận hơn. Sau khi tham gia trưng bày vở sạch chữ đẹp cấp huyện, lớp 1C của tôi
đạt 100% vở loại A và đặc biệt có 5 em đạt danh hiệu cá nhân về “ Giữ vở sạch –
Viết chữ đẹp”
3.10. Phối kết hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với cha mẹ học sinh
Công tác tuyên truyền thông qua thông tin điện thoại, sổ liên lạc điện tử hoặc
trao đổi trực tiếp, qua buổi họp phụ huynh đầu năm và cuối học kì 1. Từ đó, nâng
cao nhận thức cho phụ huynh trong việc quan tâm, chăm sóc, hỗ trợ cùng với
giáo viên chủ nhiệm nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh. Kêu gọi
phụ huynh cùng tham gia các phong trào do nhà trường, Đội thiếu niên tổ chức.
Phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên chủ nhiệm với gia đình, bằng cách thông tin
qua sổ liên lạc hay trao đổi trực tiếp với phụ huynh để gia đình tạo điều kiện mua
sắm đầy đủ đồ dùng học tập cho các em, đôn đốc các em thực hiện tốt kế hoạch ở
trường, ở nhà. Thậm chí có những phụ huynh khi đọc lời nhận xét của giáo viên
năm học mà lớp đã đề ra.
4. Kết luận, kiến nghị
4.1 Kết luận
Qua một thời gian tìm tòi, nghiên cứu ra những biện pháp để thực hiện vào
việc dạy học nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh. Với lòng yêu
nghề mến trẻ và những kinh nghiệm ít ỏi của mình tôi đã mạnh dạn áp dụng trong
thời gian qua. Kết quả cho thấy rằng học sinh lớp tôi sau những lần kiểm tra
thường xuyên chất lượng tăng lên rõ rệt. Những học sinh từ không biết đọc, viết
xấu hoặc chưa đúng tốc độ bây giờ đã tiến bộ đáng khen ngợi. Kết quả kiểm tra
vào thời điểm cuối tháng ba như sau:
Sĩ số học sinh
29 em
Hoàn thành môn học
29 = 100%
Chưa hoàn thành môn học
0
Kết quả trên đã chứng minh được một số kinh nghiệm của tôi đã thực hiện
15
trong thời gian qua đã có hiệu quả. Học sinh hoàn thành môn Tiếng Việt đạt
100%, không có học sinh chưa đạt, các em đều đọc thông, viết thạo, trình bày
đẹp. Vinh dự hơn, tham gia dự thi trưng bày vở sạch, chữ đẹp cấp huyện lớp 1C
có 5 em đạt danh hiệu “Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp” cấp huyện (đạt 100% số học
sinh tham gia). Xếp loại vở chung của lớp loại A đạt 100% cấp huyện. 100% học
sinh đọc thông viết thạo trong thời điểm giữa học kì 2, các em đều biết cách trình
bày bài trong vở. Tôi tiếp tục phát huy những mặt đã đạt được, khắc phục những
đồng khoa học các cấp để quá trình giảng dạy của bản thân tôi đạt kết quả cao
hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thạch Thành, ngày 18 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của bản
thân, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết
Quách Thị Yến
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Luật Giáo dục năm 2005.
17
DANH MỤC
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐƯỢC HỘI ĐỒNG CẤP PHÒNG
GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT CÔNG NHẬN
18
NĂM
HỌC
C
Hội đồng khoa học Sở
GD&ĐT
19
20
21
22
23
24
25