Một số kinh nghiệm dạy học nâng cao chất lượng môn tiếng việt cho học sinh lớp 1 - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM DẠY HỌC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 1

Người thực hiện: Quách Thị Yến
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học thị trấn Kim Tân
Huyện: Thạch Thành
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt

THANH HÓA, NĂM 2016

1


Mục
I.
1.
2.
3.
4.
II.
1.
2.
3.
4.

các em.
Sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy một cách hợp lí.
Làm việc với sách giáo khoa, bảng con và các đồ dùng phục vụ
cho tiết học.
Phát huy tính tích cực, tự giác cho học sinh trong giờ học
Tổ chức trò chơi học tập trong các tiết học.
Tổ chức phong trào “Đôi bạn cùng tiến”.
Phối kết hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với phụ huynh học sinh
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Kết luận
Bài học kinh nghiệm
Ý kiến đề xuất

Trang
3
3
3
4
4
4
4
4
6
7
7
8
8
10
11
12

đọc tốt nhưng chữ viết xấu hoặc chữ viết đẹp thì khả năng tiếp thu bài lại chậm.
Do đâu? Vì sao? Đó là những băn khoăn của bản thân tôi trong quá trình giảng
dạy, làm thế nào để học sinh tiếp thu một cách có hiệu quả. Nhận thức được tầm
quan trọng của vấn đề này, bản thân tôi mạnh dạn đưa một số kinh nghiệm: “
Dạy học nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1B” trong năm
học 2015 – 2016.
2. Mục đích nghiên cứu
- Dạy học nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 giúp học sinh
luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác thực hành, rèn luyện kĩ
năng học tập có hiệu quả, đồng thời từng bước tập vận dụng kiến thức và kĩ năng
thực hành vào thực tiễn học tập và đời sống.
- Nâng cao chất lượng dạy học là nguồn thông tin ngược giúp giáo viên nhìn rõ
hiệu quả của việc dạy học, từ đó điều chỉnh quá trình dạy học cho phù hợp.
- Nâng cao chất lượng dạy học, giáo viên có điều kiện dạy học sinh đạt được các

3


kiến thức, kĩ năng cơ bản, tối thiểu của môn học, các hoạt động giáo dục. Từ đó,
phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và rèn luyện kĩ năng suy luận,
khêu gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi.
3. Đối tượng nghiên cứu
Dạy học nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1B do tôi chủ
nhiệm.
4. Các phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp thực hành ở lớp trực tiếp phụ trách giảng dạy.
- Nghiên cứu qua thực tế giờ dạy, qua dự giờ, trao đổi kinh nghiệm.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Nâng cao chất lượng văn hóa, rèn luyện và giáo dục kĩ năng sống tốt cho học

- Thái độ học tập chưa tốt, chưa được định hướng rõ.
- Do một số em khi đã học qua lớp mẫu giáo nhưng các em nhận thức còn non
nớt, tiếp thu bài còn gặp rất nhiều khó khăn. Có thể các em chưa quen với cách
học mới ở trường Tiểu học.
Do đó, tác động của một số yếu tố trên mà một số học sinh hứng thú học tập
kém, thiếu tự tin, thiếu cố gắng vươn lên trong học tập, kết quả học tập kém,
không ổn định. Quan sát tôi thấy từ những nguyên nhân đó mà học sinh yếu có
những biểu hiện sau:
- Tư duy thiếu linh hoạt.
- Sự chú ý, óc quan sát, trí tưởng tượng đều phát triển chậm.
- Diễn đạt bằng ngôn ngữ khô khan, lúng túng, nhiều chỗ còn lộn xộn.
- Biểu hiện bề ngoài là thờ ơ với thái độ học tập, giáo viên giảng bài hỏi lại học
sinh trả lời ngập ngừng không tin ở chính mình, thái độ tiếp thu thụ động.
- Nghịch ngợm, có tính ham chơi, lười học dẫn đến học kém và rất ngại học.
- Nhiều em có bố mẹ đi làm ăn xa, phải ở nhà với ông bà hoặc bác ( Phúc An,
Ngọc Anh, Duy Anh, Khánh Linh,….). Do đó, các em được nuông chiều vì nghĩ
rằng các em thiếu thốn tình cảm, dẫn đến việc không sát sao hoặc không nghiêm
khắc để các em hoàn thành nhiệm vụ học tập. Mặt khác, nếu quan tâm thì phụ
huynh lại không biết cách hướng dẫn các em học tập, nhất là hướng dẫn viết chữ
không đúng mẫu (thiếu về độ cao hoặc không đúng về độ rộng), cách đánh vần
không đúng (ví dụ đánh vần tiếng “hồng” hờ - ô – hô –ngờ - hông – huyền –
hồng).
Qua khảo sát chất lượng đầu năm học 2015 – 2016, kết quả cụ thể như sau:
Sĩ số học sinh
31 em

Chất lượng đọc
Đạt
Chưa đạt
18 = 58%

3.1.Công tác tuyên truyền thông qua thông tin điện thoại, sổ liên lạc hoặc trao
đổi trực tiếp, qua buổi họp phụ huynh đầu năm và cuối học kì 1. Từ đó, nâng cao
nhận thức cho phụ huynh trong việc quan tâm, chăm sóc, hỗ trợ cùng với giáo
viên chủ nhiệm nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh. Kêu gọi phụ
huynh cùng tham gia các phong trào do nhà trường, Đội thiếu niên tổ chức.
3.2. Tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp linh hoạt, kết hợp với tổ chức giáo
dục ngoài giờ lên lớp, tăng cường kĩ năng giao tiếp cho học sinh. Ngoài một số
hoạt động như múa hát, kể chuyện hoặc các phong trào thi đua: giữ vở sạch, viết
chữ đẹp, ngàn hoa việc tốt, đôi bạn cùng tiến...càng giúp các em tự tin, mạnh dạn
đạt kết quả tốt trong học tập.
3.3. Khích lệ, động viên tinh thần học tập bằng lồng ghép tổ chức các trò chơi
trong các tiết học Tiếng Việt nhằm nâng cao vốn kiến thức Tiếng Việt cho các
em.
3.4. Tăng thời lượng dạy học môn Tiếng Việt nhằm củng cố kiến thức cho học
sinh một cách vững chắc vào các buổi chiều trong tuần.
3.5. Quan tâm, tìm hiểu hoàn cảnh đến từng đối tượng học sinh giúp các em có
thêm niềm tin trong học tập.
4. Các biện pháp tổ chức thực hiện

6


4.1. Tìm hiểu tình hình học tập của học sinh. Từ đó rèn luyện cho học sinh có
những thói quen và phương pháp học tập tốt.
Để rèn luyện cho học sinh có những thói quen và phương pháp học tập tốt, đáp
ứng với yêu cầu đặt ra, giáo viên phải tìm ra những biện pháp phù hợp, kết hợp
với lòng yêu nghề mến trẻ, hiểu được tâm lí của trẻ và bản thân phải nhiệt tình
trong công tác giáo dục, phải thật sự là người mẫu mực, là tấm gương sáng cho
học sinh noi theo.
Giáo viên phải nắm bắt được hoàn cảnh, tình hình học tập của từng em, nắm rõ

viết chưa đúng, đọc chưa đúng, tôi không phê bình mà vẫn khen động viên
khuyến khích rằng “Em cần cố gắng hơn nữa”, hay “Em chắc chắn sẽ đạt thành
tích cao trong học tập nếu em chăm chỉ học tập”, tránh có thái độ lời nói chạm
lòng tự ái hoặc mặc cảm đối với các em.
4.2. Kiểm tra phân loại đối tượng học sinh:
Tôi phân loại học sinh ra nhiều đối tượng: Đọc kém, viết kém. Khi đã nắm được
điểm yếu kém của học sinh tôi lập ngay kế hoạch theo dõi thường xuyên cụ thể
kết quả học tập, kết quả kiểm tra thật chặt chẽ. Tôi phân loại học sinh theo hai
khả năng: Đọc và viết.
+ Với những em trí tuệ chậm thì bản thân tôi luôn phải kiên trì, thật kiên trì và
tìm nhiều biện pháp thích hợp khắc sâu kiến thức cho các em.
Ví dụ: Trường hợp em Nguyễn Phúc An, bố mẹ bỏ nhau, mẹ đi làm xa phải ở
nhà với ông bà ngoại. Phúc An đọc kém, chưa nhớ hết bảng chữ cái, viết phải
nhìn từng nét. Tôi thiết nghĩ trường hợp này phải tích cực rèn đọc. Ngoài việc
kèm cặp vào các giờ ra chơi, tôi giao cho cán bộ lớp kèm trong giờ sinh hoạt 15
phút. Mặt khác, tôi động viên gia đình giúp đỡ cháu trong thời gian ở nhà. Đến
đầu học kì 2, Phúc An có tiến bộ nhưng đọc chậm, tôi đã thưởng cho em những
quyển truyện tranh, khích lệ em đọc để tìm hiểu truyện nói về ai? Về vấn đề gì?
Kết thúc câu chuyện ra sao?
+ Với những học sinh không nắm chắc kiến thức, trong tiết dạy ôn luyện tôi phải
tìm hiểu các em thường đọc sai, làm sai ở những phần nào? Thuộc mảng kiến
thức nào? Từ đó tôi có biện pháp kèm cặp và gọi các em đọc, viết, trả lời các câu
hỏi, luyện nói theo chủ đề.
4.3. Kích thích nhu cầu nhận thức tạo niềm tin trong học tập cho các em:
Giáo viên nên tạo ra niềm vui trong học tập cho các em thông qua trò chơi để
các em tiếp thu bài, khắc sâu kiến thức dễ dàng hơn (vì khi đọc đã kém các em
thường hay chán nản, ít có hứng thú học tập không chú ý nghe giảng).
Hoặc đối với các giờ học vần: Tổ chức cho các em viết vần mới, tiếng mới vào
hai mảnh giấy cắt hình bông hoa để trên bàn sau đó gọi hai em cùng lên chơi trò
chơi “Hái hoa” bạn nào hái được bông nào thì thì đọc to cho cả lớp vần, tiếng

bút giữa các nét, các con chữ, vị trí của dấu phụ và dấu thanh. Mặc dù chữ viết
của học sinh trong thời gian nửa đầu học kì 1 còn run nét, chưa mượt mà. Song
các em viết đúng mẫu, nét chữ ngay ngắn thì nhìn bắt mắt hơn, dễ có cảm tình
với bài viết hơn.
Ví dụ: Khi viết con chữ M các em thường viết hai nét móc xuôi và nét móc hai
đầu dựa vào đường kẻ dọc. Nhưng khi hướng dẫn tôi nhắc nhở các em khoảng
cách giữa các nét là 1 ô rưỡi, vì vậy nét móc xuôi thứ hai phải viết vào giữa ô,
tiếp đến là nét mọc hai đầu độ rộng một ô rưỡi nên phải dựa vào đường kẻ dọc và
điểm dừng bút là ở góc liền kề bám đường kẻ thứ 2.

9


Hình 1: Hướng dẫn viết đúng chữ m
Hoặc khi viết các chữ có nét khuyết trên các em thường viết sai, nét chữ thường
lép hoặc to quá. Tôi hướng dẫn các em cách tìm góc tương ứng, dựa vào góc có
thể viết nét khuyết đẹp hơn.

Hình 2: Hướng dẫn viết đúng nét khuyết
4.4. Sử dụng đồ dùng dạy học trong các tiết dạy một cách hợp lí:
Việc sử dụng đồ dùng dạy học trong các tiết dạy một cách hợp lí là thu hút

10


được sự chú ý của học sinh đặc biệt là những học sinh yếu. Để làm được điều đó
đạt hiệu quả, trước khi lên lớp tôi nghiên cứu kĩ bài dạy và đặc biệt chú ý đến đồ
dùng dạy học cho các hoạt động một cách hợp lí, tham khảo tìm mượn thư
viện.Vì đồ dùng dạy học rất phong phú, có nhiều các loại tranh ảnh, mô hình đa
dạng rất thuận lợi cho học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức. Đồ dùng dạy



4.6. Phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh trong giờ học.
Khắc phục được hiện tượng một số học sinh không làm việc trong giờ học, đó
là những học sinh không có đủ đồ dùng học tập, không thích ứng với nhịp độ bài
giảng. Tôi thường tranh thủ hướng dẫn thêm cho các em đọc kém, viết kém vào
những giờ ra chơi hay những buổi học ôn luyện. Giáo viên cần lôi cuốn học sinh
bằng cách nhắc lại câu hỏi của cô hay câu trả lời của bạn, đưa ra hệ thống câu hỏi
trong mỗi bài thật cụ thể vừa phải với mọi đối tượng học sinh, tránh tình trạng
không cho các em tham gia hoạt động học tập vì không được giao nhiệm vụ.
Để làm tốt biện pháp này tôi phải tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của những học
sinh yếu. Vì hầu hết ở lớp tôi thường học sinh yếu lại rơi vào những gia đình có
hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ đi làm ăn xa con cái ở nhà với ông bà già yếu, hoặc
bố mẹ trước đây đều chưa học hết cấp Tiểu học. Sự quan tâm đến việc học của
con cái có hạn. Vì thế tôi nhờ đến ban đại diện hội phụ huynh của lớp đến động
viên các em đó hoặc bản thân tôi đến tận gia đình các em cũng là tạo ấn tượng tốt
cho các em để các em có niềm tin ở trường, lớp, thầy cô, bạn bè từ đó có ý chí
phấn đấu vươn lên trong học tập.
4.7. Tổ chức trò chơi học tập trong các tiết học:
Ngoài những biện pháp trên tôi còn thường xuyên tổ chức các trò chơi, văn
nghệ, kể chuyện và những hoạt động khác vào tiết học, có thể trò chơi được tổ
chức đầu tiết, giữa tiết hoặc cuối tiết học để tạo dựng nơi các em lòng tin yêu
trường lớp, tha thiết học tập, thích gần gũi với thầy cô, bạn bè... Để tổ chức trò
chơi có hiệu quả, giáo viên cần nêu rõ phương thức chơi, luật chơi một cách rõ
ràng, trò chơi phải phù hợp với đối tượng học sinh và nội dung tiết học.
Ví dụ: GV tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “ Ai nhanh, ai đúng” trong tiết Học
vần – Bài 42: ưu, ươu. Đây là một trong những vần khó đọc và học sinh ít gặp
tiếng chứa vần (ươu). Khi học xong vần mới và đọc từ ứng dụng, để học sinh tìm
được tiếng chứa vần vừa học, tôi đã tổ chức trò chơi bằng cách cho hai học sinh
đại diện cho hai tổ có nhiệm vụ lựa chọn tiếng có chứa vần vừa học ưu, ươu để

của mình đối với học sinh là cả một bước quan trọng không thể nhìn sau mỗi giờ
học, buổi học, mà nhìn thấy học sinh của mình có nhiều em vẫn chưa hiểu bài
nên tôi đã tự cố gắng học hỏi, tìm tòi những phương pháp giảng dạy phù hợp như
đã nêu ở trên để ứng dụng và thực hiện với học sinh của mình.
Tóm lại, tùy vào từng đối tượng để giáo viên có biện pháp cụ thể thích hợp để
tổ chức dạy học chứ không theo phương pháp cứng nhắc, áp đặt. Đó là biện pháp
thiết thực nhất để nâng cao chất lượng học tập, hạn chế được tối đa học sinh yếu
kém, không có học sinh lưu ban đẩy nhanh tiến độ theo kế hoạch năm học đề ra.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua một thời gian tìm tòi, nghiên cứu ra những biện pháp để thực hiện vào
việc dạy học nâng cao chất lượng đại tà cho học sinh. Với lòng yêu nghề mến trẻ

13


và những kinh nghiệm ít ỏi của mình tôi đã mạnh dạn áp dụng trong thời gian
qua. Kết quả cho thấy rằng học sinh lớp tôi sau những lần kiểm tra thường xuyên
chất lượng tăng lên rõ rệt. Những học sinh từ không biết đọc, viết xấu hoặc chưa
đúng tốc độ bây giờ đã tiến bộ đáng khen ngợi. Kết quả kiểm tra vào thời điểm
cuối tháng ba như sau:
Sĩ số học sinh
31 em

Hoàn thành môn học
31= 100%

Chưa hoàn thành môn học
0


thường xuyên tổ chức các sân chơi trí tuệ, các hoạt động phong trào nhằm khích
lệ tinh thần học tập của học sinh.
Trên đây là kinh nghiệm tôi đã áp dụng trong việc dạy học nâng cao chất
lượng môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1B trong năm học 2015 - 2016. Đó là
những kinh nghiệm nhỏ xuất phát từ tình hình dạy học thực tế, tôi rút kinh
nghiệm cho bản thân mình và cũng mang lại những kết quả tốt đóng góp vào
công tác giảng dạy và giáo dục thế hệ trẻ. Kính mong sự góp ý và chỉ đạo của hội
đồng khoa học các cấp để quá trình giảng dạy của bản thân tôi đạt kết quả cao
hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thạch Thành, ngày 04 tháng 6 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của bản
thân, không sao chép nội dung của
người khác.

Người viết

Quách Thị Yến

PHỤ LỤC

15


Các hình ảnh minh họa.

Hình 3: Học sinh tham gia trò chơi: Ai nhanh, ai đúng

23


24


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status