MỤC LỤC
1. Thuận lợi................................................................................................................................5
2. Khó khăn..........................................................................................................6
3. Kết quả khảo sát thực trạng............................................................................6
Xuất phát từ thực tế đó tôi đã tiến hành khảo sát 62 trẻ 5 - 6 tuổi ở trường
như sau:................................................................................................................. 6
III. CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN..........................................................7
1. Các giải pháp.....................................................................................................7
2. Các biện pháp...................................................................................................8
2.1. Tuyên truyền..................................................................................................8
A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Môi trường là không gian sống của con người và sinh vật; là tất cả những
gì xung quanh chúng ta bao gồm các yếu tố tự nhiên, xã hội và vật chất nhân
tạo. Trong quá trình tồn tại, phát triển của con người và sinh vật, môi trường đã
cung điều kiện sống (không khí, độ ẩm, nước, tài nguyên khác ...). Vì vậy môi
trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với con người, nếu không có những điều
kiện đó con người không thể tồn tại và phát triển được. Đối với trẻ môi trường
có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển, bởi giai đoạn này cơ thể trẻ rất
non nớt và đang phát triển mạnh cả về thể lực và tâm lý. Một môi trường tự
nhiên sạch đẹp giúp cho cơ thể trẻ phát triển tốt, một xã hội lành mạnh sẽ giúp
cho trẻ hình thành nhân cách trong sáng; vì vậy chúng ta có thể khẳng định, môi
trường là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ.
Tuy nhiên hiện nay chất lượng môi trường ngày một suy giảm, đe dọa
nghiêm trọng đến sự sống và tồn tại của trái đất, nguyên nhân chủ yếu là: Sự bùng nổ
gia tăng về dân số, đô thị hóa phát triển nhanh đã lấn chiếm nhiều tài nguyên đất
dùng để ở và sản xuất, đồng thời thải ra môi trường: Chất thải sinh hoạt; chất thải
dưới yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp và giữ lời hứa…được hình thành và có điều kiện
củng cố phát triển tốt nhất ở lứa tuổi này;
Với tầm quan trọng của việc giáo dục Bảo vệ môi trường cho trẻ mầm
non, bản thân tôi luôn suy nghĩ, tìm tòi những biện pháp, cách thức hướng dẫn
chỉ đạo giáo viên làm thế nào để giáo dục trẻ, lôi cuốn trẻ tham gia vào các hoạt
động bảo vệ môi trường một cách tích cực và hiệu quả cao nhất. Vì vậy trong
năm học này tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng
cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ Mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
- Giúp giáo viên cải tiến các nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục
bảo vệ môi trường cho trẻ. Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào các hoạt
động của trẻ sao cho phù hợp và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
- Tuyên truyền tới các bậc phụ huynh, cộng đồng nhận thức đúng vai trò,
nhiệm vụ và tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong xã hội, gia đình
và trường mầm non.
- Góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho
trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, đồng thời giúp
trẻ phát triển toàn diện về thể lực, ngôn
ngữ, nhận thức, thẩm mỹ và tình cảm
quan hệ xã hội.
+ Về nhận thức:
Trẻ có hiểu biết ban đầu về môi trường sống của con người, có những
kiến thức đơn giản về cơ thể, cách chăm sóc giữ gìn sức khỏe cho bản thân. Có
những kiến thức ban đầu về mối quan hệ giữa động, thực vật với con người, với
môi trường sống và thái độ đúng đắn của con người.
- Phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin.
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
Bảo vệ môi trường là một vấn đề cả thế giới đang rất quan tâm và yêu
cầu mọi người, mọi tổ chức xã hội cùng chung tay thực hiện. Ở Việt Nam
chúng ta đã ban hành Luật bảo vệ môi trường và nhiều văn bản chỉ đạo, hướng
dẫn, cụ thể:
- Luật bảo vệ môi trường năm 2014;
- Chỉ thị số 36 CT-TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về “Tăng cường
công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước”; đã đưa ra những giải pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi
trường như: “Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp
sống và phong trào quần chúng bảo vệ môi trường” và “Đưa các nội dung bảo
vệ môi trường vào chương trình giáo dục của tất cả các bậc học trong hệ thống
giáo dục quốc dân”;
- Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt đề án “Đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hệ
thống giáo dục quốc dân”;
- Quyết định 256/QĐ-TTg ngày 2/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về
chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
- Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp
thứ 8, đã ban hành Luật bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005 và Luật có hiệu lực
ngày 1/7/2006;
- Chỉ thị số 02/2005/BGD&ĐT ngày 31/01/2005 về “ Tăng cường công
tác giáo dục bảo vệ môi trường” đã xác định rõ nhiệm vụ của giáo dục mầm non
là hình thành cho trẻ những hiểu biết đơn giản về cơ thể, về môi trường sống của
bản thân nói riêng và con người nói chung, biết gìn giữ sức khỏe bản thân, có
4
- Đối với nhà trường: Là trường chuẩn Quốc gia nên có tương đối đầy đủ
cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình chăm sóc giáo dục trẻ. Đặc biệt năm học
2015 - 2016 nhà trường làm tốt công tác tham mưu và xã hội hóa nên đã đổi mới
được sân chơi, sửa sang lại khu bếp ăn.
- Về môi trường: Trường có khuôn viên thoáng mát, sạch sẽ, có vườn rau
sạch, vườn cây ăn quả, vườn thuốc nam, có nhiều thùng đựng rác có nắp đậy
thuận tiện, có hệ thống cống rãnh thoát nước hợp vệ sinh, có nguồn nước sạch
phục vụ cho quá trình chăm sóc giáo dục trẻ.
- Đối với lớp: Mẫu giáo 5 - 6 tuổi (2 lớp) có đầy đủ trang thiết bị, đồ dùng
đồ chơi phục vụ cho quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ.
5
Hình ảnh trường và lớp của Trường MN Hoằng Quý
- Đối với bản thân: Có vốn kiến thức cơ bản về vấn đề về môi trường và
bảo vệ môi trường, và thường xuyên được tham dự các lớp tập huấn về giáo dục
bảo vệ môi trường do Phòng Giáo dục và Sở Giáo dục tổ chức.
2. Khó khăn.
Bên cạnh những thuận lợi đó, trong quá trình hướng đẫn chỉ đạo chuyên
môn cho khối mẫu giáo Lớn 5 - 6 tuổi tôi thấy còn một số tồn tại sau:
- Giáo viên chủ nhiệm lớp chưa quan tâm đúng mức đến việc Giáo dục
bảo vệ môi trường cho trẻ.
- Trẻ lớp Mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi đa số là con em nông thôn nên sự hiểu
biết về bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế. Trẻ có những thói quen không tốt
như bỏ rác chưa đúng nơi qui định, chưa biết tiết kiệm điện nước, chưa biết yêu
quí những con vật nuôi…
- Nhiều trẻ chưa có thói quen bảo vệ môi trường xung quanh mình, chưa
có khả năng phản ứng với các hành vi của con người làm bẩn môi trường và phá
TB
%
Chưa
đạt
%
Trẻ nhận biết phân
biệt môi trường
62
11 27,5 10
25
14
35
5
12,5
1
sạch, môi trường
bẩn
Trẻ biết chia sẽ và
hợp tác với bạn bè
62
8
20
12
30
12
trường và phá hoại
môi trường.
Từ thực trạng trên, để nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường
cho trẻ 5 - 6 tuổi, tôi đã nghiên cứu tìm tòi sáng tạo và chỉ đạo giáo viên phụ
trách áp dụng các hình thức giáo dục phù hợp để giúp trẻ tiếp thu kiến thức giáo
dục bảo vệ môi trường một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Từ đó giúp trẻ phát triển
toàn diện hơn.
III. CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN.
1. Các giải pháp.
Hướng dẫn chỉ đạo và yêu cầu giáo viên cần thực hiện một số nội dung sau:
- Tạo môi trường giáo dục trong và ngoài lớp phong phú và phù hợp theo
chủ đề, giúp trẻ biết thêm về môi trường xung quanh trẻ.
- Tổ chức cho trẻ được thăm quan, quan sát thực tế để trẻ tiếp thu tri thức
mới và có dịp cũng cố kiến thức đã học về bảo vệ môi trường.
- Tạo điều kiện để trẻ được trải nghiệm thực tế giúp trẻ có cơ hội thực
hành rèn luyện hành vi, kỹ năng bảo vệ môi trường, kỹ năng vệ sinh cá nhân và
vệ sinh chung.
- Tổ chức cho trẻ quan sát thực tế những việc làm bảo vệ môi trường. để
trẻ có cơ hội làm quen với những việc làm bảo vệ môi trường.
- Thường xuyên tổ chức cho trẻ lao động tập thể: Quét dọn vệ sinh trong
và ngoài lớp, chăm sóc vườn cây, rau….để trẻ có thói quen vệ sinh chung.
- Kết hợp với phụ huynh tạo môi trường xanh - sạch - đẹp và an toàn cho
trẻ ở trường mầm non.
7
2. Các biện pháp.
2.1. Tuyên truyền.
Tuyên truyền kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường đến các bậc phụ
đúng nơi quy định giữ gìn vệ sinh chung.
Tôi thường xuyên khuyến khích cô giáo tổ chức các hoạt động tập thể để
tất cả trẻ trong lớp được tham gia như tổng vệ sinh trong và ngoài lớp, thu gom
rác, lá cây, trồng cây hoa quanh trường, thu gom phế liệu để cô và trẻ làm đồ
dùng đồ chơi...
8
Hình ảnh một số hoạt động của trẻ 5 – 6 tuổi tham gia bảo vệ môi trường
2.2. Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ thông qua các hoạt động
trong ngày.
2.2.1. Thời điểm đón - trả trẻ.
- Yêu cầu cô giáo đi trước giờ đón trẻ 15 phút thông thoáng phòng học, vệ
sinh trong và ngoài lớp sạch sẽ. Trong khi đón trẻ thì nhắc nhở trẻ cất đồ dùng
cá nhân vào nơi quy định một cách ngay ngắn gọn gàng, bỏ rác đúng nơi quy
định, giáo dục trẻ biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh chung .
- Trò chuyện với trẻ về các vấn đề liên quan đến môi trường và cách bảo
vệ môi trường thông qua trò chuyện về các các chủ đề.
Ví dụ: Ở chủ đề “Trường mầm non ” cô giáo cần trò chuyện với trẻ về
trường, lớp Mầm non đồng thời giáo dục trẻ không vứt rác bừa bãi, không vẽ
bẩn lên tường, giữ gìn trường, lớp luôn sạch đẹp, thường xuyên quét dọn, lau
chùi đồ dùng đồ chơi sạch sẽ, sắp đặt ngăn nắp, gọn gàng.
Ví dụ: Ở chủ đề “Bản thân ” giáo viên trò chuyên với trẻ về các bộ phận
cơ thể trẻ đồng thời khéo léo giáo dục trẻ biết giữ vệ sinh không chơi bẩn, rửa
tay sạch sẽ trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, khi tay bẩn, rửa mặt, chải đầu, đánh
răng…Khi rửa tay cần vặn nước vừa đủ không làm tung tóe ra ngoài, tiết kiệm
nước và bảo vệ nguồn nước sạch.
Ví dụ: Ở chủ đề " Một số phương tiện giao thông" thì trò chuyện với trẻ
* Với hoạt động khám phá môi trường khoa học:
Đây là hoạt động chính giúp trẻ tiếp thu những kiến thức cơ bản về thế
giới xung quanh về các con vật, cây cối các hiện tượng tự nhiên...
Thông qua các hoạt động cho trẻ khám phá về thế giới thực vật, về thế
giới động vật, về các hiện tượng tự nhiên, các phương tiện giao thông, về quê
hương đất nước…. giáo viên cùng trẻ trò chuyện. Được tham gia trò chuyện trao
đổi cùng cô giáo, cùng các bạn giúp trẻ có thêm hiểu biết về môi trường xung
quanh, từ đó trẻ có ý thức tham gia bảo vệ môi trường, ngoài ra còn giúp trẻ có
kỹ năng nghe, kỹ năng nói tốt hơn.
Ví dụ: Khi cho trẻ khám phá về các con vật nuôi trong gia đình. Trẻ biết
gọi tên, nói lên đặc điểm của các con vật giúp trẻ phát triển kỹ năng nghe, kỹ
năng nói, giúp trẻ biết cách chăm sóc các con vật, không đánh đập và biết bảo vệ
chúng đồng thời biết phản ứng với hành vi của người khác khi đánh đập chúng.
Ví dụ: Khi cho trẻ khám phá về “Nước” cho trẻ được nói đặc điểm của
nước, tác dụng của nước…, cho trẻ làm thí nghiệm về “nước sạch, nước bẩn” từ
đó giúp trẻ biết bảo vệ nguồn nước, không vứt rác xuống nguồn nước, biết tiết
kiệm nước. Trẻ được tham gia hoạt động giúp trẻ có hứng thú, nhớ lâu và tích
cực hơn trong việc bảo vệ môi trường.
10
Ví dụ: Với hoạt động cho trẻ khám phá về “ Các loại cây ” trẻ trò chuyện
cùng cô và các bạn về các loại cây về gọi tên, đặc điểm của từng loại cây giúp
trẻ biêt tác dụng của cây ngoài việc cho chúng ta hoa, quả, gỗ, bóng mát cây còn
làm cho không khí trong lành… từ đó giúp trẻ có hành vi đúng biết cách chăm
sóc cây, trồng cây, tưới nước, nhổ cỏ, không bẻ cành ngắt lá…
Ví dụ: Với hoạt động cho trẻ khám phá về “Các loại phương tiện giao
thông” trẻ được nói tên, đặc điểm của các loại phương tiện giao thông tác dụng
của chúng cũng như việc xả khí thải, khói làm không khí bị ô nhiễm. Cô cùng
trẻ thảo luận về những việc con người cần phải làm để bảo vệ môi trường như
Ví dụ: Với hoạt động vẽ "Vườn cây ăn quả"
Giáo viên cho trẻ gọi tên các loại quả, đặc điểm, màu sắc của các loại quả.
Giáo dục trẻ ăn quả phải bỏ vỏ vào thùng rác, giáo dục trẻ biết cách chăm sóc
11
bảo vệ cây, ngoài ra còn phải giáo dục trẻ trồng nhiều cây xanh làm cho môi
trường xanh, sạch, không khí trong lành tốt cho sức khỏe con người.
Ví dụ: Ở tiết hoạt động tạo hình với đề tài: “cắt dán ô tô”.
- Trẻ cắt dán ô tô từ hình chữ nhật và hình vuông, cô hướng dẫn trẻ có thể
tạo ra hình chữ nhật và hình vuông từ tờ tạp chí cũ để tiết kiệm giấy, phết hồ dán
đúng, không phết nhiều hồ để tiết kiệm, nhắc nhở trẻ không nói to, không kéo lê
bàn ghế trên sàn nhà, tránh gây ra tiếng ồn và làm cho bàn ghế chóng hỏng. Sau
khi cắt dán ô tô song cô giáo dục trẻ cất đồ dùng và vật liệu gọn gàng đúng nơi
quy định, cùng cô quét dọn lớp sạch sẽ.
Ví dụ: Hoạt động tạo hình với đề tài “nặn thú rừng”.
Cô hướng dẫn trẻ nặn thú rừng từ đất nặn, trong quá trình nặn nhắc nhở
trẻ lấy đất vừa đủ để tạo ra các bộ phận của con vật, không lấy nhiều đất làm
lãng phí, không được làm lẫn các mầu đất nặn để tiết kiệm cho các hoạt động
nặn ở những đề tài khác. Qua hoạt động tạo hình “nặn thú rừng”: trẻ còn biết
thêm rừng là nơi sinh sống của các loại thú rừng vì vậy ngoài việc bảo vệ thú
rừng ra, con người cũng phải bảo vệ rừng vì rừng là nơi ở của các con vật sống
trong rừng, rừng còn là tài nguyên của đất nước, phá rừng sẽ gây ra nhiều thiên
tai lũ lụt làm ảnh hưởng lớn đến môi trường sống của con người.
Thông qua các hoạt động âm nhạc, làm quen với Toán, làm quen với chữ
cái cô giáo cũng cần khéo léo giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ nhằm khắc sâu
kiến thức, trẻ được tham gia hoạt động giúp trẻ có thêm kỹ năng, trẻ biết chia sẻ
và hợp tác với bạn bè xung quanh để bảo vệ môi trường. Có phản ứng với các
hành vi của con người làm bẩn môi trường, phá hoại môi trường.
Ví dụ: Dạy hát bài "Cá vàng bơi" cần khéo léo lồng ghép giáo dục trẻ để
đóng vai thể hiện công việc bảo vệ môi trường: như trồng cây, thu gom rác…
Ví dụ: Ở góc phân vai “ Bé tập làm bác cấp dưỡng” cô chú ý dạy trẻ có ý
thức tiết kiệm nước và các nguyên vật liệu chế biến món ăn, thu dọn đồ dùng
gọn gàng sau khi làm. Từ đó giúp trẻ biết làm những việc để bảo vệ môi trường.
Cũng ở góc phân vai trẻ được trực tiếp chơi với đồ chơi, trẻ tham gia lau
chùi đồ chơi, giữ gìn đồ chơi. Từ đó giúp trẻ có thói quen vệ sinh sạch sẽ, trẻ
biết hợp tác cùng với bạn bè trong quá trình vệ sinh đồ dùng đồ chơi.
Ở góc xây dựng giúp trẻ biết làm cho môi trường xanh sạch thông qua trò
chơi xây dựng công viên xanh, vườn cây, vườn rau sạch của bé…
Ở góc thiên nhiên trẻ lại được trực tiếp gieo hạt trồng và chăm sóc cây rau
quả, chăm sóc các con vật nuôi. Từ đó giúp trẻ có những hành vi tốt nhằm bảo
vệ môi trường.
Ở góc học tập, góc nghệ thuật trẻ được chơi lô tô, được tạo ra những bức tranh
về môi trường, phân biệt môi trường sạch, môi trường bẩn, tô mầu hành vi đúng,
gạch bỏ hành vi sai, được đọc thơ, ca dao, đồng dao, vè… về bảo vệ môi trường.
Từ đó giúp trẻ có kỹ năng nghe, nói, có những hành vi đúng nhằm bảo vệ
môi trường, trẻ biết chia sẻ hợp tác với bạn bè và những người xung quanh. Trẻ
có phản ứng với các hành vi của con người làm bẩn môi trường và làm phá hoại
môi trường.
2.2.5. Giáo dục bảo vệ môi trường thông hoạt động ngoài trời.
Tổ chức cho trẻ hoạt động ngoài trời cũng có ý nghĩa rất quan trọng, trẻ
được trực tiếp tham quan, dạo chơi ngoài trời, giúp trẻ có thêm kiến thức về môi
trường xung quanh, trực tiếp quan sát môi trường xung quanh, tạo cơ hội để trẻ
được tham gia các hoạt động nhằm bảo vệ môi trường.
Ví dụ: Quan sát vườn rau cô cho trẻ được trực tiếp tham gia trồng rau,
nhổ cỏ, tưới nước cho rau…
13
tay”... cô cũng cần giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ bằng cách như cho trẻ
tham gia đóng kịch có nội dung về bảo vệ môi trường, cho trẻ đọc các bài thơ,
vè, hát các bài hát có nội dung bảo vệ môi trường, tổ chức cho trẻ tham gia các
trò chơi tập thể “ chọn hành vi đúng, sai bỏ đúng theo yêu cầu của cô” “ Tô màu
hành vi đúng gạch bỏ hành vi sai về bảo vệ môi trường” và một số trò chơi khác
có nội dung về bảo vệ môi trường.
Hình ảnh một số bài tập gạch hành vi sai tô màu hành vi đúng cô cho trẻ làm
2.2.7. Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động lao động.
Thông qua hoạt động lao động tự phục vụ giáo viên giáo dục trẻ tự cất đồ
dùng cá nhân như dép, mũ, túi sách… đúng nơi quy định, tự gấp quần áo, tự
đánh răng, rửa mặt, chải tóc… gọn gàng sạch sẽ. Cô cũng cần hướng dẫn trẻ lau
chùi đồ dùng, đồ chơi cùng cô giáo, cùng cô quét dọn lớp thu dọn bàn ghế sau
khi học, giúp cô thu dọn gối, chiếu, sạp giường sau khi ngủ dạy…cùng cô chăm
sóc vườn rau cây cảnh làm môi trường trong và ngoài lớp luôn xạch đẹp tạo cảm
giác thoải mái và thân thiện. Những việc làm thiết thực đó đã giúp trẻ ngày càng
có ý thức hơn, có hành vi đúng đắn hơn để bảo vệ môi trường.
15
2.3. Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua việc ứng dụng công nghệ
thông tin.
Trong giai đoạn hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác
giảng dạy là vô cùng hữu ích; sử dụng công nghệ thông tin trong hoạt động học
giúp cho trẻ có tư duy trực tiếp để phát huy tính tích cực, trẻ hứng thú bao nhiêu
thì kết quả đạt được càng tốt bấy nhiêu. Vì vậy nên tôi luôn hướng dẫn và
khuyến khích giáo viên ứng công nghệ thông tin vào việc chăm sóc giáo dục trẻ,
như trong giờ hoạt động học cô sử dụng giáo án điện tử để dạy trẻ và sưu tầm
những tài liệu, những băng đĩa có nội dung về môi trường và bảo vệ môi trường
Chúng ta đều biết giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội. Nếu làm tốt công
tác xã hội hóa giáo dục, biết cách phối hợp các tổ chức, huy động mọi lực lượng
trong xã hội tham gia sự nghiệp trồng người sẽ tạo được một môi trường tốt cho
trẻ được hoạt động và trải nghiệm. Biết rõ tầm quan trọng đó tôi và ban giám
hiệu nhà trường đã thường xuyên xây dựng kế hoạch phối hợp công đoàn, đoàn
thanh niên, giáo viên trong trường vận động phụ huynh và các tổ chức cá nhân
có lòng hảo tâm ủng hộ cả về vật chất lẫn tinh thần, phát huy hiệu quả tạo sức
mạnh tổng hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ.
Đặc biệt là trong năm học 2015 - 2016 cán bộ và giáo viên đã kêu gọi phụ
huynh làm mới sân trường và cải tạo khu bếp ăn cho trẻ tạo cho trẻ một môi
trường chăm sóc, học tập, vui chơi rất tốt từ đó giúp trẻ ngày một phát triển toàn
diện hơn.
Hình ảnh sân trường trước và sau khi làm công tác xã hội hóa giáo dục
17
Hình ảnh khối công trình HĐNT - Kết quả của công tác XHHGD
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
1. Đối với hoạt động giáo dục.
Bằng những biện pháp và hình thức trên, kết qủa giáo dục bảo vệ môi
trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi có những chuyển biến rất đáng kể, trẻ nhận
biết phân biệt môi trường sạch, môi trường bẩn ngày càng tốt hơn, trẻ biết chia
sẽ và hợp tác với bạn bè và những người xung quanh, có phản ứng với các hành
vi của con người làm bẩn môi trường và phá hoại môi trường.
Một số hoạt động của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trường MN Hoằng Quý
18
số
Mức độ đạt được trên trẻ
Đạt
Khá
%
TB
%
Chưa
đạt
32,3
0
0
0
30
48,4
7
11,3
62
42
67,7
20
62
25
40,3
62
45
62
27
Qua bảng khảo sát lần 2 cho thấy: Sau khi áp dụng các biện pháp giáo dục
bảo vệ môi trường cho trẻ, kết quả chung trên trẻ tăng lên rõ rệt.
Kết quả trong công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ đạt tỷ lệ khá
cao, cho thấy việc cô giáo và phụ huynh đóng vai trò rất quan trọng giúp trẻ lĩnh
hội được nhiều hiểu biết của mình về môi trường và bảo vệ môi trường; từ đó góp
phần quan trọng tạo ra một lớp người mới có sự hiểu biết và có ý thức đầy đủ về
bảo vệ môi trường.
2. Đối với bản thân.
đạo Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non, để đạt
được kết quả tốt trong các tiết học ngoài việc truyền thụ những kiến thức cơ bản
của từng môn học giáo viên phải khéo léo lồng ghép, kết hợp Giáo dục bảo vệ
môi trường sao cho phù hợp, nhẹ nhàng, thoải mái. Ngoài các tiết học ra giáo
viên cũng khéo léo lồng ghép các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ
vào các hoạt động khác, từ đó trẻ sẽ lĩnh hội một cách nhanh chóng và thoải mái,
không gò ép.
- Để giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi được tốt người giáo
viên phải có lòng yêu nghề mến trẻ và cần phải có năng lực và trình độ chuyên
môn chắc, có kiến thức về môi trường và bảo vệ môi trường để làm tốt nhiệm vụ
chăm sóc và giáo dục trẻ.
- Giáo viên phải luôn tự học hỏi, tìm tòi những biện pháp hay trong tài
liệu sau đó áp dụng vào việc chăm sóc và dạy trẻ:
+ Thường xuyên tạo cơ hội cho trẻ được trực tiếp quan sát tham gia các
hoạt động bảo vệ môi trường.
+ Luôn tìm tòi tranh ảnh, những câu chuyện kể về tấm gương bảo vệ môi
trường để nêu gương trước trẻ.
+ Luôn kết hợp giữa gia đình và nhà trường để giúp trẻ tiếp cận và lĩnh
hội những kiến thức cơ bản về bảo vệ môi trường một cách tốt hơn.
+ Học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, nghiên cứu tài liệu để
từ đó rút cho mình những bài học hay nhất góp phần vào việc chăm sóc và giáo
dục trẻ đặc biệt là giáo dục bảo vệ môi trường đạt kết quả cao.
II. KIẾN NGHỊ.
Đề nghị cấp trên và lãnh đạo địa phương quan tâm đầu tư, nhanh chóng
sửa chửa, nâng cấp cơ sở hạ tầng của trường (văn phòng, lớp học); mua sắm
trang thiết bị, đồ chơi ngoài trời cải tạo khuôn viên, tạo điều kiện về không
gian lớp học rộng rãi cho trẻ hoạt động và trải nghiệm, cũng như cho giáo
viên trong việc tổ chức các hoạt động cho trẻ mọi lúc mọi nơi để khắc sâu
thêm kiến thức.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ được rút ra trong quá trình tôi chỉ đạo
* Tài liệu tham khảo
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Tên tài liệu
Tài liệu tập huấn về giáo
dục bảo vệ môi trường cho
giáo viên mầm non
Hướng dẫn thực hiện nội
dung giáo dục bảo vệ môi
trường trong trường mầm
non
Module MN 7: Xây dựng
môi trường giáo dục cho
trẻ MN.
Module MN 27: Thiết kế
các hoạt động giáo dục
dục an toàn giao thông.
Chương trình giáo dục Bộ giáo dục và đào tạo
mầm non
Hướng dẫn tổ chức thực
hiện chương trình giáo dục
mầm non (5 – 6 tuổi).
Tham khảo qua mạng
Internet.
Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam
Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam
22
23