SKKN mầm non quản lý: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC SỨC KHOẺ DINH DƯỠNG CHO TRẺ MẦM NON - Pdf 41

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục Mầm non là một bộ phận rất quan trọng trong việc hình
thành con người mới xã hội chủ nghĩa. Tâm lý học hiện đại đã chứng minh rằng
“ Nên người là trẻ lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, lịch sử đã được vật chất hoá và
nền văn hoá của loài người, quá trình đó chỉ được thực hiện trong điều kiện có sự
hướng dẫn thường xuyên của người lớn tức là giáo dục”
Mục tiêu của giáo dục Mầm non là nâng cao chất lượng: Chăm sóc- nuôi
dưỡng và giáo dục trẻ trước 6 tuổi, tạo cơ sở để trẻ phát triển toàn diện về thể
chất- nhận thức- ngôn ngữ- tình cảm và kỹ năng xã hội- thẩm mỹ. Mở rộng nhà
trẻ và lớp mẫu giáo trên địa bàn dân cư, đặc biệt là nông thôn và những vùng khó
khăn, tăng cường các hoạt động phổ biến kiến thức và tư vấn nuôi dạy con theo
khoa học đến các bậc phụ huynh và cộng đồng là việc làm cần thiết.
Ngoài tác động của nhà trường, trẻ em còn chịu tác động của gia đình, xã
hội. Vì vậy việc thống nhất các lực lượng giáo dục và ảnh hưởng của gia đình, xã
hội đối với sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em trở thành một vấn đề
quan tâm ngày càng nhiều trong giáo dục Mầm non.
Sức khoẻ là vốn quý báu nhất của con người, để tham gia vào các hoạt
động thì con người cần phải có sức khoẻ. Đặc biệt đối với trẻ em lứa tuổi Mầm
non thì sức khoẻ lại càng quan trọng hơn vì ở giai đoạn này cơ thể các cháu đang
phát triển mạnh, các cơ quan chức năng tâm sinh lý của trẻ đang dần dần được
hoàn thiện. Trẻ có sức khoẻ thì mới tích cực tham gia vào các hoạt động như:
Hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, hoạt động lao động, ngày hội, ngày
lễ,..muốn có cơ thể khoẻ mạnh phải có sự đầu tư tốn kém, lâu dài. Những bài học
kinh nghiệm cho thấy những can thiệp trực tiếp trên trẻ đã bị suy dinh dưỡng
như phục hồi trẻ suy dinh dưỡng thường khó có thể đạt được kết quả cao là do
trẻ bị đã mắc các bệnh dịch, ăn uống không đủ chất, vệ sinh cá nhân và vệ sinh
môi trường kém, phòng chống bệnh dịch cho trẻ chưa kịp thời chính vì những
nguyên nhân khách quan và chủ quan trên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ
của trẻ. Vì vậy việc chăm sóc sức khoẻ- dinh dưỡng cho trẻ là việc làm rất quan
trọng. Nên tôi đã lựa chọn đề tài: “ Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất
lượng chăm sóc sức khoẻ - dinh dưỡng cho trẻ” trong trường mầm non xã Nga

* Vệ sinh môi trường: Công tác vệ sinh môi trường không đảm bảo, vệ
sinh cá nhân kém và phòng tránh bệnh tật cho trẻ không kịp thời sẻ ảnh hưởng
không nhỏ đến sức khoẻ của trẻ Mầm non. Làm tốt công tác vệ sinh môi trường,
vệ sinh cá nhân và phòng ngừa kịp thời các bệnh dịch thường xảy ra với trẻ, nó
sẽ giảm thiểu số trẻ bị suy dinh dưỡng, giúp cho trẻ phát triển cân đối, hài hoà,
thông minh, nhanh nhẹn.
Việc phòng chống suy dinh dưỡng và chống bệnh béo phì cho trẻ Mầm
non là công việc thường xuyên và liên tục cần trải qua nhiều năm và nhiều người
thực hiện.Xuất phát từ những yêu cầu quan trọng trên đối với trẻ Mầm non. Bản
thân tôi là một cán bộ quản lý, tôi vô cùng quan tâm trăn trở với nhiệm vụ chăm
sóc sức khoẻ và nuôi dưỡng trẻ ở trường Mầm non xã Nga Tiến -Huyện Nga
Sơn- Tỉnh Thanh Hoá. Nhằm phát triển một cách toàn diện về thể chất- nhận
thức- ngôn ngữ- tình cảm và kỹ năng xã hội- thẩm mỹ cho trẻ.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1. Thực trạng chung:
Trường mầm non xã Nga Tiến là trường chuẩn Quốc gia cho nên cơ sở
vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi trong nhà trường được trang bị đầy đủ
để phục vụ công tác “ Chăm sóc- nuôi dưỡng và giáo dục trẻ”. Nhà trường luôn
được sự quan tâm của Phòng giáo dục và đào tạo huyện Nga Sơn và Đảng uỷ và
chính quyền địa phương, các đoàn thể trong xã hội như: Hội phụ nữ, đoàn thanh
niên, hội người cao tuổi, hội cha mẹ học sinh của nhà trường. Đặc biệt trong
những năm gần đây phòng giáo dục và Đào tạo tổ chức các lớp chuyên đề về
2


“Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ mầm non”, chuyên
đề “ Phòng chống các bệnh thường gặp ở trẻ mầm non”... đã nâng cao về kiến
thức- kỹ năng- thái độ, về hình thức, phương pháp tổ chứclồng ghép các hoạt
động chăm sóc sức khoẻ và nuôi dưỡng trẻ về cách phòng tránh các bệnh dịch,
chăm sóc giấc ngủ, giờ ăn, chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ

trẻ có kết quả như sau:
Bảng 1: Khảo sát kiến thức của giáo viên và nhân viên về chăm sóc sức
khoẻ và dinh dưỡng cho trẻ mầm non trường Mầm non Nga Tiến.

3


Nôi dung khảo sát
-Giáo viên

kiến
thức- kỹ
năng
truyền
thông

- Giáo viên
thực hiện vệ
sinh ATTP và
vệ sinh môi
trường

- Giáo viên có - Tổ chức bữa - Ý thức trách
kiến thức về ăn và rèn nếp nhiệm của giáo
phòng
bệnh ăn cho trẻ
viên về chăm
cho trẻ
sóc sức khoẻ
và dinh dưỡng

chưa đủ quen ăn uống mạnh, thông
mắc
giấc,
đủ 4 nhóm
minh, mạnh
các
Kênh Kênh Kênh Kênh
BT
SDD BT
thấp
còi
40cháu
75
265
260
246
55
225
76
( 3 trẻ
ở trên
+3)
Tỷ lệ %
24.9%
88%
86.4%
81.7
18.3
74.8
25.2

những kiến thức của mình phổ biến cho đội truyên truyền viên vào các buổi sinh
hoạt chuyên môn, các buổi hội thảo, tôi còn hướng dẫn cho đội tuyên truyền xây
dựng các bảng, góc tuyên truyền ở các nhóm, lớp. cung cấp tài liệu cho học viên
giúp người học nắm chắc để truyền thông cho phụ huynh cách nuôi dạy con đến
từng gia đình, từng nhóm, lớp, từng lứa tuổi. nên đã thống nhất được cách chăm
sóc sức khoẻ và dinh dưỡng cho các cháu một cách hợp lý và thu hút được sự
tham gia của đa số các bậc phụ huynh.
* Kết quả: Chính vì vậy mà kiến thức về chăm sóc sức khoẻ và dinh dưỡng của
đội tuyên truyền viên nâng cao hơn, đồng thời kiến thức của các thành viên trong
nhà trường cũng được nâng cao rõ rệt. Qua đó tôi có được uy tín, niềm tin đối
với các giáo viên trong nhà trường, các bậc cha mẹ học sinh.
c- Lập kế hoạch tuyên truyền hàng tháng, cho cả năm học: 2011- 2012:
Bắt đầu năm học tôi đã chỉ đạo các lớp xây dựng nội dung tuyên truyền
thực hiện các chủ đề, các đề tài như:
-Tôi đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện chuyên đề “ Giáo dục dinh
dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm” cụ thể cho cả năm học, từng tháng, tuần
bám vào chủ đề để cho đội ngũ tuyên truyền và tất cả các cán bộ, giáo viên thực
hiện.
Ví dụ: Tôi xây dựng kế hoạch tháng 10 năm 2011 với chủ đề : “Gia đình”
và lồng ghép các nội dung sau:
- Xây dựng nội dung tuyên truyền cho các bậc phụ huynh bám vào nội
dung của chủ đề là:
+ Nhu cầu của gia đình: Cần phải ăn đủ 4 nhóm chất: chất đạm, chất bột
đường, chất béo, chất vi tamin và muối khoáng.
+ Các hoạt động của gia đình liên quan sức khoẻ: Cần phải tập thể dục thể
thao, cần được nghỉ ngơi, thư giãn.
Ví dụ: học ở chủ đề: “ Bản thân” tôi chỉ đạo cho các nhóm lớp như:
- Xây dựng mục tiêu, nội dung giáo dục cho trẻ trong chủ đề:
+ Hướng dẫn, lồng ghép cho trẻ về vệ sinh cá nhân trẻ như: rửa mặt, rửa
tay, chải đầu.

Chất lượng chăm sóc- nuôi dưỡng trẻ phụ thuộc chủ yếu vào tay nghề,
trình độ nghiệp vụ và ý thức của những người thực hiện như: các nhân viên, tổ
nuôi, kế toán, y tế, các cô giáo trực tiếp trên nhóm, lớp. Nhận thức được tầm
quan trọng đó tôi đã đi sâu, đi sát tìm hiểu về năng lực của giáo viên để biết được
giáo viên có khả năng, kiến thức, ý thức trách nhiệm về “ Chăm sóc sức khoẻ và
dinh dưỡng cho trẻ”như thế nào.Tôi thấy ý thức của giáo viên về vấn đề chưa
cao, chưa nhận thức được hết tầm quan trọng về công việc của mình như: Với cô
nuôi thì nhận thức rằng chỉ cần cơm chín, canh ngọt là được, ít để ý đến việc làm
cho đúng qui trình, còn giáo viên tổ chức bữa ăn không ý thức được chính bản
thân khi tổ chức bữa ăn trên lớp cũng có thể gây ra việc mất vệ sinh an toàn thực
phẩm và cần phải lồng ghép nội dung dinh dưỡng và vệ sinh cá nhân trong các
bữa ăn.
Qua khảo sát đầu năm về chất lượng giáo viên, nhân viên như sau:
- Tổng số giáo viên có nội dung tuyên truyền và nội dung giáo dục lồng ghép
phù hợp 16/2 = 69.6%.
- Cô nuôi có khả năng chế biến món ăn đúng qui trình 3/5 = 60%
- Giáo viên trên lớp có khả năng tổ chức bữa ăn đúng qui cách và hợp vệ sinh là
14/17 = 82.4%
Từ thực trạng trên mà tôi đã băn khoăn, trăn trở để tìm ra những biện pháp
hữu hiệu nhất để làm chuyển biến nếp nghĩ và thói quen của giáo viên trong nhà
trường. tôi đã tìm hiểu nguyên nhân và tâm tình cùng với giáo viên nuôi và giáo
viên phụ trách ở các nhóm lớp, động viên họ cần quan tâm và làm chu đáo hơn
công tác chăm sóc sức khoẻ và nuôi dưỡng trẻ. Trong nhà trường Mầm non cần
phải chú trọng cả 3 nội dung là chăm sóc- nuôi dưỡng - giáo dục, không coi nặng
nội dung giáo dục, mà xem nhẹ nội dung chăm sóc và nuôi dưỡng. Để có chất
lượng hơn tôi đã thường xuyên kiểm tra và nhắc nhở nhẹ nhàng, tế nhị những
6


giáo viên và cô nuôi chưa làm tròn trách nhiệm trong công tác của mình từ khâu

ghép phù hợp 21/22 = 91.3%.
- Giáo viên cô nuôi có khả năng chế biến món ăn đúng qui trình 5/5 = 100%
- Giáo viên trên lớp có khả năng tổ chức bữa ăn đúng qui cách và hợp vệ sinh là
16/17 = 94.4%
3. Đảm bảo vệ sinh môi trường trong sạch an toàn cho trẻ
a- Vệ sinh môi trường:
Con người sống trong môi trường thiên nhiên, luôn tiếp xúc với yếu tố của
môi trường, có những yếu tố có lợi cho sức khoẻ và có những yếu tố có hại nguy
hiểm cho sức khoẻ. Nước- Ánh sáng- Không khí là ba nguồn tài nguyên vô giá
mà tự nhiên ban tặng cho con người nói riêng và mọi vật nói chung. Nếu chúng
ta có ý thức bảo vệ, có ý thức trong khi sử dụng và giữ vệ sinh môi trường sạch
sẽ thì phòng tránh được 85% bệnh tật. Như vậy môi trường chính thức liên quan
đến sức khoẻ và hạnh phúc của con người. Đối với các cháu tuổi Mầm non môi
7


trường ấy chính là phòng học, phòng ăn, phòng ngủ, nhà bếp, sân chơi, nhà vệ
sinh, đồ dùng cá nhân, đồ dùng đồ chơi, dụng cụ phục vụ cho công tác chăm sócnuôi dưỡng và giáo dục trẻ. Chính vì lý do và tầm quan trọng trên tôi đã triển
khai cho tất cả các nhóm lớp, bộ phận nhà bếp treo lịch vệ sinh cụ thể là:
- Vệ sinh hàng ngày:
+ Các phòng nhóm, lớp, nhà bếp vệ sinh quét dọn lau chùi, mở cửa thông
thoáng hàng ngày lau chùi bàn ghế, lau sàn nhà,...
+ Đồ dùng, dụng cụ phục vụ ăn uống rửa sạch tráng nước sôi hoặc phơi
nắng và xếp đặt gọn gàng sạch sẽ.
+ Khăn mặt, khăn ăn của trẻ được ngâm xà phòng giặt sạch phơi nắng.
+ Thực hiện vệ sinh cá nhân trẻ luôn sạch sẽ như: Rửa tay trước khi ăn và
sau khi đi vệ sinh bằng xà phòng, đánh răng sau khi ăn,...
- Vệ sinh hàng tuần, hàng tháng, năm:
+ Khăn mặt của trẻ, bát thìa của trẻ mỗi tuần luộc 1 lần vào thứ 6.
+ Tổng vệ sinh phòng học, phòng ăn, phòng ngủ, nhà bếp, vệ sinh môi


- Thông qua cuộc họp phụ huynh, hội thảo của nhà trường tôi đã cùng với
ban chấp hành hội phụ huynh nêu lên nguyên nhân các cháu bị suy dinh dưỡng
và thấp còi, nhận thức kém, trẻ không tăng cân, chậm chạp, là do các cháu trong
nhà trường ta chế độ ăn chưa đảm bảo mức định lượng Calo theo qui định của
ngành. Chính vì định lượng ăn của các cháu quan trọng như vậy mà tôi rất mong
các bậc phụ huynh hãy qua tâm đến việc đóng góp số tiền ăn cho các cháu là:
14.000đ/ ngày/ cháu để đảm báo định lượng Calo. Thông qua các dịp này mà
100% các bậc phụ huynh hiểu rõ và nhất trí cao với việc đóng góp tiền ăn cho
các cháu.
Ngoài ra tôi còn khai thác từ các nguồn như: các cơ quan, đoàn thể cho
thêm, nhà trường tham gia hỗ trợ từ vườn rau, cây quả mà nhà trường tăng gia
chăm sóc. trong năm học: 2011- 2012 nhà trường đã tăng gia và thu nhập từ
vườn rau của nhà trường có rau sạch cho các cháu ăn có trị giá 3.500.000đ.
*Kết quả:
+ 100% trẻ được ăn và chăm sóc tại trường:
+ Đảm bảo cho trẻ ăn đủ no, đủ chất theo định lượng Calo qui định: Nhà
trẻ:1180; mẫu giáo: 1470/trẻ/ ngày. Ở trường trẻ đã đạt trên 70% lượng Calo
theo qui định.
+ Sức khoẻ của trẻ được nâng lên và giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, bệnh tật
và số trẻ đi học đều đặn và thường xuyên hơn, trẻ tăng cân, khoẻ mạnh, thông
minh, nhanh nhẹn.
* Tổ chức tốt bữa ăn và rèn nếp ăn cho trẻ:
Ăn uống hợp lý là một trong những điều kiện tốt cơ bản cho sự phát triển
thể lực và tầm vóc trẻ. Tổ chức tốt bữa ăn cho trẻ là làm cho trẻ ngon miệng, ăn
hết suất, cơ thể trẻ hấp thu thức ăn một cách tốt nhất. Giáo dục cho trẻ những
hành vi đẹp trong bữa ăn như không nói chuyện, không làm rơi vãi, khi ho phải
quay ra ngoài,..
Tôi chỉ đạo cho tất cả các giáo viên và nhân viên nhà bếp sắp xếp khoa
học, đồ dùng để ăn được rửa sạch sẽ tráng lại bằng nước sôi úp xuống cho khô,...

sau:
- Tạo nơi ngủ cho trẻ: Nơi ngủ của trẻ phải có không khí trong lành thoáng
mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, ánh sáng dịu và có đủ trang thiết bị cần thiết
đảm bảo cho trẻ ngủ. Vì thế tôi chỉ đạo cho giáo viên phải chuẩn bị tốt phòng
ngủ cho trẻ theo thời tiết trong ngày, phù hợp theo mùa.
- Rèn thói quen cho trẻ ngủ: đi vệ sinh trước khi ngủ; cởi tất, quần áo dày,
khăn mũ,.. trước khi ngủ; không chạy, nhảy trước khi ngủ; không nói chuyện
trong khi ngủ, cất dép đúng nơi qui định, nằm đúng vị trí ngủ của mình, ngủ
đúng giờ, đủ giấc theo qui định.
- Chăm sóc trẻ ngủ: Cho trẻ đi ngủ đúng giờ, đủ giấc. trước khi trẻ ngủ cô
cần tạo cảm giác cho trẻ dễ ngủ bằng cách cô kể chuyện, hát những bài hát ru,
cho trẻ nghe băng những làn điệu hát ru mượt mà giúp trẻ dễ đi vào giấc ngủ.
Khi trẻ ngủ cô phải quan sát để phát hiện xử lý kịp thời những tình huống có thể
10


xảy ra trong khi trẻ ngủ như: Sửa tư thế nằm cho trẻ, đắp chăn cho trẻ, điều chỉnh
tốc độ quạt cho phù hợp,...
Những trẻ khó ngủ cô cần quan tâm dỗ dành trẻ để tất cả trẻ đều được ngủ
trưa.

( Hình ảnh: Cô giáo : Nguyễn Thị Ngoan lớp 4-5 tuổi trường mầm non Nga Tiến đang chăm
sóc cháu ngủ trưa)

6. Chỉ đạo và giám sát việc xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn và
quá trình thực hiện:
Chỉ đạo, giám sát việc xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn là một biện
pháp thể hiện tính hiệu quả và tiết kiệm trong quản lý. tính khẩu phần ăn và xây
dựng thực đơn đa dạng, phong phú, đảm bảo định lượng Calo. Là Phó hiệu
trưởng nhà trường tôi đã cùng kế toán, nhà bếp, giáo viên chủ nhiệm để đưa ra



- Canh rau ngót nấu xương
Thực đơn mùa đông
Thứ/ngày Bữa trưa
Bữa chiều
2
- Thịt xào giá
- Bún thịt
- Canh cua nấu rau cải
3
- Trứng đúc thịt
- Miến nấu thịt
- Canh cà chua trứng
4
- Muối lạc, vừng
-Phở gà
- Canh củ hầm xương
5
- Cá rim
- Xôi ruốc đậu xanh
- Canh rau bắp cải
6
- Thịt sốt cà chua
- Cháo đậu xanh đường
- Canh rau cải cúc nấu hến
Khi xây dựng được thực đơn xong tôi đã triển khai việc lên kế hoạch hợp
đồng thực phẩm có đầy đủ các thực phẩm trong thực đơn và được ký kết giữa
bên A là nhà trường, UBND xã, Trạm y tế và bên B là người cung cấp thực
phẩm thực hiện nghiêm túc theo hợp đồng đã ký kết, nếu ai làm sai hợp đồng

tham mưu và mua được tổng số là 4 cái nồi cơm điện đủ phục vụ cho số lượng
cháu ăn trong nhà trường là 301 cháu.
* Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm:
Vệ sinh thực phẩm, vệ sinh trong lúc chế biến đã được qui định rất cụ thể
trong qui chế của ngành. Do đó tôi đã xây dựng được mô hình “Chăm sóc giáo
dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm”như: nâng cao kiến thức cho giáo
viên, nhân viên tổ nuôi xây dựng được mạng nội dung hoạt động theo các chủ
đề, giáo dục dinh dưỡng cho trẻ phù hợp với độ tuổi.
Vấn đề an toàn thực phẩm hiện nay là vấn đề bức xúc nhất trong toàn xã
hội, do thiếu sự kiểm soát chặt chẽ, chưa có qui định trách nhiệm nghiêm ngặt
nên thực phẩm kém chất lượng hoặc có nhiều hoá chất vẫn còn tràn lan trên thị
trường mà mắt thường không thấy được, chỉ khi chế biến, hoặc xảy ra ngộ độc
mới biết được. Để giảm tối đa những trường hợp đáng tiếc tôi đã chỉ đạo.
- Nguồn gốc cung cấp thực phẩm phải rõ ràng.
- Lựa chọn thực phẩm tươi, sạch an toàn rõ nguồn gốc. Để làm được điều
đó cần phải xem xét chọn mua thực phẩm với những người đã được đăng ký mua
bán với nhà trường cụ thể.
- Hàng ngày khi giao nhận thực phẩm tôi chỉ đạo cho nhân viên y tế kết
hợp cùng với tổ nuôi kiểm tra, ghi nhận có phiếu thu chi hàng ngày, thực phẩm
từ người cung cấp thực phẩm mang đến, nếu đảm bảo, số lượng, chất lượng thì
tôi mới nhận, không đảm bảo thì yêu cầu đổi lại.

( Hình ảnh: Kiểm tra giao nhận thực phẩm hàng ngày trường mầm non Nga Tiến)

- Đến khâu sơ chế, chế biến theo quy trình một chiều, từ sống đến chín,
không để gần thức ăn sống với thức ăn chín và thực hiện đúng theo qui trình.
- Khi chia thức ăn phải được bỏ vào xoong đậy nắp để đảm bảo vệ sinh an
toàn tránh bụi, ruồi.
13


nhiên cũng không nên dùng nhiều. Vì vậy khi nấu nướng thức ăn nên dùng cách
luộc, hấp nhiều hơn chiên, xào, ăn các loại trái cây tươi ít ngọt ( mận, thanh long,
bưởi, táo ta, đu đủ, cam,..) để vừa giảm cung cấp năng lượng vừa bổ sung thêm
lượng Vitamin, muối khoáng vừa dễ tiêu hoá hấp thu và ngừa táo bón, thải
Cholesterol và các chất độc hại ra khỏi cơ thể.
Hạn chế tối đa các chất ngọt như: Kẹo, bánh ngọt, Sôcôla, không nên cho
trẻ luôn ăn quà vặt, giữa các bữa ăn nếu trẻ đói có thể cho trẻ ăn trái cây.
+ Cho trẻ thực hiện các bài tập thể dục:
Các trẻ béo phì cần tập thể dục ít nhất một đến hai lần mỗi ngày. Lúc tập
thể dục sáng xong cho trẻ tập thêm các bài tập dành cho trẻ béo phì. Như cho trẻ
trẻ lắc vòng, leo thang,.. với các nội dung trang bị tại sân trường. Hoạt động thể
lực sẽ làm tiêu bớt mỡ thừa, cơ thể sẽ săn chắc và gọn hơn.
Ở trường vẫn cho trẻ ăn đủ lượng Prôtít, tăng cường rau xanh, cho trẻ ăn
hàng ngày như: rau cải, bí xanh, rau dền, mồng tơi,..

14


Các cô giáo cho trẻ béo phì tham gia các hoạt động trong lớp như: Trực
nhật, xếp ghế, phơi khăn phụ cô,..
Giáo dục trẻ mọi lúc, mọi nơi, cung cấp kiến thức để trẻ có ý thức phòng
bệnh bằng cách lồng ghép nội dung giáo dục vào các hoạt động, tình huống, câu
chuyện, tạo tác động giúp trẻ cảm nhận bằng sự so sánh trực quan cụ thể.
Ví dụ: Cô giáo chọn 5 bạn vừa được chọn đi thi “ Bé khẻo- Bé ngoan” lên
và cho một số bạn béo phì tham gia trò chơi vận động “Đi qua chướng ngại vật”
tìm chất dinh dưỡng cung cấp chất Vi ta min và muối khoáng mà phòng chống
được bệnh béo phì. Cách tổ chức chia hai đội, một đội là các cháu vừa chọn đi
thi và một đội là các cháu bị béo phì có số lượng như nhau. Như vậy các cháu sẽ
lên chọn các loại rau, củ quả như: mậm thanh long, bưởi, táo ta, đu đủ, cam, rau
cải, bí xanh... qua trò chơi cho trẻ biết: các bạn béo phì cần phải ăn uống theo

+Cá nhân ủng hộ: 4.793.000đ
* Số lượng đồ dùng, trang thiết bị được mua sắm mới và bổ xung là:
15


- 45 đôi chiếu = 4.950.000đ
- 35 cái chăn = 2.975.000đ
- 8 cái xoong = 760.000đ
- 65 cái bát I nốc+ thìa = 510.000đ
- 1 tủ lạnh =3.800.000đ
- 30 cái xô+ chậu =1.050.000đ
- 19 cái rổ+ rá =475.000đ
- Xây thêm 1 bể nước = 5.500.000đ
- Khăn mặt 301 chiếc = 1.505.000đ
- Nồi cơm điện 4 chiếc = 7.800.000đ
- Máy xay thịt = 2.300.000đ

- 30 cốc uống nước = 300.000đ
- 1 bếp ga công nghiệp = 720.000đ
- 6 giá phơi khăn = 900.000đ
- 3 giá để guốc, dép = 330.000đ
- 34 bô vệ sinh = 340.000đ
- Khoan thêm 1 giếng nước ngọt
=7.500.000đ
- Ry đo che bóng nắng các phòng
học là 10 chiếc = 650.000đ
- Mua 1 tủ thuốc+ ống nghe+ cấp
nhiệt độ+ cáng khiêng = 570.000đ

Tổng mua sắm bổ sung phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ và nuôi



- Trẻ mắc bệnh phải được nghỉ học và không tiếp xúc với trẻ khác. Thu
gom xử lý phân của trẻ bằng Cloramin B, vôi bột hoặc tro bếp,...Tránh làm vỡ
các nốt bỏng của trẻ.
- Khi thấy trẻ bị sốt và xuất hiện nốt phỏng ở bàn tay, bàn chân hoặc niêm
mạc miệng, cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời
cho trẻ.
* Kết quả: Chính vì công tác tuyên truyền và thực hiện tốt như vậy, nên trong
năm học 2011- 2012 mặc dù đâu đó ở các trường trong huyện có các cháu bị
bệnh “Tay- chân- miệng” nhưng trường Mầm non Nga Tiến không sảy ra một
trường hợp nào cháu mắc bệnh này.

(Hình ảnh: Bác sỹ: Mai Thị Thoa- Trạm y tế xã Nga Tiến đang khám bệnh
“ Tay- chân- miệng” cho các cháu trường mầm non)

Đồng thời nhà trường được thụ hưởng dự án của tổ chức Care quốc tế về
“ Phòng ngừa tủi ro” cho các vùng dễ bị thiên tai, hiểm hoạ trong huyện cho nên
nhà trường đã thực hiện tốt công tác “ Phòng ngừa thiên tai, hiểm hoạ” cho các
cháu trong trường Mầm non:
- Tôi đã lên kế hoạch hoạt động cho các nhóm, lớp.
- Chỉ đạo giáo viên soạn 10 giáo án tổ chức dạy cho trẻ có kiến thức- kỹ
năng, thái độ trong việc phòng ngừa thiên tai, hiểm hoạ:
Ví dụ: Bão, lụt, lũ, sóng thần, sạt lở đất, phòng chống cháy , mưa đá, lốc,...
Để đảm bảo chất lượng về “ Phòng ngừa thiên tai, hiểm hoạ” tôi đã tham
mưu với đồng chí Hiệu trưởng nhà trường đã tổ chức thi cho các cháu vẽ tranh;
hội thi tiểu phẩm về “ phòng ngừa thiên tai và thảm hoạ”. Qua hội thi này giúp
trẻ củng cố sâu hơn kiến thức- kỹ năng- thái độ về phòng ngừa thiên tai và hiểm
hoạ khi có thiên tai, hiểm hoạ rảy ra.


trường
và dinh dưỡng
cho trẻ

23
21
22
21
23
22
Tỷ lệ %
93.3%
95.7%
93.3%
100%
95.7%
Bảng 2: Khảo sát chất lượng trẻ qua hoạt động chăm sóc sức khoẻ và dinh dưỡng trẻ.
Tổng
Chăm
số trẻ
sóc
Chăm sóc dinh dưỡng
Cân đo khám sức khoẻ
khảo
giấc
sát
ngủ
- Trẻ ngủ Cháu có thói Trẻ
khoẻ
Cân nặng

92%

8%

91.7
%

8.3%

8.3%

- Số trẻ được khám bệnh: 301/301 cháu = 100%
- Không còn cháu nào ở kênh trên +3
C. KẾT LUẬN
1. Kết luận:
Qua thực tế công tác chỉ đạo nâng cao chất lượng “ Chăm sóc sức khoẻ và
dinh dưỡng cho trẻ mầm non” tại xã Nga Tiến- Huyện Nga Sơn đã cho chúng tôi
thấy được công tác “ Chăm sóc- nuôi dưỡng và giáo dục” nói chung và công tác
chăm sóc- nuôi dưỡng nói riêng có tính chất quyết định đến sự hình thành và
phát triển nhân cách trẻ Mầm non một cách toàn diện. Việc tổ chức loại hình “
Bán trú” cho trẻ ở lứa tuổi mầm non là một yếu tố khách quan, là nhu cầu cấp
18


thiết do thực tế giáo dục trong giai đoạn mới này đòi hỏi. Do đó việc chăm sócnuôi dưỡng và giáo dục trẻ bán trú là nhân tố quyết định đến chất lượng của nhà
trường Mầm non, là vấn đề thiết thực đến lợi ích trước mắt và mai sau, là nguyện
vọng tha thiết và chính đáng của đa phần các bậc cha mẹ học sinh, là thực hiện
đúng đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, của Bác Hồ. Vì vậy muốn nâng
cao được chất lượng “ Chăm sóc sức khoẻ và dinh dưỡng cho trẻ” Mầm non thì
người cán bộ, giáo viên Mầm non cần làm tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn,

bớt được nguy cơ độc hại đến với con người nói chung và các cháu Mầm non nói
riêng. Nhà nước cần có chế độ, chính sách ưu tiên chế độ tiền ăn cho tất cả các
cháu mẫu giáo vùng đặc biệt khó khăn để giảm thiểu tỷ lệ suy dinh dưỡng cho
trẻ.
Trên đây là “ Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc sức
khoẻ và dinh dưỡng cho trẻ mầm non” ở trường Mầm non xã Nga Tiến- Huyện
Nga Sơn đã được thực nghiệm và có kết quả khả quan. Song trong quá trình
19


thực hiện cũng không tránh khỏi những lúng túng, thiếu sót, rất mong được sự
góp ý, đóng góp của Hội đồng khoa học ngành giáo dục, để sáng kiến của tôi có
kết quả cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nga Tiến; Ngày 10 tháng 4 năm 2012
NGƯỜI THỰC HIỆN

Mai Thị Thuý

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status