1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Nói đến thẩm mỹ là nói đến cái đẹp, cái đẹp trong tự nhiên, trong đời
sống,trong ứng xử,trong đạo đức. Vậy giáo dục thẩm mỹ cho trẻ là giáo dục
những gì ? Đó chính là giáo dục," hình thành cho trẻ năng lực cảm thụ và nhận
thức đúng đắn về cái đẹp trong đời sống sinh hoạt, xã hội, trong tự nhiên và trong
nghệ thuật; giáo dục trẻ lòng yêu cái đẹp và năng lực sáng tạo ra cái đẹp ".
Giáo dục thẩm mỹ là nội dung rất quan trọng và cần thiết trong việc hình
thành và giáo dục phát triển toàn diện nhân cách của trẻ,có thể coi trẻ ở lứa tuổi
mầm non là thời kỳ " hoàng kim " của giáo dục thẩm mỹ. Ở lứa tuổi này tâm hồn
trẻ rất nhạy cảm, dễ xúc động với con người và cảnh vật xung quanh, trí tưởng
tượng của trẻ bay bổng, phong phú do vậy khả năng cảm nhận về nghệ thuật,
năng khiếu của trẻ thường được bộc lộ rõ nét nhất. Thông qua giáo dục thẩm mỹ
trẻ hiểu được cái hay, cái đẹp của cuộc sống, đồng thời có cách ứng xử đối với
người thân, cô giáo, bạn bè và mọi người xung quanh. Không những thế; giáo dục
thẩm mỹ còn giúp trẻ biết cảm nhận, thưởng thức cái hay,cái đẹp xung quanh,làm
cho tâm hồn trẻ trong sáng, tràn ngập vui sướng khi tiếp xúc với cái hay,cái đẹp;
đồng thời làm tăng thêm cảm xúc, lòng yêu thiên nhiên, con người, cao hơn là
giúp trẻ có cảm hứng sáng tạo ra cái đẹp.
Nước ta đang trong quá trình hội nhập với thế giới, điều này làm cho tiến
trình quốc tế hóa diễn ra hết sức mạnh mẽ, kéo theo đó là sự giao lưu, xâm nhập
của các nền văn hóa. Ngoài những mặt tích cực còn có mặt tiêu cực; mặt trái của
sự xâm nhập đó làm phai nhạt những nét đẹp của văn hóa dân tộc. Vì vậy hơn lúc
nào hết, ngay từ độ tuổi mầm non chúng ta cần dạy cho trẻ những giá trị văn hóa,
giá trị cái đẹp của văn hóa dân tộc, những nét đẹp về đức tính, hành động, sống
đẹp của con người Việt Nam, giá trị tốt đẹp của truyền thống lịch sử, cũng như
những nét đẹp của thiên nhiên, phong cảnh Việt Nam.
Trong thực tế tại đơn vị tôi công tác, việc giáo dục phát triển thẩm mỹ cho
trẻ cũng đã được giáo viên quan tâm và thực hiện theo kế hoạch chương trình
chuyên môn, nhưng kết quả thu được trên trẻ chưa cao, số đông giáo viên thường
1
1.3. Đối tượng nghiên cứu
2
Với phạm vi của đề tài nghiên cứu thì đối tượng nghiên cứu của tôi là 21 giáo
viên trực tiếp CS-GD trẻ khối mẫu giáo và 440 trẻ mẫu giáo từ 3-5 tuổi tại trường
mầm non Quảng Phong .
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã vận dụng các phương pháp sau
- Phương pháp : điều tra khảo sát thực tế
Tôi đã vận dụng phương pháp này để khảo sát năng lực, kiến thức về giáo
dục thẩm mỹ và các biện pháp mà giáo viên đã vận dụng trực tiếp dạy trẻ từ 3-5
tuổi trong giáo dục phát triển thẩm mỹ. Khảo sát kiến thức, khả năng nhận thức
thẩm mỹ, khả năng cảm nhận và sáng tạo trong thẩm mỹ của trẻ.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết .
Đây là phương pháp nghiên cứu tài liệu, thu thập tài liệu liên quan đến
thẩm mỹ, giáo dục phát triển thẩm mỹ cho trẻ mầm non
- Phương pháp thực nghiệm khoa học
Dùng phương pháp thực nghiệm nhằm tác động những biện pháp mới vào
đối tượng nghiên cứu theo dự kiến của đề tài nghiên cứu
- Phương pháp phân tích,tổng kết kinh nghiệm.
Dùng phương pháp này để xem xét lại những thành quả của lĩnh vực phát
triển thẩm mỹ trong các năm học trước để đúc rút ra những kết luận bổ ích trong
thực tiễn nghiên cứu,điều chỉnh các giải pháp,biện pháp mới đang áp dụng.
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin Giáo dục thẩm mỹ là giáo dục
về cái đẹp : giáo dục cho con người biết cảm thụ, đánh giá và sáng tạo ra cái đẹp,
thẩm mỹ cho trẻ đã được giáo viên quan tâm, nhiều giáo viên có năng khiếu về
hội họa, ca hát, múa, biên đạo múa, dàn dựng kịch, điều này có nhiều thuận lợi
trong thực hiện nội dung giáo dục các bộ môn nghệ thuật.
Nhà trường cũng đã chú trọng đầu tư, xây dựng môi trường văn hóa, nghệ
thuật, cơ sở vật chất tương đối đầy đủ để giáo viên thực hiện nội dung phát triển
thẩm mỹ cho trẻ.
Nhà trường cùng phụ huynh học sinh trang bị tương đối đầy đủ màn hình ti
vi đa năng để giáo viên thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
4
Phụ huynh trẻ đa số rất ủng hộ, hỗ trợ nhiệt tình giáo viên trong quá trình
chăm sóc, giáo dục trẻ.
2.2.2. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên thì việc thực hiện giáo dục phát triển
thẩm mỹ cho trẻ còn gặp những khó khăn, hạn chế cần khắc phục:
Giáo viên không đồng đều về năng khiếu, đa số hạn chế về khả năng tạo
hình, ca hát. Kiến thức về giáo dục thẩm mỹ của số đông giáo viên còn hiểu chưa
chính xác, nhất là giáo viên trẻ, mới vào nghành, việc xác định nội dung giáo dục
thẩm mỹ còn nhầm lẫn sang giáo dục nghệ thuật.
Giáo viên chưa quan tâm đến gợi xúc cảm thẩm mỹ, cảm nhận về cái đẹp,
nhận ra cái đẹp trong tự nhiên, đời sống và trong nghệ thuật.
Phần lớn phụ huynh chưa quan tâm đúng mức đến lĩnh vực phát triển thẩm
mỹ của con mình mà chủ yếu quan tâm đến lĩnh vực phát triển nhận thức, thể
chất.
Nhận thức của trẻ về cái đẹp, xúc cảm, rung động trước cái đẹp, khả năng
phát hiện, phản ánh, tái tạo và sáng tạo ra cái đẹp của trẻ còn nhiều hạn chế.
Sau khi khảo sát kiến thức và kỹ năng của giáo viên và khảo sát chất lượng
học sinh về lĩnh vực phát triển thẩm mỹ tôi thu được kết quả như sau:
* Đối với giáo viên:
Gợi cảm Nắm
Có nhiều Linh hoạt
có xúc cho vững các sáng
tiết cái đẹp
tạo xử lý các
trong
tình
trẻ trong thực hiện huống
dạy năng
lĩnh vực GDPTTM nghệ
khiếu
8
38,0
thẩm mỹ
14
66,6
10
47,6
%
110
34,0
hoạt sáng tạo khi
học
170
38,6
210
47,7
70
15,9
2.3. Các giải pháp đã sử dụng
2.3.1.Bồi dưỡng kiến thức về giáo dục thẩm mỹ cho giáo viên.
Khi được thảo luận về kiến thức thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ cho trẻ thì
phần lớn giáo viên trường tôi, nhất là những giáo viên trẻ mới vào nghành đều
lúng túng khi trả lời câu hỏi : Các đồng chí hiểu thẩm mỹ là gì? Giáo dục thẩm
mỹ cho trẻ là giáo dục những gì ? 30% giáo viên trả lời tương đối đủ nội dung
giáo dục thẩm mỹ, 30% GV trả lời là tập cho trẻ các bài hát, múa, vẽ,nặn, xé
dán, 40% không có câu trả lời, ... Như vậy một số giáo viên trường tôi đang còn
nhầm lẫn giữa nghệ thuật và thẩm mỹ. Nếu những hạn chế này không được khắc
phục thì giáo viên không thể thực hiện có kết quả trong lĩnh vực giáo dục phát
triển thẩm mỹ cho trẻ, chính vì vậy mà tôi đã giúp giáo viên hiểu đúng, hiểu rõ
thẩm mỹ là gì ? thẩm mỹ được thể hiện dưới những hình thức nào ? và giáo dục
thẩm mỹ cho trẻ là giáo dục những gì ? để từ những kiến thức đó giáo viên xác
- Yêu thích, hào hứng tham gia vào các hoạt động nghệ thuật .
Căn cứ vào mục tiêu và yêu cầu cần đạt của độ tuổi trẻ mẫu giáo tôi yêu
cầu giáo viên trực tiếp dạy trẻ ở các độ tuổi mẫu giáo bé, nhỡ, lớn làm rõ nội dung
giáo dục thẩm mỹ cho trẻ theo từng độ tuổi cụ thể mà mình trực tiếp giảng dạy,
bám sát vào nội dung chương trình giáo dục mầm non mà BGD&ĐT quy định
phù hợp với các chủ đề trong năm học. Cốt lõi của 3 mục tiêu giáo dục thẩm mỹ
cho trẻ mầm non giáo viên cần nắm vững và hiểu rõ.
Tổ chức cho giáo viên xây dựng các tiết dạy thực hành đối chứng với các
nội dung giáo dục thẩm mỹ mà giáo viên đã làm rõ theo từng độ tuổi . Tôi cùng
giáo viên cốt cán xây dựng 3 hoạt động của 3 môn học nhấn mạnh đến giáo dục
thẩm mỹ để giáo viên toàn trường dự giờ rút kinh nghiệm ( 1. Hoạt động âm
7
nhạc, 2. Hoạt động tạo hình, 3. Hoạt động văn học ). Sau đó mỗi giáo viên xây
dựng các tiết dạy để thực hành dạy , giáo viên vững chuyên môn thì thực hành
các tiết dạy ít hơn, còn giáo viên yếu chuyên môn thì được thực hành dạy nhiều
hơn cho tổ chuyên môn dự giờ rút kinh nghiệm.
Sau mỗi đợt thực hành, tôi lồng đánh giá các tiết dạy thực hành của giáo
viên vào các buổi sinh hoạt khối, tổ, để những giáo viên không được dự giờ được
rút kinh nghiệm đồng thời tháo gỡ những vướng mắc về nội dung tiết dạy cũng
như phương pháp, hình thức, cách gợi cảm xúc, sáng tạo cho trẻ trong thực hiện
tiết dạy của giáo viên. Tôi đặc biệt chú trọng và nhấn mạnh cho giáo viên về cách
tôn trọng, trân trọng những cái đẹp, những sáng tạo của trẻ, khuyến khích trẻ thể
hiện tài năng của mình, giáo viên cần khơi gợi cho trẻ những cảm xúc khi trẻ
được ngắm nhìn, lắng nghe, thưởng thức cái đẹp hay kết quả sáng tạo ra cái đẹp
của trẻ .
Tôi cũng đã chú trọng bồi dưỡng giáo viên theo từng hạn chế của mỗi giáo
viên bằng cách phân nhóm giáo viên theo từng nhóm hạn chế để thuận tiện cho
việc bồi dưỡng và giáo viên hỗ trợ lẫn nhau trong nhóm cùng tiến bộ.
thức,cảm nhận sắc nét cái hay, cái đẹp của âm nhạc khơi gợi cảm xúc và thị hiếu
thưởng thức âm nhạc của trẻ đồng thời trẻ nhận ra những giai điệu vui tươi, trong
sáng hay những giai điệu ngọt ngào, tình cảm của các bài hát, bản nhạc thông qua
lời ca và âm thanh của bài hát mà nghệ sỹ biểu diễn.
Đối với giáo viên hạn chế về năng khiếu vẽ tôi đã hướng dẫn giáo viên
thiết kế giáo án điện tử vận dụng thanh công cụ Draw, AutoShapes trên máy tính
để vẽ các đối tượng và sử dụng các hiệu ứng trong ba boi để lập trình cho đối
tượng xuất hiện theo ý muốn, thay thế bước giáo viên vẽ mẫu trong hoạt động tạo
hình, đây là biện pháp rất hiệu quả khi vận dụng, giúp giáo viên khắc phục hạn
chế về khả năng vẽ của mình và giúp trẻ cảm nhận hình mẫu của cô vẽ chính xác
hơn, thẩm mỹ hơn, sắc nét hơn về đối tượng trẻ vẽ .
Đề giáo viên có thể vận dụng được biện pháp này vào hoạt động tạo hình
của trẻ, ngay từ năm học 2015-2016 và năm học 2016 - 2017 tôi đã bồi dưỡng
cho giáo viên về cách sử dụng và thiết kế hình ảnh trên máy tính và trên phần
Microsoft Powerboint, tôi đã mở chuyên đề và hướng dẫn giáo viên thực hiện
theo trình tự từ học lý thuyết đến thực hành thiết kế giáo án Powerboint. Với khả
năng thiết kế các hình ảnh Powerboint của mình cùng với lòng mong muốn giáo
9
viên ngày càng tiến bộ và thực hiện các hoạt động giáo dục trẻ có hiệu quả hơn ,
tôi đã chia nhỏ từng nhóm giáo viên cứ 4-5 giáo viên 1 nhóm để thuận tiện trong
hướng dẫn và kèm cặp giáo viên thực hành, cứ như thế từng nhóm giáo viên biết
cách thiết kế giáo án Powerboint và sau khi giáo viên cơ bản biết thao tác trên
Powerboint thì tôi tiến hành giáo viên sử dụng thanh công cụ Draw và
AutoShapes , đây là bước dùng đường nét, hình học để tạo hình đối tượng, sau
khi có được đối tượng theo yêu cầu thì giáo viên sử dụng bảng màu FilColor để
đổ màu cho đối tượng theo ý thích, bước tiếp theo hướng dẫn giáo viên cài hiệu
ứng trong Powerboint cho đối tượng lập trình thứ tự xuất hiện theo từng bước
hướng dẫn của giáo viên.
12
Đối với trẻ mẫu giáo nhỡ tôi nâng cao yêu cầu và độ khó hơn như gấp con Thằn
Lằn, con Thỏ, con Mèo, Cái mũ,.....
13
14
Đối với trẻ mẫu giáo lớn tôi nâng cao yêu cầu và độ khó hơn chút nữa như
gấp con Bọ Ngựa, con Nhện, Hoa, Máy Bay, Con Trâu,....
15
2.3.4 Nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ thông qua hình tượng
nghệ thuật.
Đối với trẻ thì việc giáo dục thẩm mỹ thông qua hình tượng nghệ thuật là
một phương tiện giáo dục thẩm mỹ đạt hiệu quả tốt nhất, bởi vì những sản
phẩm nghệ thuật đã được chủ thể của nó trau chuốt,làm cho nó đẹp hơn, chuẩn
mực hơn, sản phẩm nghệ thuật phản ánh hiện thực khách quan bằng cảm nhận
nghệ thuật và giá trị thẩm mỹ , thị hiếu thẩm mỹ của người sáng tạo ra , chính vì
vậy mà những sản phẩm nghệ thuật khi đến với trẻ nó mang một thông điệp thẩm
mỹ tốt hơn giúp trẻ dễ cảm nhận và có xúc cảm trước cái đẹp một cách cụ thể
hơn. Thông qua các câu chuyện, bài thơ, vở kịch, các bài hát, bản nhạc,hay những
bức tranh,....thậm chí là những chương trình trên ti vi cũng mang lại cho trẻ
ra được những sở thích, hiểu biết của riêng trẻ để có những điều chỉnh trong quá
trình giáo dục thẩm mỹ, dần giúp trẻ có những đánh giá thẩm mỹ, những chuẩn
mực và thị hiếu thẩm mỹ đúng đắn. Giáo viên luôn tôn trọng những ý kiến nhận
xét, đánh giá của trẻ, tránh chê bai trẻ làm cho trẻ mặc cảm, mất tự tin khi nói lên
nhận xét, đánh giá về đối tượng.
Tất cả những công việc này giáo viên giữ một vai trò to lớn trong quá trình
cung cấp kiến thức thẩm mỹ cho trẻ, vừa là người định hướng vừa là người truyền
cảm xúc, kích thích sự sáng tạo trong quá trình phát triển thẩm mỹ, năng lực đánh
17
giá thẩm mỹ và thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của trẻ.
2.3.5.Nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ thông qua cảnh
đẹp thiên nhiên, lễ hội
Hình thành cho trẻ năng lực nhận thức thẩm mỹ hay còn gọi là năng lực
cảm thụ thẩm mỹ của trẻ thông qua những cảnh đẹp thiên nhiên là một giải pháp
dễ thu hút sự chú ý, hứng thú trải nghiệm của trẻ, với những đặc điểm tò mò ham
hiểu biết, thích khám phá của lứa tuổi mầm non, với những phong cảnh thiên
nhiên kỳ thú, cảnh quan đẹp luôn tạo hứng thú và hấp dẫn đối với trẻ. Những hoạt
động, những buổi trẻ được khám phá những cảnh đẹp từ thiên nhiên luôn là đề tài
mới lạ, gợi cho trẻ nhiều xúc cảm thẩm mỹ, những rung động, tình cảm và những
cảm hứng sáng tạo ra cái đẹp trong nghệ thuật
Nhận thấy giá trị to lớn của hoạt động này tôi đã chỉ đạo giáo viên tận dụng
công nghệ thông tin mang đến cho trẻ những trải nghiệm nhiều hơn với cảnh đẹp
thiên nhiên, như các giờ hoạt động góc, hoạt điộng chiều hay ở các hoạt động làm
quen với môi trường xung quanh, hoạt động tạo hình,.... giáo viên vận dụng tranh
ảnh hay những đoạn phim, video về phong cảnh, danh lam thắng cảnh trong nước
cũng như trên thế giới để trẻ được thưởng thức và cảm nhận vẻ đẹp của thiên
nhiên, sự kỳ diệu của cuộc sống mang đến những xúc cảm thẩm mỹ giúp trẻ nhận
thức được đâu là cảnh đẹp từ đó hình thành ở trẻ thị hiếu thưởng thức cái đẹp,
đề thực hiện trong năm và kết hợp với chuyên đề lễ giáo, phát triển kỹ năng giao
tiếp để giáo dục trẻ. Song song với triển khai chuyên đề, tôi đã chỉ đạo các lớp
xây dựng môi trường văn hóa trong ứng xử, giao tiếp giữa cô giáo với trẻ và giữa
trẻ với trẻ đặc biệt giáo viên phải là tấm gương trong giao tiếp, trong ứng xử tạo
môi trường văn hóa trong giao tiếp tại lớp, tại trường, tôn trọng trẻ và đặc biệt là
phải đối xử công bằng với tất cả trẻ với khẩu hiệu " Nói lời hay, làm việc tốt "
Bên cạnh với việc chỉ đạo giáo viên tạo môi trường và làm gương cho trẻ thì tôi
luôn chú trọng đến việc phối kết hợp với phụ huynh học sinh để tạo môi trường
văn hóa ứng xử, giao tiếp tại gia đình, cộng đồng trẻ sinh sống, môi trường gia
đình trẻ tiếp xúc hàng ngày nếu không kết hợp giữa nhà trường và gia đình cùng
giáo dục trẻ thì hiệu quả giáo dục sẽ không cao.
Song song với việc triển khai cho giáo viên lồng ghép vào nội dung các
hoạt động ở các chủ đề, tôi đặc biệt nhấn mạnh giáo viên vận dụng linh hoạt khi
thực hiện các hoạt động làm quen văn học với những câu chuyện, bài thơ có nội
19
dung giáo dục đạo đức, như : lòng hiếu thảo của cô con gái út trong chuyện Ba cô
gái, chuyện Bông hoa cúc trắng,..., tính thật thà, lòng dũng cảm,nhân hậu như :
chuyện Thạch Sanh,.... để trẻ nhận biết được những chuẩn mực đạo đức, biết
được như thế nào là tốt, là hiếu thảo, là dũng cảm, nhân hậu, từ đó hình thành ở
trẻ những xúc cảm trước cái tốt, cái xấu, cái bi, cái hài, từ những xúc cảm đó hình
thành ở trẻ những hành động đẹp, ứng xử đẹp, không những thế trẻ được nghe
những lời thoại của nhân vật trong chuyện trẻ cũng học được nhiều lời hay, ý đẹp
trong lời thoại của các nhân vật trong câu chuyện .
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi áp dụng đề tài này bản thân tôi đã có nhiều giải pháp hay đạt hiệu
quả trong chỉ đạo giáo viên thực hiện nội dung giáo dục đặc biệt là giáo dục phát
triển thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non Quảng Phong,tôi đã có nhiều
kinh nghiệm hơn trong chỉ đạo chuyên môn của nhà trường, năng lực quản lý chỉ
GV tham
kiến thức hiệu quả trẻ trước PPGD
gia khảo
về
sát
hiện
GD các
thẩm mỹ
21
21
%
100
* Đối với trẻ :
có xúc cho vững các sáng
tiết cái đẹp
tạo xử lý các
trong
tình
sát
nhiên,
cuộc động âm nhạc, tham gia các
sống,
nghệ tạo hình, văn HĐ nghệ thuật
thuật
440
%
hoạt sáng tạo khi
học
380
430
430
86,3
97,7
97,7
3. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
370
84,0
3.1. Kết luận và kiến nghị
Quảng Xương, ngày 15 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép SKKN của người khác
Người Viết :
Nguyễn Thị Nhung
TÀI LIỆU THAM KHẢO
22
1. Chương trình giáo dục mầm non, NXB Giáo dục Việt Nam, H. 2009
2. Phê phán năng lực phán đoán,Immanuel Kant, Bùi Văn Sơn dịch và chú giải,
2007, Nxb Tri thức Hà Nội
3. Iu.A. Lu Kin,V.C.XCA.CHE-RƠ-SIC-CÔP, người dịch Hoài Lam, Nguyên lý
mỹ học Mác-Lê Nin,NXBSGK Mác-Lê Nin, Hà Nội, 1985
4. Giáo trình mỹ học Mác-Lê Nin, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 2001
5. Chức năng của giáo dục nghệ thuật, Ths. Giáo dục học Đinh Thị Hà-Phó
trưởng khoa GDĐC trường ĐHSP Nghệ thuật TW
6. Chức năng giáo dục thẩm mỹ của nghệ thuật, Ths. Lê Thị Thanh Huyền - Khoa
tâm lý giáo dục trường ĐH Hải Phòng.
23