Một Số Kinh Nghiệm Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Làm Đồ Dùng Học Tập, Đồ Chơi Tự Tạo Từ Nguyên ,Vật Liệu Sẵn Có Ở Địa Phương - Pdf 40

MỘT SỐ KINH NGHIỆM
CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LÀM ĐỒ DÙNG HỌC TẬP, ĐỒ CHƠI TỰ
TẠO TỪ NGUYÊN ,VẬT LIỆU SẴN CÓ Ở ĐỊA PHƯƠNG.

A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
I.

Lời mở đầu:

Đặc biệt là đối với chương trình đổi mới hình thức tổ chức giáo dục và chương
trình Mầm non mới hiện nay việc sử dụng các nguyên vật liệu sẵn có ở địa
phương để làm đồ dùng học tập đồ chơi cho trẻ chơi là hết sức cần thiết. Với
phương châm :
“ Học bằng chơi, chơi mà học” đồ dùng học tập, đồ chơi giúp trẻ mở rộng và
hiểu biết về thế giới xung quanh, đồ dùng học tập, đồ chơi còn góp phần giúp trẻ
phát trển toàn diện về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và
thẩm mỹ, khả năng giao tiếp, ứng sử trong cuộc sống. Hơn thế nữa đồ đồ dùng
học tập, đồ chơi tự tạo là nguyên vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền và nếu được học thì ai
cũng có thể làm được theo ý tưởng riêng của mình một cách sáng tạo.
Chúng ta đều hiểu và biết rằng : Đồ dùng học tập, đồ chơi cùng với trò chơi là
nhu cầu tự nhiên không thể thiếu được đối với cuộc sống của trẻ .Đồ dùng học
tập, đồ chơi là phương tiện để trẻ hoạt động vui chơi mà hoạt động vui chơi là
hoạt động chủ đạo của trẻ Mầm non. Ngoài đồ dùng học tập ra, đồ chơi vốn là
thứ trẻ yêu thích nhất, không có đồ chơi trẻ không có phương tiện, môi trường để
hoạt động và thực hiện các trò chơi. Cách thức chơi với đồ chơi và những thứ đồ
chơi mà trẻ yêu thích được thay đổi theo sự phát triển và hiểu biết của trẻ thì
chính đồ chơi đó lại trở thành đồ dùng học tập của trẻ giúp trẻ có nhiều cơ hội
trải nghiệm và lĩnh hội các kiến thức thông qua đồ chơi được sử dụng trong các
trò chơi, vì vậy càng có nhiều cách để trẻ chơi với một đồ chơi thì trẻ càng có cơ
hội học tập và tích luỹ kiến thức theo các cách khác nhau.


2


Số cán bộ giáo viên hiểu cách làm, biết cách vận dụng và khả năng sáng
tạo còn hạn chế, mới chỉ tập trung ở các giáo viên trẻ, khéo tay và có năng khiếu
làm đồ dùng học tập, đồ chơi.
Một số giáo viên chưa phát huy hết tác dụng của những đồ dùng học
tập,đồ chơi đã có.
3. Kết quả của thực trạng:
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc hướng dẫn, chỉ đạo và động viên
các giỏo viờn ở cỏc nhúm lớp tự làm đồ dùng học tập, đồ chơi từ các nguyên,
vật liệu sẵn có nhưng để đáp ứng được với yêu cầu thì phần nào đó còn hạn chế,
số đồ dùng học tập, đồ chơi phục vụ cho việc học tập, vui chơi và các hoạt động
khác đã có mặt nhưng chưa phong phú về hình thức và chủng loại. Thực tế:

TT

Nội dung

Tổng
số

Mức độ
Đạt
Chưa đạt
yêu cầu
yêu cầu
Số
lượng


40

15

65

8

35

4

học tập, đồ chơi.
Số CBGV biết cách làm và vận 23

13

56.6

10

43.4

5

dụng sáng tạo.
Số CBGV sử dụng có hiệu quả đồ 23

15


1.Tổ chức hội thảo về đồ dùng học tập, đồ chơi và nâng cao kỹ năng làm đồ
dùng học tập, đồ chơi cho cán bộ giáo viên
2.Phát động phong trào làm đồ dùng học tập, đồ chơi cho trẻ từ các nguyên, vật
liệu dễ kiếm đồng thời sử dụng có hiệu quả đồ dùng học tập, đồ chơi đã làm.
3. Tổ chức hội thi làm đồ dùng học tập, đồ chơi tự tạo từ nguyên, vật liệu sẵn có.
4. Khai thác tiềm năng sẵn có từ các bậc phụ huynh, các lực lượng xã hội trong
việc tìm kiếm nguyên vật liệu ủng hộ nhà trường, đồng thời cùng dành thời gian
và công sức làm đồ dùng học tập, đồ chơi cho trẻ.
5. Định hướng kế hoạch, thời gian chủ động làm đồ dùng học tập, đồ chơi cho
nhà trường và cho giáo viên.
II. CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
I .Tổ chức hội thảo về đồ dùng học tập, đồ chơi và nâng cao kỹ năng làm đồ
dùng học tập đồ chơi cho cán bộ giáo viên.
Bồi dưỡng và nâng cao kiến thức, kỹ năng làm đồ dùng học tập, đồ chơi
cho cán bộ giáo viên có rất nhiều hình thức, mỗi hình thức đều mang lại hiệu quả
riêng nhưng theo tôi tổ chức hội thảo không những mang lại hiệu quả cao về
4


chuyên môn mà còn là hình thức bồi dưỡng về năng lực giao tiếp, kỹ năng ứng
sử, đặc biệt là năng khiếu cá nhân, bởi qua hội thảo họ được trao đổi, được bàn
bạc, được thảo luận đưa ra ý kiến của riêng mình trên cơ sở đó học tập kinh
nghiệm lẫn nhau.
Để tổ chức buổi hội thảo được tốt tôi đã cùng Ban giám hiệu nhà trường
xây dựng kế hoạch hội thảo trình lên PGD & ĐT huyện để thống nhất nội dung,
thời gian và hình thức làm.
 Mục đích của hội thảo :
Tận dụng những nguyên, vật liệu dễ kiếm, dễ tìm để làm đồ dùng học tập,
đồ chơi sử dụng trong học tập và trong các trò chơi cho trẻ.
Phát huy óc sáng tạo, kỹ năng làm, rèn luyện tính kiên trì, khả năng khéo

hến, vỏ dừa , vải màu, chai nhựa, giấy, bìa các loại, que, các khối gỗ, sợi đay,
sợi cói rơm rạ đã chuốt phẳng, sợi len, bàn chải răng cũ, ống nhựa, sợi bèo tây
phơi khô..) với bất kỳ hình dáng và kích thức nào, các dụng cụ để làm.
Trên cơ sở thảo luận sôi nổi, nhiệt tình với tinh thần trách nhiệm, tạo
không khí thoải mái, tin cậy lẫn nhau, hướng dẫn nhau về cách làm, qui trình làm
và kỹ thuật làm.
Tổ 1: Kinh nghiệm làm đồ chơi, đồ dùng học tập từ tre, trúc, cói đay, rơm, rạ…
Ví dụ: - Đưa ra kinh nghiệm làm đồ dùng học tập, đồ chơi từ các loại cói đay,
rơm rạ:
+ Đan, tết: thành cái làn, mũ, xoong, nồi, chảo rán, bát thìa, cốc uống nứơc…
phục vụ cho các buổi chơi và các trò chơi phân vai ; các con vật, các hình khối
… để phục vụ chủ đề thế giới động vật, các hoạt động khám phá khoa học , nhận
biết phân biệt và các hoạt động khác.
+ Bện thành những sợi dây tròn, dây dẹt (Để học tập : Nhận biết dài- ngắn; tròn,
dẹt ; Để chơi: Chơi kéo co, nhảy dây) các thảm tròn, thảm hình chữ nhật, thảm
vuông, thảm hình tam giác (làm đồ dùng học toán: Nhận biết hình tròn, vuông,
6


chữ nhật, tam giác; Để chơi : ngồi chơi ô ăn quan, chồng nụ chồng hoa, nu na nu
nống…) nhằm ôn lại các trò chơi truyền thống, các trò chơi dân gian phục vụ
một số nội dung trong cuộc vận động “trường học thân thiện, học sinh tích cực”
- Kinh nghiệm làm đồ dùng học tập, đồ chơi từ các loaị tre trúc song mây:
+Từ các ống, các đoạn tre ngà, trúc vàng có màu vàng óng rất đẹp , với kích
thước dài ngắn, to, nhỏ khác nhau có thể làm bộ lồng ghép, bộ gõ, bộ lăn, xúc
xắc, cán cờ, đũa dài, đũa ngắn, làm tầu hỏa, làm cối giã gạo, làm thùng sách
nước…những đoạn trúc nhỏ hơn có thể làm đồ chơi xâu hạt.
- Kinh nghiệm làm từ bìa, giấy, đất nặn : Họ cho biết có thể dùng đất sét của địa
phương nhào cho mềm rồi nặn các sản phẩm theo ý muốn, mang phơi khô, khi
sử dụng sạch sẽ, vệ sinh không kém đất mua sẵn.

ghế, bộ ấm chén, tủ quần áo, con cá, con chim bồ câu.
- Những dây buộc hàng bằng ni lông các màu đan thành những bộ lồng rất đẹp
không kém lồng nhựa.
- Đồ chơi bằng rơm, cói, đay : Tết thành con tôm, con cá, con cua (các con vật
sống dưới nước) phục vụ cho chủ đề thế giới động vật; cái đĩa, cái bát , cái
cốc… (đồ dùng ăn uống) phục vụ cho khám phá khoa học, nhận biết tập nói, cho
các trò chơi phân vai….
Tổ 3: Kinh nghiệm làm đồ chơi từ các cách phun, vẩy, búng, thổi, vo vê..
Ví dụ: Từ màu nước đã được pha sẵn, kết hợp giữa kỹ năng : phun, thổi , vẩy
búng theo ý tưởng cá nhân để tạo thành các mảng màu đậm nhạt theo ý muốn,
hoặc dùng bàn chải đánh răng cũ thấm vào mầu nước khác nhau rồi vẩy, bật
bung trên nền bìa thành các mảng lấm chấm với màu sắc khác nhau để tạo thành
bức tranh con vật hay bức tranh cây cảnh, bông hoa rất đẹp .
Ngoài ra lớp còn được học tập, củng cố và nâng cao các kỹ năng khác như
Vo, vê, xé dán, cắt dán, dập giấy, miết đất, đắp, bồi, khâu vá…để tạo ra nhiều
sản phẩm khác nhau mọi người được thực hành nhiều lần và bằng khả năng sáng
8


tạo của mình cho ra đời được nhiều sản phẩm phong phú, đẹp mắt, có giá trị sử
dụng như cây cối , đồ vật, con vật, tranh ảnh, người, các đồ dùng gần gũi phục
vụ trong sinh hoạt hàng ngày …có thể nói sản phẩm làm ra muôn màu muôn vẻ
được trưng bày như là một “thư viện” đồ chơi tạo thành bức tranh sinh động,
đẹp mắt và vô cùng hấp dẫn.
Kết quả:
Về nhận thức : Tất cả mọi người đều phấn khởi và khẳng định sau hội
thảo họ học tập được nhiều điều bổ ích như cách làm, kỹ năng làm và nhất là kỹ
thuật làm nhanh hơn, chính xác hơn và có những đồ dùng học tập, đồ chơi mà
theo họ cách làm của bạn dễ hơn nhưng tạo sản phẩm lại đẹp hơn.
Về số lượng: Nhiều hơn, đủ cho các hoạt động học và chơi của trẻ.

đã cùng ban giám hiệu chỉ đạo các lớp xây dựng môi trường lớp học khoa học,
sắp xếp hợp lý giúp trẻ dễ thấy, dễ lấy, dễ sử dụng, dễ cất nhằm tạo điều kiện cho
trẻ được chơi với đồ chơi thường xuyên theo ý thích cá nhân của mình.
Để có nhiều đồ dùng học tập,đồ chơi cho trẻ chơi và cũng là một trong các
hình thức sử dụng có hiệu quả đồ dùng học tập,đồ chơi đã làm , tôi chỉ đạo các
lớp, giáo viên hướng dẫn trẻ cùng tham gia hoạt động làm một số đồ dùng học
tập,đồ chơi đơn giản cùng với cô, bằng hình thức này trẻ tham gia rất hứng thú,
chủ động tìm tòi, khám phá, trải nghiệm để lĩnh hội kiến thức một cách tốt nhất
phù hợp với việc thực hiện các loại chương trình và cũng là thực hiện tốt một số
nội dung của trường học thân thiện, học sinh tích cực mà ngành đang chỉ đạo.
Kết quả: Theo thống kê của các lớp số lượng đồ chơi được xếp loại cấp trường
(tính theo bộ):
Đồ dùng đồ chơi học tập:

45 bộ.

Đồ dùng đồ chơi phản ánh sinh hoạt:

10 bộ.

Đồ dùng đồ chơi sân khấu và âm nhạc: 10 bộ
Đồ dùng đồ chơi trang trí:

20 bộ
10


Đồ dùng đồ chơi lắp ghép, xây dựng:

20 bộ.

tôi nghĩ đây là một hình thức tuyên truyền nhanh nhất, dễ hiểu nhất, hiệu quả
nhất.
Kết quả hội thi : Tính theo đơn vị lớp :
Giải nhất : 2 lớp
Giải nhì : 3 lớp
Giải ba: 3 lớp
Giải khuyến khích 1lớp.
Giải cho những bộ đồ chơi tiêu biểu, độc đáo: 4 bộ.
Để có kinh nghiệm làm đồ dùng học tập, đồ chơi cho những năm tiếp theo,
trên cơ sở bản thuyết minh của các lớp chúng tôi soạn thảo và đóng thành cuốn
sách có tên gọi: “Kinh nghiệm làm dùng học tập, đồ chơi từ các nguyên vật
liệu sẵn có của địa phương” phát cho mỗi lớp một cuốn để học tập theo nhu
cầu.
4.Khai thác tiềm năng sẵn có từ các bậc phụ huynh, các lực lượng xã hội
trong việc tìm kiếm nguyên vật liệu ủng hộ nhà trường, đồng thời cùng
dành thời gian và công sức làm đồ dùng học tập, đồ chơi cho trẻ.
Theo tôi đây là giải pháp quan trọng không thể thiếu được trong việc tìm
kiếm, nâng cao chất lượng làm đồ chơi cho trẻ bởi đây là một lực lượng lớn, nếu
các trường biết tận dụng và khai thác bằng nhiều hình thức thì sẽ thu về nguồn
đồ chơi vô tận.
Ý thức được điều này tôi cùng Ban giám hiệu tập trung cho 2 vấn đề:
* Tuyên truyền cho các bậc phụ huynh và các lực lượng xã hội hiểu được tầm
quan trọng và nguồn lực đồ chơi sẵn có ở địa phương để họ biết và thu gom
giúp nhà trường.
* Khai thác khả năng làm đồ chơi của các bậc phụ huynh và các lực lượng
xã hội:
 Đối với công tác tuyên truyền:
12



 Đối với việc khai thác khả năng làm đồ dùng học tập, đồ chơi của các bậc
phụ huynh và các lực lượng xã hội:
Chúng tôi làm bằng cách thông qua tìm hiểu lý lịch của trẻ về nghề nghiệp, năng
khiếu của từng phụ huynh trong lớp.
Từ chỗ khai thác đúng nghề, đúng nghiệp cùng với khả năng tham mưu
khéo léo, chúng tôi đã có một lực lượng hết sức “ đông đảo”; nhiều phụ huynh
tích cực phát huy “tay nghề” sẵn có của mình cùng tham gia làm đồ dùng học
tập, đồ chơi cho trẻ.
Ví dụ: - Phụ huynh làm nghề thợ may thì tận dụng vải thừa từ nhiều màu sắc để
may các con giống, rối tay, trang trí “sân khấu” cho các câu chuyện kể, cho hoạt
động âm nhạc…
- Phụ huynh làm nghề cơ khí thì uốn thép , khoan sắt : làm các đồ dùng đồ chơi
kéo đẩy như : xe “chở cói”; các vật dụng như : thùng xách nứơc, roa tưới cây ;
“ chiếc nón kỳ diệu” để phục vụ học tập và vui chơi cho trẻ
- Phụ huynh làm nghề mộc thì làm đồ chơi từ gỗ: tạo ra các khối chữ nhật, tròn,
vuông, cuốc, xẻng, liềm cắt cói, liềm cắt lúa, cày, bừa, go dệt chiếu, xe đay…
phục vụ cho chủ điểm ngành nghề nói chung và một số nghề của địa phương
Nga Bạch nói riêng đồng thời cũng phục vụ cho một số trò chơi dân gian là một
trong các nội dung của trường học thân thiện, học sinh tích cực.
- Phụ huynh làm nghề thủ công đan lát thì đan làn, cốc chén, đĩa, mũ, dép…từ
cây cói, sợi đay để tặng nhà trường phục vụ cho chủ điểm gia đình…
Những tấm gương tiêu biểu như phụ huynh của các cháu ở các lớp 5 tuổi A1, 5
tuổi A2, 5 tuổi A3, 4 tuôi B3, Nhóm trẻ 25- 36 tháng… Ngoài ra còn có các
người thân của cán bộ giáo viên như Ông nội của cháu Đào Thanh Bình (lớp 5
tuổi A2); bố đẻ của cô giáo PhạmThị Cúc( Nhóm trẻ 25- 36 tháng) chồng của cô
Lê Thị Dương (Lớp 5 tuổi A2),…

14



5. Định hướng kế hoạch, thời gian làm đồ dùng học tập, đồ chơi cho trường
và giáo viên:
Để có đồ dùng học tập, đồ chơi phục vụ trẻ không phải bất cứ lúc nào
cũng có thời gian để làm, hơn nữa các giáo viên ít có cơ hội học tập lẫn nhau
nâng cao kiến thức kỹ năng làm đồ chơi. Câu hỏi đặt ra là : Làm thế nào để mình
hoàn toàn chủ động có nhiều đồ dùng học tập, đồ chơi tự tạo trong suốt năm
học. Tôi đề nghị và thống nhất với các trường:
Căn cứ vào qui định nhà trẻ hoạt động trong cả thời gian hè, mẫu giáo
được nghỉ 2 tháng (tháng 6,7) tháng 8 dành cho chuyên đề, điều tra cháu trong
độ tuổi và một số công tác khác chuẩn bị cho năm học mới:
Thứ nhất: Trong thời gian hè tiếp tục phát động phong trào tìm kiếm
nguyên vật liệu và động viên chị em tập trung về trường theo tinh thần chung 1-2
tuần làm đồ dùng học tập đồ chơi cho trẻ.
Thứ hai : Trong thời gian hè và trong cả năm học các trường và giáo viên
có kế hoạch bổ sung đồ dùng học tập, đồ chơi tự làm theo tháng, theo chủ đề .
Chúng tôi đề nghị giáo viên căn cứ vào chương trình của từng độ tuổi, từng chủ
đề xem độ tuổi đó, chủ đề đó có những trò chơi gì, bài học gì , cần những đồ
dùng học tập đồ chơi nào, cái gì đã có và có thể vận dụng được, còn cái gì chưa
có để chủ động làm.
Ví dụ : Đối với trẻ mẫu giáo 5 tuổi đang thực hiện chủ đề “Trường mầm non”,
chủ đề tiếp theo là chủ đề “Bản thân” thì ngoài những đồ dùng học tập, đồ chơi
đã có, có thể vận dụng được thì cần phải chủ động bổ sung thêm đồ dùng học
tập, đồ chơi mới đầy đủ và phù hợp cho đề “Bản thân”.
Thứ ba: Phát huy và sử dụng có hiệu quả những đồ dùng đã làm một cách
tốt nhất theo quan điểm làm đồ dùng học tập là để cho trẻ học, làm đồ chơi là để
cho trẻ chơi chứ không phải để trung bày hay trang trí. Luôn luôn thay đổi mẫu
làm, hình thức, kiểu dáng trên cùng một loại đồ dùng đồ chơi để tạo sự hấp dẫn
16




số

Số
lượng

%

yêu cầu
Số

%

lượng

1

Số trường có đủ đồ dùng học tập, đồ 10

10

100

0

0

2

chơi ở mức độ tối thiểu

Số CBGV biết cách làm và vận dụng 23

20

87

3

13

5

sáng tạo.
Số CBGV sử dụng có hiệu quả đồ 23

21

91

2

9

vật liệu để làm đồ dùng học tập, đồ

dùng học tập, đồ chơi đã làm.
2. Bài học kinh nghiệm:
Để chủ động đáp ứng được đồ dùng học tập đồ chơi cho trẻ ngày càng
nhiều, phong phú, hấp dẫn và có chất lượng. Tôi nghĩ chúng ta cần:
2.1 Có kế hoạch chỉ đạo chủ động làm đồ dùng học tập, đồ chơi ngay từ đầu năm

đồng thời được phụ huynh đồng tình ủng hộ - bởi nó mang phong cách riêng,
tính sáng tạo riêng, ý tưởng riêng ,tình cảm riêng, của mỗi phụ huynh, của mỗi
cô giáo và của chính bản thân mỗi trẻ chứa đựng trong những đồ dùng học tập,
đồ chơi đã làm và đã đựơc sử dụng một cách rộng rãi, hứng thú và có hiệu quả.
3, Ý kiến đề xuất:
Đề nghị cấp trên thường xuyên mở các lớp thực hành làm đồ dùng học tập
đồ chơi tự tạo bằng các nguyên, vật liệu sẵn có ở địa phương để cán bộ giáo
viên có cơ hội học tập kinh nghiệm lẫn nhau, nâng cao kiến thức kỹ năng làm
ngày càng sáng tạo, độc đáo và hiệu quả hơn để đồ dùng học tập, đồ chơi tự làm
mãi là nguồn cảm hứng vô tận, niềm đam mê và ngày càng phát huy tác dụng
của nó nhằm thoả mãn những nhu cầu và ham thích chính đáng của trẻ, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện để giúp các trường mầm non hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ được giao trong năm học này và những năm học tiếp theo./.
Nga Bạch ngày 21 tháng 4 năm 2011
19


Người làm sáng kiến kinh nghiệm

Trần Thị Hiền

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status