MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
I. Mở đầu
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Đối tượng nghiên cứu
3
4. Phương pháp nghiên cứu
3
II. NỘI DUNG
3
1. Cơ sở lý luận
của đất nước. Dinh dưỡng và sức khoẻ trẻ em là vấn đề đang được toàn xã hội
quan tâm. Chúng ta đều thấy rõ tầm quan trọng trong việc ăn uống hàng ngày
của trẻ, đó là nhu cầu thiết yếu không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày
của con người, ăn uống là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển, hoạt động
và học tập của trẻ. Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được chăm sóc nuôi dưỡng
và giáo dục trẻ không chỉ là trách nhiệm của mỗi gia đình mà còn của toàn xã
hội. Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống quốc dân đặt nền móng
đầu tiên cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ. Để có thể lực tốt, lớn lên
có thân thể khỏe mạnh có sức đề kháng chống lại bệnh tật, có sức lao động tốt
có đầu óc thông minh và sáng tạo thì ngay từ khi còn nhỏ trẻ cần được chăm sóc
thật đầy đủ và chu đáo, có thể nói “ Sức khỏe ” là vốn quý nhất của con người,
sức khỏe phụ thuộc vào các yếu tố: Dinh dưỡng – phòng bệnh – di truyền. Trong
đó dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất, chăm sóc dinh dưỡng tốt sẽ phòng
bệnh tốt, ít bệnh tật, chống đỡ môi trường và ngược lại, cho nên việc chăm sóc,
nuôi dưỡng rất quan trọng đối với trẻ.
Dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của con người. Trẻ em cần dinh
dưỡng để phát triển thể lực và trí tuệ, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự
sống và làm việc, hay nói cách khác dinh dưỡng quyết định sự tồn tại và phát
triển của cơ thể.
Vì vậy, việc cung cấp đầy đủ các dưỡng chất thiết yếu cho trẻ em ở những
năm đầu đời là quan trọng, nó đặc biệt cần cho quá trình phát triển trí lực và thể
lực sau này của trẻ. Theo các chuyên gia dinh dưỡng trẻ từ 2-5 tuổi nếu có được
chế độ dinh dưỡng hợp lý thì về sau sẽ có thể chất tốt hơn so với các trẻ khác
cùng lứa tuổi mà không có chế độ dinh dưỡng tốt. Mặt khác vệ sinh an toàn thực
phẩm trong nhà trường là cả một vấn đề quan trọng. Trẻ Mầm non đang trong
giai đoạn cơ thể phát triển toàn diện, ở lứa tuổi này trẻ còn non nớt, nhạy cảm,
ngây thơ nhất, mọi sinh hoạt của trẻ đều phụ thuộc hoàn toàn vào cô giáo vì vậy
giáo viên phải chăm chút tỉ mỉ, kiên trì, chịu khó rèn luyện cho trẻ từng bước đi,
lời nói, sửa cho trẻ từng tư thế nằm ngủ, khi ngồi tô vẽ, cầm thìa xúc cơm ăn.
Giáo viên phải hiểu sâu sắc về trẻ, có kiến thức nuôi dưỡng và chăm sóc giáo
một vài kinh nghiệm nhỏ bé để giúp đỡ đồng nghiệp cùng thực hiện công tác
này nên tôi mạnh dạn đưa kinh nghiệm này thành " Một số biện pháp chỉ đạo
nâng cao chất lượng nuôi dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường
mầm non Hoa Mai"..
2. Mục đích nghiên cứu.
- Mục đích là nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm
non Hoa Mai nói riêng và các trường mầm non nói chung đạt kết quả cao và
phát triển toàn diện về mọi mặt. Giúp cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên
nâng cao kiến thức dinh dưỡng và công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong
trường mầm non đạt kết quả cao hơn.
- Đề cập đến một số cơ sở khoa học của công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
trong trường mầm non Hoa Mai.
- Chỉ ra thực trạng về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, đề xuất một số
kinh nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng vệ sinh an
toàn thực phẩm tại trường mầm non Hoa Mai – TP Thanh Hóa.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu “ Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc
nuôi dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non Hoa Mai ”.
Nhằm đưa ra một số biện pháp bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên, nhân viên
nuôi dưỡng ở trường mầm non Hoa Mai – TP Thanh Hóa năm học 2015-2016.
3
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài SKKN của mình lựa trọn, trong quá trình nghiên cứu tôi
đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Tìm tòi, tham khảo tài
liệu có liên quan để nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Phục vụ cho
vào lớp 1.
+ Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc đảm bảo thực phẩm không gây hại cho
sức khỏe con người. Hiện nay vấn đề vệ sinh an thực phẩm đang là mối quan
tâm lớn nhất của toàn xã hội, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm liên quan
đến cả quá trình từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng, nên công tác này đòi hỏi
có tính liên ngành cao và là công việc của toàn dân, thực phẩm là nguồn cung
4
cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của cơ thể, đảm bảo sức khỏe con người
nhưng đồng thời cũng là nguồn có thể gây bệnh nếu không đảm bảo vệ sinh.
Không có thực phẩm nào được coi là có giá trị dinh dưỡng nếu nó không đảm
bảo vệ sinh.
* Trên cơ sở các nhà nghiên cứu đã rút ra tầm quan trọng của dinh dưỡng,
vệ sinh an toàn thực phẩm đối với con người nói chung và trẻ mầm non nói
riêng.Việc nâng cao chất lượng nuôi dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong
trường mầm non là yếu tố quan trọng không kém là Việc đánh giá trung thực
chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ giúp chúng ta nhìn thẳng vào sự thật, có cơ
sở khoa học để từ đó tuyên truyền, vận động, phối hợp với phụ huynh nâng cao
chất lượng cuộc sống giúp trẻ phát triển cân đối, hài hoà cả thể chất lẫn tinh
thần, thông minh, nhanh nhẹn, tháo vát hơn.
Nhưng thực tế hiện nay nguồn thực phẩm tuy nhiều nhưng thực phẩm sạch
đủ dinh dưỡng cho trẻ mới thực sự là hiếm. Vậy làm thế nào để trẻ có bữa ăn
đơn giản nhưng mà đủ chất dinh dưỡng điều dó mới là điều cần ở người lớn
chúng ta.
Trên thực tế còn nhiều phụ huynh chưa hiểu hết về chế độ dinh dưỡng, còn
cho con ăn quá sớm, chưa chế biến đúng và hợp lý, nhiều trường chưa chịu khó
tìm nguồn dinh dưỡng cho trẻ, trang thiết bị còn thiếu thốn mà họ vẫn tiến hành
tổ chức ăn để lấy tiếng và lấy cơ sở để thu hút trẻ.
cạnh đó nhà trường cũng gặp không ít những khó khăn.
b.Thực trạng ở trường mầm non Hoa Mai :
- Trường mầm non Hoa Mai có tổng số 630 trẻ trong độ tuổi ra lớp. Trong việc
chăm sóc giáo dục trẻ, ban giám hiêu, đội ngũ giáo viên luôn tiếp cận với
chương trình giáo dục mầm non mới, không ngừng phấn đấu để từng bước nâng
cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, trẻ đến trường đã có nề nếp thói quen
trong giờ ăn, giờ ngủ, giờ học, giờ chơi. Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ được
nhhà trường quan tâm và thường xuyên cải tạo các món ăn đáp ứng nhu cầu dinh
dưỡng cho trẻ tại trường.
Năm học 2015 - 2016 tổng số trẻ đến trường : 630 công tác chăm sóc bán
trú trẻ đạt 100%. Với 555 trẻ mẫu giáo và 75 trẻ nhà trẻ.Trường có 18 phòng học
và các phòng chức năng với đầy đủ trang thiết bị đảm bảo tôt cho việc phục vụ
chăm sóc giáo dục trẻ. Sân trường có cây xanh bóng mát, sân chơi rộng rãi cho
trẻ đảm bảo theo quy định của nghành học mầm non đề ra. Đội ngũ giáo viên
của trường đạt chuẩn 100% luôn yêu nghề, mếm trẻ nhiệt tình trong công tác,
ham học hỏi tiếp thu kiến thức mới.
Hiện nay vấn đề nâng cao chất lượng nuôi dưỡng và vệ sinh an tòan thực
phẩm có vai trò rất lớn đến việc tổ chức khâu an toàn vệ sinh thực phẩm cho trẻ
ăn bán trú tại trường Mầm non. Vì vậy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và việc
nâng cao chất lượng nuôi dưỡng giữ vị trí quan trọng đối với sức khoẻ trẻ thơ nó
góp phần nâng cao sức học tập, lao động của trẻ trong xã hội ngày càng phát
triển hiện nay.
Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài " Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất
lượng nuôi dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non Hoa
Mai" để thực hiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và đặc biệc là vệ sinh an
toàn tại trường. Chế độ dinh dưỡng không hợp lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khoẻ và sự phát triển toàn diện của trẻ, việc đảm bảo chế độ ăn hàng ngày cho
trẻ được an toàn, vệ sinh, dinh dưỡng hợp lý cân đối các chất là rất quan trọng
và cần thiết trong các bữa ăn của trẻ. Để chế biến được những món ăn phong
phú, thơm ngon, hấp dẫn, đạt tiêu chuẩn về vệ sinh dinh dưỡng cho trẻ đòi hỏi
%
SL
%
SL
%
Kênh thấp
còi
SL
%
NHÀ TRẺ
50
42
84,0
8
16,0
43
630/630
Đạt 100%.
630/630 cháu Đạt 100%.
620/630 cháu Đạt 98 %.
- Tổng số calo bình quân /1trẻ:
870
Đạt 95 %.
- Qua một số kết quả khảo sát của trẻ, thân tôi luôn nghĩ làm thế nào để
nâng cao về chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm trong
nhà trường, từ đó tôi đưa ra một số giải pháp khắc phục giảm tỷ lệ suy dinh
dưỡng và thấp còi của trẻ.
Xuất phát từ những kết quả trên tôi đã tìm tòi học hỏi bằng nhiều biện
pháp và giải pháp để đưa chất lượng nuôi dưỡng năm học 2015-2016 lên đạt
yêu cầu chuẩn mà Sở và phòng Giáo dục chỉ đạo.
3. Các biện pháp đã sử dụng.
3.1. Công tác tham mưu, tuyên truyền:
Trong công tác tham mưu, tuyên truyền, chúng tôi luôn coi trọng về vấn đề
này tới các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền trong phường để mọi người dân đều
hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động chăm sóc sức khỏe và phòng
bệnh cho trẻ Mầm non nói riêng và toàn cộng đồng nói chung.
Ngay từ khi có kế hoạch cụ thể về trường mầm non Hoa Mai, Ban giám
hiệu chúng tôi đã khẳng định là: Muốn triển khai có hiêu quả tốt ở trường mầm
7
Thường xuyên kiểm tra đánh giá theo dõi việc thực hiện của giáo viên nhân
viên có đánh giá xếp loại hàng tháng.
Chỉ đạo các tổ chuyên môn cải tiến hình thức, nội dung sinh hoạt chuyên
môn như: tổ chức hội thi giáo viên dạy giỏi, thi làm đồ dùng đồ chơi, thi cô
nuôi giỏi…
Bên cạnh đó phân công giáo viên có tay nghề vững kèm giúp đỡ giáo viên
còn hạn chế về chuyên môn, những cô nuôi giỏi kèm những cô nuôi còn chưa có kinh
nghiệm để thực hiện tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
Với chức năng là một hiệu phó quản lý công tác chăm sóc nuôi dưỡng trong
nhà trường, tôi đã tham mưu với Ban giám hiệu đưa nội dung tuyên truyền các
tài liệu về vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm lồng ghép trong các cuộc
họp, trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ, đối với các cháu suy dinh
8
dưỡng nhà trường phối hợp với các phụ huynh tăng cường nguồn dinh dưỡng
trong các bữa ăn hàng ngày của trẻ để trẻ phát triển tốt.
Mặt khác tuyên truyền qua tranh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm của các
cơ quan chức năng cung cấp.
Bên cạnh đó chỉ đạo giáo viên tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng vào
chương trình giảng dạy theo các chủ đề.
Tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng – sức khỏe vào chủ đề trường
mầm non. Ở chủ đề này chỉ đạo giáo viên lồng ghép tích hợp những nội
dung sau:
- Làm quen với các món ăn tại trường, tập ăn hết suất, rèn luyện hành vi văn
minh trong ăn uống: Biết mời cô và các bạn trước khi ăn; ngồi ăn ngay ngắn,
không co chân lên ghế; cầm thìa bằng tay phải tự xúc ăn gọn gàng, tránh rơi vãi
ăn từ tốn, nhai kỹ, không nói chuyện và đùa nghịch trong khi ăn.
- Tập tự phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày tại trường: Tự cất, dọn đồ dùng
Làm tốt công tác vệ sinh bếp, đồ dùng, dụng cụ nhà bếp và vệ sinh môi
trường. Vệ sinh môi trường trong bếp phải sạch sẽ, thông thoáng theo quy trình
bếp 1 chiều. Ngoài công tác vệ sinh hàng ngày, định kỳ, hàng tháng phải tổng vệ
sinh xung quanh nhà bếp, vệ sinh nhà bếp – dụng cụ nhà bếp – dụng cụ ăn uống
nơi sơ chế thực phẩm sống – khu chế biến thực phẩm – chia cơm – nơi để thức
ăn chín…
+ Vệ sinh bếp :
Xây dựng bếp theo quy định một chiều: Cửa đưa thực phẩm tươi sống –
sơ chế thực phẩm – tinh chế thực phẩm – bàn chia thức ăn chín – chia thức ăn
chín cho từng lớp. Thực hiện nguyên tắc bếp một chiều nhằm tránh thực phẩm
sống và chín dùng chung một lối đi.
Sắp xếp vị trí các khu vực sao cho thuận tiện, gọn gàng và có biển đề rõ
ràng nơi tiếp phẩm và nơi sơ chế khu nấu chín và nơi chia cơm từng lớp, nhà
bếp phải có bảng phân công trong ngày: Người nấu chính, người nấu phụ. Người
tiếp phẩm, người sơ chế.
Bếp ăn phải có thực đơn theo tuần, bảng định lượng suất ăn hàng ngày.
Phải thực hiện nghiêm túc việc tính khẩu phần ăn cho trẻ, phải thực hiện nghiêm
túc khâu vệ sinh nhà bếp theo lịch hàng ngày, tuần, và tháng, khi nấu xong phải
dọn dẹp, xếp dồ dùng ngăn nắp đúng nơi quy định.
+ Vệ sinh đồ dùng, dụng cụ nhà bếp :
– Dụng cụ sử dụng cho trẻ ăn uống phải sạch sẽ rửa sạch, giữ khô thường
xuyên, sấy bát, đĩa , thh́ìa, nồi, xoong… bát và nơi để thức ăn phải thoáng, phải
có tủ úp bát bằng Inôx, các dụng cụ xoong nồi phải sạch sẽ khô ráo không dùng
đồ nhựa, rá rổ dao thớt phải khô ráo được treo và kê cao thoáng .
– Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vệ sinh dụng cụ, đồ dùng bán trú
phục vụ cho trẻ được trang bị đầy đủ và phù hợp. Dụng cụ sử dụng là đồ Inox, ít
khe kẽ lồi lõm.
- Ngoài ra trên lớp thường xuyên hấp khăn vào tủ sấy, buổi sáng hàng
ngày trước khi trẻ đến lớp.
Liên hệ với trạm y tế của phường về diệt thuốc ruồi, muỗi trước mỗi mùa
mưa hàng năm.
Giáo viên phải luôn có mặt và tham gia cùng trẻ trong mọi sinh hoạt để kịp
thời xử lý những tai nạn, tình huống bất ngờ xảy ra.
+ Đối với trẻ: Mặt mũi chân tay, quần áo sạch sẽ gọn gàng, phải có thói
quen vệ sinh chung, vệ sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống, vệ sinh trong giao tiếp.
+ Đối với cô: Phải thực hiện đúng chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ, thực
hiện nghiêm túc các yêu cầu: Theo dõi kiểm tra sức khoẻ định kì cho trẻ bằng hồ
sơ theo dõi sức khoẻ cho nhóm trẻ, ghi chép và quản lý đầy đủ về hồ sơ của trẻ,
biết phòng và xử lý một số bệnh thông thường của trẻ, nắm bắt được tình hình
của trẻ trong các nhóm lớp, có kế hoạch trao đổi tuyên truyền kiến thức nuôi dạy
trẻ cho phụ huynh.
3.5. Phối kết hợp với lực lượng ngoài nhà trường chăm sóc sức khỏe cho trẻ
a.Với gia đình
Để giúp cho phụ huynh nhận thức đúng về việc chăm sóc nuôi dưỡng các
cháu, thấy rõ nguy cơ bệnh tật và tác hại của việc suy dinh dưỡng ở trẻ nên việc
đầu tiên giáo viên phải trực tiếp gặp gỡ phụ huynh trò chuyện, trao đổi và tuyên
tuyền cách chăm sóc sức khoẻ cho trẻ ở nhà như: Ăn uống đủ chất, ăn đổi bữa
thường xuyên, cách phòng và chữa một số bệnh thông thường, cách chế biến
thức ăn rẻ tiền mà đủ chất, cách sắp xếp đồ trong gia đình gọn gàng ngăn nắp để
đảm bảo an toàn cho trẻ. Tuyên truyền qua đợt tổ chức các hội thi "Bé khoẻ - Bé
ngoan", "Bé tập làm nội trợ", "Bé thông minh nhanh trí "...
b. Với lực lượng y tế
Kết hợp với trạm y tế khám sức khoẻ cho trẻ theo định kì và tuyên tuyền
qua các cuộc họp của các đoàn thể hoặc qua thông tin phát thanh của địa
phương. Đặc biệt, chú trọng đến đợt khám và phân loại sức khoẻ đầu năm để
nắm được tình hình bệnh tật và suy dinh dưỡng ở trường, nhóm lớp. Từ đó cũng
đó kịp thời phát hiện những trường hợp tim bẩm sinh, nấm ngoài da... Tổ chức
11
nguồn gốc, hạn dùng hoặc quá hạn sử dụng, không mua thực phẩm có sẵn và
thực phẩm đã qua sơ chế. Nhân viên nhà bếp khi tiếp nhận thực phẩm cần có sổ
sách ghi chép thực phẩm đầy đủ số lượng và tình trạng thực phẩm, các thực
phẩm không đảm bảo không được tiếp nhận, khi giao nhận thực phẩm hai bên
phải kí nhận cùng chứng kiến của ban giám hiệu nhà trường, khâu bảo quản tại
kho của nhà bếp phải đảm bảo vệ sinh, không để thực phẩm quá hạn, ẩm mốc,
kém chất lượng.
- Chế biến thực phẩm phải đảm bảo chất lượng ngon, đẹp, phù hợp với
trẻ, đảm bảo an toàn vệ sinh. Thức ăn phải được nấu chín kĩ, nấu xong cho trẻ ăn
ngay. Thực hiện nghiêm túc quy định về lưu mẫu tức ăn theo đúng quy trình,
mẫu thức ăn phải được lấy trước khi cho trẻ ăn. Hộp đựng mẫu thức ăn phải
sạch sẽ, có nắp đậy.
12
- Thực phẩm khi nhận phải được kiểm tra của nhân viên ytế sau đó mới
được đưa vào sơ chế. Trước khi nhận thực phẩm sống, nhân viên cấp dưỡng
rửa dụng cụ: Dao, thớt sạch sẽ tránh để nhiễm khuẩn, rêu mốc trên dao thớt
- Chế biến thực phẩm phải tuân thủ theo quy trình.
- Dụng cụ chế biến phải đảm bảo vệ sinh được rửa sạch để ráo trước
khi sử dụng.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
- 100% GV trong nhà trường có đủ trình độ về VSATTP và kiến thức dinh
dưỡng.
- 100% Phụ huynh đã quan tâm đến vấn đề mua và chọn thực phẩm theo
nhãn hiệu và hạn sử dụng, cho con ăn các bữa hợp lý, nuôi dạy con theo khoa
học dạy con thực hiện các thao tác vệ sinh và thực hành một số món ăn trong nội
dung( Bé tập làm nội trợ) hưởng ứng nhiệt tình việc đóng góp tiền ăn cho trẻ,
100%
580
100%
2
Số trẻ ăn tại trường
50
100%
580
100%
3
Tỷ lệ suy dinh dưỡng
4
Định lượng calo
1%
NT: 970
1%
đời của trẻ sau này.
Trên thực tế cho thấy việc chỉ đạo nuôi dưỡng trong trường mầm non là rất
quan trọng và cần thiết. Đối với người quản lý phải là tấm gương cho giáo viên
noi theo ( Lời nói đi đôi với việc làm ). Sức khoẻ của trẻ tốt phần lớn là do công
tác chỉ đạo tốt vì thế người chỉ đạo công tác này phải có sức khoẻ có năng lực,
có lòng nhân hậu và có tình thương đến trẻ ( Cô giáo như mẹ hiền), có lòng
trung thực dám nghĩ, dám làm, dám chịu tất cả vì các cháu thân yêu. Trẻ em là
những mầm non tương lai của đất nước. Và đó cũng là sự mong muốn lớn nhất
của toàn xã hội ngày nay và mãi mãi về sau.
Đầu năm khi trẻ đến trường tiến hành khảo sát điều tra tình hình sức khoẻ
của trẻ. Từ thực tế đó có kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng theo khoa học hợp lí để
giúp trẻ giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng và hạn chế dịch bệnh cho trẻ có một cơ thể
tốt.
Cần bồi dưỡng cho giáo viên, nhân viên dự các lớp tập huấn, tổ chức hội
thi về chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường.
Giáo viên cần hướng dẫn cho trẻ biết lao động tự phục vụ bản thân như:
Vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường trong và ngoài lớp học vệ sinh nơi công
cộng.
14
Giữ được vệ sinh an toàn thực phẩm, không để xảy ra ngộ độc thức ăn sẽ
phòng tránh được nhiều bệnh dịch, cơ thể trẻ sẽ khoẻ mạnh để tham gia vào mọi
hoạt động bổ ích.
Ngoài ra còn bằng hình thức tuyên truyền vận động phụ huynh học sinh
phối kết hợp với các ban ngành đoàn thể để mở rộng kiến thức chăm sóc nuôi
dưỡng sức khoẻ trẻ .
Những biện pháp chúng tôi đã thực hiện trong sáng kiến kinh nghiệm này
hy vọng sẽ được tiếp tục có hiệu quả trong việc tổ chức, quản lý công tác chăm
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của tôi viết, không sao chép nội dung của
người khác
Người viết sáng kiến
Lê Thị Toàn
Nguyễn Thị Thu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ tài liệu hướng dẫn chăm sóc giáo dục mầm non của Bộ giáo dục và
đào tạo.
2. Dinh dưỡng hợp lý và sức khỏe – Hà Huy Khôi
3. Một số vấn đề chăm sóc giáo dục sức khỏe, dinh dưỡng, môi trường
cho trẻ từ 0-6 tuổi.
4. Các bản bản về VSATTP của bộ y tế và Bộ giáo dục.
5. Sổ tay của giáo viên mầm non – Những kiến thức cơ bản về môi trường
6. Tài liệu tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm- Bộ y tế.
7.Đại cương Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm. Giáo trình. NXB Y học
(2015)
8.Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, NXB Y học, Hà Nội.
16
17