Sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp chỉ đạo công tác chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non i - Pdf 46

I-ĐẶT VẤN ĐỀ:
Như chúng ta đã biết mục tiêu của giáo dục mầm non là hình thành cho trẻ những yếu tố
nhân cách đầu tiên của con Nguời, phát triển toàn diện về các lĩnh vực: Thể chất, nhận
thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ, tình cảm xã hội. Để đạt được mục tiêu phát triển toàn diện thì
ta cần kết hợp hài hoà giữa chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục đó là điều tất yếu.
Ngày nay cùng với với sự phát triển chung của xã hội, mỗi gia đình đều có số lượng con
ít hơn, cuộc sống đầy đủ, sung túc hơn, trình độ dân trí cũng ngày được nâng cao. Chính
vì vậy việc chăm sóc giáo dục trẻ cũng được gia đình và xã hội đặc biệt quan tâm. Vậy
quan tâm như thế nào là đúng mực để cơ thể trẻ được khoẻ mạnh, học tập tốt, cơ thể phát
triển cân đối, hài hòa, việc trước tiên ta phải có một chế độ ăn uống hợp lý, khoa học
nhằm giúp trẻ ăn ngon miệng nhưng phải đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
Hiện nay vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang là mối quan tâm lớn nhất của toàn xã
hội, Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của
con người nhất là thể chất của trẻ, nếu bị ngộ độc thực phẩm, nhẹ thì trẻ có thể bị suy
nhược cơ thể dẫn đến suy dinh dưỡng, nặng có thể dẫn đến tử vong. Vì thế, công tác đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đòi hỏi các cơ quan liên nghành cùng chung tay vào cuộc,
quản lý chặt chẽ chất lượng an toàn thực phẩm, hay nói cách khác là quản lý chặt chẽ từ
khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng. Làm tốt công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
không phải là trách nhiệm của riêng cá nhân một ai, mà đó là trách nhiệm của toàn Đảng,
toàn dân và toàn xã hội.
Đối với ngành giáo dục nói chung, trong đó bậc học mầm non nói riêng đóng vai trò rất
quan trọng trong việc tổ chức khâu chăm sóc nuôi dưỡng và đảm bảo an toàn vệ sinh thực
phẩm cho trẻ ăn bán trú tại trường mầm non. Vì vậy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm giữ
vị trí quan trọng đối với sức khoẻ trẻ thơ nó góp phần nâng cao sức học tập, lao động của
trẻ trong xã hội ngày càng phát triển hiện nay. Chính vì vậy trong năm học này tôi đã chọn
đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo công tác chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm trong trường Mầm no”.
* Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tại trường Mầm non Đức Giang với 20 nhóm lớp/
750 học sinh và 17 nhân viên nuôi dưỡng .
* Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu: “Một số biện pháp chỉ đạo công tác chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh an

vào thực phẩm, gây rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể, trong đó có bệnh tim mạch
và ung thư.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá các chương trình hành động đảm bảo
chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên toàn cầu đã xác định được nguyên nhân chính
gây tử vong ở trẻ em là các bệnh đường ruột, phổ biến là tiêu chảy. Đồng thời cũng nhận
thấy nguyên nhân gây các bệnh trên là do thực phẩm bị nhiễm khuẩn. Ở Việt Nam, theo
thống kê của Bộ Y tế, trong 10 nguyên nhân gây tử vong thì nguyên nhân do vi sinh vật
gây bệnh đường ruột đứng thứ 2.
Đối với Ngành giáo dục nói chung, bậc học Mầm non là nơi tập trung đông trẻ, bản thân
trẻ còn nhỏ nhỏ, chưa nhận thức được đầy đủ về dinh dưỡng và vệ sinh, an toàn thực
phẩm, nếu để xảy ra ngộ độc thực phẩm ở lứa tuổi này thì hậu quả sẽ khôn lường. Vì vậy
công tác chăm sóc nuôi dưỡng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ tại nhà
trường vô cùng quan trọng, là nhiệm vụ hàng đầu trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ
tại trường mầm non.


Như chúng ta đã biết thực phẩm là nguồn mang lại các chất bổ dưỡng nuôi cơ thể mà
không có phương thuốc nào thay thế được mà nay lại chứa cả những chất độc hại, làm
cho mọi người lo âu, thực phẩm hàng ngày có an toàn hay không nhất là đối với trẻ nhỏ
được gửi vào trường bán trú thì đa số phụ huynh thường lo lắng, không an tâm khi con
trẻ vào trường được chăm sóc tập thể và nơi tập trung nhiều trẻ nhỏ. Vì vậy làm thế nào
để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, để tạo uy tín đối với phụ huynh để 100% phụ
huynh an tâm gửi con đến trường ngày một đông hơn.
Là một cán bộ phụ trách công tác chăm sóc nuôi dưỡng trong nhà trường, bản thân tôi
thực sự băn khoăn, trăn trở làm thế nào để đảm bảo an toàn tuyết đối cho trẻ tại trường
mầm non, đặc biệt là làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng và đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm. Vì thế, Tôi đã quyết định chọn đề tài này.

2. Thực trạng vấn đề:
Thực trạng vi phạm an toàn thực phẩm ở nước ta rất đáng báo động. Theo đại diện Bộ Y tế

Lương của nhân viên nuôi dưỡng còn thấp.


Từ những thuận lợi, khó khăn trên, trước thực trạng về chất lượng an toàn thực phẩm của nhà
trường, tôi suy nghĩ tìm tòi và sử dụng một số biện pháp quản lý chỉ đạo, nhằm đảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non như sau:

3. Các biện pháp thực hiện:
3.1.Biện pháp 1: Bồi dưỡng kiến thức về lý thuyết, thực hành dinh dưỡng, thực hiện
tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến cho đội ngũ.
Đầu năm học, nhà trường tổ chức tập huấn chuyên môn cho cán bộ giáo viên, nhân viên
nuôi dưỡng về các nội dung theo tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý và
giáo viên, nhân viên, các nội dung tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm do trung tâm y
tế quận phối hợp với Phòng giáo dục tổ chức,... Một trong những nội dung quan trọng là
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong việc tổ chức ăn cho trẻ tại trường mầm non, chú
trọng vấn đề kiến thức thực hành dinh dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ
sinh trong chế biến và vệ sinh ăn uống cho trẻ.
Ví dụ: Nội dung chọn thực phẩm tươi sạch thì cung cấp cho giáo viên, nhân viên biết:
+ Nếu là thực phẩm sống: Chỉ lựa chọn những thực phẩm còn tươi mới, không bị dập nát,
không có mùi, màu lạ.
+ Nếu là thực phẩm chín: Không mua khi thấy bày bán gần nơi cống rãnh, bụi bẩn, bùn
lầy, nước đọng, để lẫn lộn thực phẩm sống và chín, không có dao thớt dùng riêng, không
có giá kê cao, không có dụng cụ che đậy, màu sắc loè loẹt không tự nhiên và không có đồ
bao gói.
+ Nếu là thực phẩm bao gói sẵn: Không mua khi không có nhãn hàng hoá, có nhãn mác
nhưng không ghi hạn dùng, không ghi rõ nơi sản xuất.
+ Nếu là đồ hộp: Không mua khi hộp không có nhãn mác, không có hạn sử dụng, không
ghi rõ cơ sở sản xuất, hộp phồng, méo, rạn, nứt, han rỉ.
- Thực hiện vệ sinh phòng bệnh trong các nhóm lớp ở trường mầm non như:
+ Vệ sinh môi trường: Vệ sinh không khí, giữ sạch nguồn nước, xử lý chất thải...

Thông qua các hình thức bồi dưỡng đó mà mỗi một cán bộ, giáo viên, nhân
viên trong trường nắm được những nội dung cần thiết trong công tác chăm sóc sức khoẻ,
vệ sinh môi trường, vệ sinh ATTP trong trường mầm non và cộng đồng, góp phần giảm tỉ
lệ trẻ suy dinh dìng trong trường mầm non.
3.2. Biện pháp 2: Chú trọng công tác vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng dụng cụ nhà bếp
và vệ sinh môi trường, vệ sinh đối với cô nuôi, giáo viên tại lớp và vệ sinh cá nhân
cho trẻ.
- Vệ sinh khu vực bếp: Thực hiện nguyên tắc bếp một chiều nhằm tránh không để thực
phẩm sống, chưa làm sạch và thức ăn chín, sạch chung một lối đi.
Sắp xếp vị trí các khu vực sao cho thuận tiện, gọn gàng để tránh lúc nấu nướng phải đứng
lên, ngồi xuống hoặc đi lại nhiều lần, đồng thời tránh được các loại côn trùng, chuột vào
bếp. Các khu vực hoạt động của bếp phải có biển đề rõ ràng: Nơi tiếp nhận thực phẩm,
khu sơ chế thực phẩm, khu tinh chế, khu nấu chín, khu chế biến thực phẩm chín, khu chia
ăn.
Nhà bếp có bảng phân công dây chuyền nấu trong ngày: Người nấu chính,
người nấu phụ, người tiếp phẩm, sơ chế thực phẩm, vệ sinh dụng cụ.
Bếp ăn có bảng thực đơn theo tuần, bảng định lượng suất ăn hàng ngày và công khai tài
chính cụ thể rõ ràng.
Chỉ đạo nhân viên din
ghiêm túc khâu vệ sinh nhà bếp theo lịch hàng ngày, tuần và tháng.
Ví dụ: Hàng ngày, khi nấu nướng xong phải dọn dẹp, sắp xếp đồ dùng, dụng cụ
vào đúng nơi quy định, lau chùi quét dọn sạch sẽ, mở quạt thông gió, mở các cửa sổ để
thông gió cho khô, thoáng nhà bếp trước khi đóng cửa ra về.
- Vệ sinh đồ dùng, dụng cụ nhà bếp:
Chén bát và nơi để thức ăn phải thoáng có lưới để ngăn không cho ruồi, nhặng, muỗi,
chuột đậu hoặc xà vào thức ăn.
Chạn bát hàng ngày phải được lau sạch, chỗ úp bát, thìa trẻ phải khô ráo, không
úp trực tiếp xuống bàn hoặc xuống tủ. Bát thìa của trẻ dùng bằng inox, không dùng loại
nhựa tái sinh và phải được hấp tráng nước sôi trước khi ăn.
Có đầy đủ dụng cụ chế biến thức ăn sống, chín riêng, dụng cụ dùng xong phải được rửa

học
sinh
tích
cực”.
- Vệ sinh đối với cô nuôi, nhân viên nhà bếp:
Nhân viên nuôi dưỡng đã được học và có chứng chỉ bồi dưỡng những kiến thức về vệ
sinh an toàn thực phẩm, qua đó nắm rõ trách nhiệm của mình là phải đảm bảo nuôi dưỡng
trẻ khoẻ mạnh và an toàn.
Chỉ đạo nhân viên dinh dưỡng thực hiện nghiêm túc khâu vệ sinh cá nhân trong quá trình
chế biến ăn cho trẻ như: mặc quần áo đồng phục ở trường, mang tạp dề, đầu tóc gọn
gàng, móng tay, móng chân cắt ngắn, sạch sẽ. Rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi
chế biến thức ăn cho trẻ, khi tay bẩn, sau khi đi vệ sinh, qua mỗi công đoạn chế biến. Có
khăn lau tay riêng và được giặt phơi khô hàng ngày.
Phải tuân thủ đúng quy trình sử dụng dụng cụ chế biến thức ăn theo một chiều, không tuỳ
tiện sử dụng đồ dùng, dụng cụ đựng, chế biến thực phẩm sống, chín lẫn lộn. Không được
ho, khạc nhổ khi chế biến thức ăn cho trẻ, khi nếm thức ăn còn thừa phải đổ đi.
Khi chia ăn cho trẻ phải đeo khẩu trang và chia bằng dụng cụ, không dùng tay bốc, chia
thức ăn. Thực hiện nghiêm túc việc cân, đong chia thức ăn cho trẻ đảm bảo định lượng.
Nhân viên nhà bếp 6 tháng phải khám sức khoẻ định kỳ, được bố trí nơi thay quần áo và
vệ sinh riêng, không dùng chung với khu chế biến thức ăn cho trẻ.
- Vệ sinh cá nhân đối với giáo viên tại lớp:
Chỉ đạo các giáo viên rửa tay bằng xà phòng trước khi chia ăn và cho trẻ ăn, sau khi đi vệ
sinh. Đầu tóc, quần áo gọn gàng, đeo khẩu trang khi chia thức ăn và cho trẻ ăn, có dụng
cụ chia thức ăn riêng, không dùng tay bốc. Chuẩn bị đủ bàn ghế, khăn ướt lau tay, dĩa
đựng thức ăn rơi vãi cho trẻ. Định kỳ 6 tháng cũng khám sức khoẻ có xét nghiệm như
nhân viên dinh dưỡng.
- Vệ sinh cá nhân trẻ:
+ Tăng cường kiểm tra các nhóm lớp thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt trong ngày
phù hợp với từng độ tuổi, chú trọng công tác chăm sóc nuôi dưỡng và các thời điểm vệ
sinh cho trẻ.

đông lạnh, thực phẩm không rõ nguồn gốc, nơi sản xuất, giấy phép đăng ký chất lượng…
Đặc biệt, không nhận thực phẩm không đảm bảo chất lượng như rau không xanh tươi, cá
thịt không tươi…
Nhân viên nhà bếp khi tiếp nhận thực phẩm phải ghi rõ ngày, giờ nhận thực phẩm, tên
thực phẩm, ghi rõ số lượng, tình trạng thực phẩm, sổ kiểm thực 3 bước,...Những thực
phẩm bị dập nát có dấu hiệu không tươi, nghi ngờ hỏng, không đảm bảo chất lượng,
không đúng với hợp đồng thì không được tiếp nhận và chế biến dùng cho trẻ. Các phẩm
màu phụ gia thực phẩm không rõ nguồn gốc, không nằm trong danh mục cho phép của
Bộ Y tế thì không được dùng trong trường mầm non.
Khi giao nhận thực phẩm, ngoài nhân viên nhà bếp còn có đại diện của nhà trường, nhân
viên y tế, kế toán, đại diện giáo viên trên lớp cùng kiểm tra thực phẩm.
Thực hiện nghiêm túc kiểm thực 3 bước (kiểm tra trước khi nhận thực phẩm,
Trước khi nấu và kiểm tra trước khi ăn).
Khâu bảo quản lưu giữ tại kho và tủ lạnh của bếp ăn nhà trường đảm bảo vệ sinh, không
để thực phẩm quá hạn, ẩm mốc, kém chất lượng. Các hộp đựng hoặc chai, lọ đựng gia vị,
thực phẩm phải có nhãn tên, không cất giữ chung với các loại hoá chất diệt côn trùng, xà
phòng, xăng dầu hoả với kho thực phẩm.
c. Chỉ đạo chế biến và bảo quản thực phẩm.


Nhân viên nuôi dưỡng chế biến thực phẩm phải đảm bảo chất lượng món ăn thơm ngon,
ngon, đẹp, phù hợp với trẻ, đảm bảo an toàn. Thức ăn phải được chế biến nấu chín kỷ,
nấu xong cho trẻ ăn ngay.
Thực hiện nghiêm túc quy định về lưu mẫu thức ăn: Hàng ngày, nhân viên nuôi dưỡng
phải lưu mẫu thức ăn theo đúng quy định 24 h. Mẫu thức ăn phải được lấy khi vừa nấu
xong chuẩn bị chia ăn cho trẻ. Hộp đựng mẫu thức ăn được rửa sạch và nhúng nước sôi
sát trùng trước khi đưa thức ăn vào lưu giữ. Thức ăn lấy mẫu cho vào lọ bằng sứ có nắp
đậy, để 15-20p cho nguội sau đó đưa vào lưu giữ trong tủ lạnh (lưu ở ngăn mát) 24 h mới
bỏ đi. Mỗi loại thức ăn phải để trong một hộp riêng, có đủ lượng thức ăn tối thiểu (thức
ăn đặc khoảng 150g, lỏng 250ml). Khi lưu mẫu cần ghi đầy đủ ngày, giờ, tên người lấy

3.5. Biện pháp 5: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối với các ban ngành và phụ
huynh, lồng ghép nội dung VSATTP vào các hoạt động trong ngày của trẻ.
Chỉ đạo, hướng dẫn giáo viên, nhân viên thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền với
các ban ngành và phụ huynh về công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ, thông qua
những hình thức như: Tuyên truyền qua loa truyền thanh địa phương, các buổi họp phụ
huynh, các hội thi, qua góc tuyên truyền giáo dục các bậc cha mẹ của lớp và nhà trường.


Phối hợp với các ban ngành và phụ huynh để triển khai các công văn khẩn cấp của Trung
ương, địa phương về dịch bệnh theo mùa, tuyên truyền tháng vệ sinh an toàn thực phẩm,
tuyên truyền cho phụ huynh nhận thức, thực hiện 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý cho
các bậc cha mẹ trong việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Tổ chức cho phụ huynh tham quan bếp ăn, hướng dẫn cách chế biến thức ăn, tham
quan giờ ăn của trẻ cũng như tham quan họat động bé tập làm nội trợ. Hàng tháng yêu
cầu phụ huynh kết hợp với nhà trường kiểm tra nhà bếp 1-2 lần về thu-chi trong ngày,
cách chế biến, VSAT thực phẩm, cân đong ...
Phụ huynh phải nhận thức thấy rõ việc ăn uống là một nhu cầu cấp bách hàng ngày của
trẻ. Ăn uống theo đúng yêu cầu dinh dưỡng thì thể lực, trí tuệ phát triển tốt, giúp gia đình
đạt được ước mơ con cái khoẻ mạnh, thông minh, học giỏi.
Bên cạnh đó, chỉ đạo giáo viên đưa nội dung giáo dục môi trường, vệ sinh an toàn
thực phẩm vào các giờ hoạt động, nhằm giúp trẻ tích cực tham gia giữ vệ sinh đảm bảo
an toàn thực phẩm như: lao động tự phục vụ, giữ vệ sinh môi trường, rèn thói quen vệ
sinh cá nhân và các hành vi văn minh nơi công cộng, tạo môi trường thân thiện trong
trường lớp mầm non.
Ví dụ: Tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng sức khỏe vào các chủ đề Bản
bản thân, gia đình... Ở các chủ đề này chỉ đạo giáo viên lồng ghép tích hợp những
nội dung sau:
- Làm quen với các món ăn tại trường, tập ăn hết suất, rèn luyện hành vi văn minh trong
ăn uống: Biết mời cô và các bạn trước khi ăn; ngồi ăn ngay ngắn, không co chân lên ghế;
cầm thìa bằng tay phải tự xúc ăn gọn gàng, tránh đổ vãi, ăn từ tốn, nhai kỹ, không nói chuyện

nghiệm, có năng lực, sức khỏe để đảm bảo phục vụ tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Nhờ vậy mà ngay từ đầu năm học trường đã ổn định đội ngũ nhân viên dinh dưỡng,
trường có đầy đủ các đồ dùng phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ giúp trẻ
phát triển một cách toàn diện về thể chất lẫn tinh thần.
4. Kết quả đạt được:
Qua một năm chỉ đạo công tác vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường, với sự
kết hợp đồng bộ các biện pháp trên, nhà trường đã có sự chuyển biến rõ rệt trong công tác
VSATTP và đạt được một số kết quả sau:
4.1. Đối với nhà trường:
- Đội ngũ giáo viên, nhân viên có ý thức trách nhiệm cao trong việc giữ vệ sinh chung,
đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm. Biết vận dụng “Quy chế nuôi dạy trẻ” vào quá
trình chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ. Đặc biệt, chú trọng công tác chăm sóc sức
khoẻ, vệ sinh và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non.
- Nhân viên nuôi dưỡng thực hiện nghiêm túc công tác tiếp phẩm, quy trình chế
biến, chia ăn, Nhà trường ký kết hợp đồng thực phẩm với các nhà cung cấp, lưu mẫu thức
ăn hàng ngày. Chất lượng bữa ăn tại trường cho trẻ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm,
thay đổi thực đơn theo mùa đảm bảo đủ lượng và chất cần thiết cho sự phát triển của trẻ.
- Giáo viên biết kết hợp lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn
thực phẩm cho trẻ qua các hoạt động như tổ chức bữa ăn, các hoạt động khác trong
ngày cho trẻ tại trường mầm non.
- Nhà bếp đã được trung tâm y tế dự phòng kiểm tra và công nhận bếp đạt vệ sinh an
toàn thực phẩm. Dụng cụ: chén, thìa, ly được kiểm định đạt yêu cầu theo đúng quy định.
4.2. Đối với trẻ:
Hiểu được vệ sinh an toàn thực phẩm rất quan trọng đối với đời sống con người,
biết giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường thông qua các giờ học tích hợp, vui chơi, ca
dao, đồng dao…
Biết được một số lao động để giữ vệ sinh nơi công cộng, vệ sinh môi trường như: không
vứt rác, khạc nhổ nơi công cộng, biết bỏ rác đúng nơi quy định, vệ sinh lớp học hàng
ngày…và biết được công tác giữ vệ sinh rất quan trọng đối với sức khoẻ con người.
Trong năm học nhà trường không có trường hợp ngộ độc dịch bệnh xảy ra, 100%

nghiệm nhỏ sau:
- Thường xuyên nâng cao nhận thức cho đội ngũ về chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục
sức trẻ trong trường mầm non.
- Làm tôt công tác bồi dưỡng kiến thức thực hành dinh dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh
an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến cho đội ngũ cán bộ giáo viên, vệ sinh trong ăn
uống cho trẻ. Chú trọng công tác vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng, dụng cụ nhà bếp và vệ
sinh môi trường.
- Đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng phục vụ cho việc tổ chức bán
trú. Tăng cường các hoạt động giáo dục vệ sinh đối với nhân viên dinh dưỡng và vệ sinh
cá nhân trẻ.
- Chỉ đạo nhân viên dinh dưỡng thực hiện tốt việc tạo nguồn thực phẩm sạch.
Thực hiện nghiêm túc công tác tiếp phẩm và giao nhận thực phẩm. Yêu cầu trong chế
biến và bảo quản thực phẩm.
- Thực hiện tốt việc theo dõi biểu đồ, khám sức khoẻ, quản lý công tác tiêm chủng
mở rộng, phòng chống dịch bệnh cho trẻ.
- Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn, giám sát, kiểm tra của ban giám hiệu đối
với công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ. Đặc biệt, chú trọng việc kiểm tra vệ sinh
an toàn thực phẩm trong trường mầm non.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền với cộng đồng và xã hội về công tác chăm sóc nuôi
dưỡng và giáo dục trẻ trong trường mầm non.
- Thường xuyên đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo có hiệu quả về công tác chăm sóc
sức khỏe cho trẻ.
Là một cán bộ quản lý tôi sẽ cố gắng nhiều hơn nữa và mong muốn chuyển tải những
kinh nghiệm nhỏ của bản thân để trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp ở các trường bạn.
Tuyên truyền sâu rộng đến tất cả các bậc cha mẹ học sinh và cộng đồng thấy được tầm
quan trọng của việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non trong
công tác chăm sóc giáo dục trẻ.

2.


thực phẩm trong trường mầm non của bản thân tôi, rất mong nhận được sự góp ý, nhận
xét của các đồng chí đồng nghiệp để bản sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn. /.
Xin trân thành cảm ơn !
Đức Giang, ngày 5 tháng 4 năm 2017


X. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên mầm non năm 2009- 2010
Tạp chí giáo dục mầm non chuyên đề số 10 năm 2004.
Tạp chí giáo dục mầm non chuyên đề số 15 năm 2010.
Tài liệu diễn đàn về vệ sinh an toàn thực phẩm
Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ II (Của vụ Giáo dục mầm non)




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status