SKKN Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2 của trường tiểu học Lê Hồng Phong - Pdf 42

I. Phần mở đầu

1. Lý do chọn đề tài
Năm học 2016 - 2017 là năm học tiếp tục triển khai Chương trình hành
động của Bộ GDĐT; thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban
Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo;
Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương
trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày
27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án đổi mới chương trình,
sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đối
với học sinh dân tộc thiểu số là vấn đề quan trọng nhằm nâng cao dân trí, góp phần
ổn định cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số; rút ngắn khoảng cách chất lượng
giữa học sinh dân tộc thiểu số với học sinh vùng thuận lợi theo hướng phát triển
chất lượng nhằm tăng tỷ lệ học sinh Hoàn thành và Hoàn thành tốt nội dung học
tập các môn học của lớp học, giảm tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành nội dung các
môn học và lớp học, đào tạo bồi dưỡng học sinh “mũi nhọn” trong các lớp học của
cấp học, nhằm góp phần đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Học sinh dân tộc thiểu số có nhiều đặc thù riêng về hoàn cảnh sống và tư duy
suy nghĩ. Làm thế nào để chất lượng dạy và học được nâng cao? Làm thế nào để
đào tạo ra những con người có tri thức, có nhân cách, những người có đủ “đức, trí,
thể, mĩ”?. Đó vẫn còn là một câu hỏi, khó có lời giải trọn vẹn.
Là một cán bộ quản lý chuyên môn của nhà trường, trong quá trình giảng dạy
và công tác bản thân tôi thường xuyên trăn trở, suy nghĩ tìm mọi cách để cùng tập
thể sư phạm nhà trường và lãnh đạo địa phương từng bước tháo gỡ khó khăn, khai
thác các điều kiện thuận lợi và các nguồn lực để áp dụng vào thực tế nhà trường,
nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên do điều kiện còn khó
khăn nên trong những năm vừa qua chất lượng của học sinh dân tộc ở hai điểm
1



học Lê Hồng Phong, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk, năm học 2015-2016 và học
kỳ I năm học 2016 – 2017;
5. Phương pháp nghiên cứu
a. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
b. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
c. Phương pháp thống kê toán học
II. Phần nội dung
1. Cơ sở lý luận.
Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Đề án Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 20102015; Thực hiện công bằng trong xã hội và một số chính sách miễn, giảm học phí,
cấp học bổng, cho vay đi học. Nghị quyết 40/2002/NQ-QH của Quốc Hội khóa IX
về đổi mới giáo dục phổ thông nói về việc nâng cao chất lượng giáo dục cũng đã
khẳng định: tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông được đưa vào dạy học thống nhất
trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tiếng Việt trong nhà trường tồn tại với hai tư
cách: vừa là một môn học vừa là công cụ giao tiếp, học tập của học sinh. Do đó,
trình độ tiếng Việt (vốn từ, kiến thức về tiếng Việt và kỹ năng sử dụng vốn từ trong
học tập, giao tiếp) có vai trò và ảnh hưởng rất quan trọng đối với khả năng học tập
các môn học của học sinh ( các em có học tốt môn tiếng Việt thì mới học tốt được
các môn học khác). Thực tế cho thấy, học sinh người dân tộc thiểu số càng học lên
lớp trên thì khả năng đạt chuẩn chương trình các môn học càng thấp vì nhiều
nguyên nhân như cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện kinh tế, điều kiện học tập,
trình độ nhận thức... trong đó, sự thiếu hụt về vốn sống, vốn ngôn ngữ là nguyên
nhân chủ yếu và trực tiếp của tình trạng trên.

3


Trong những năm vừa qua, Giáo dục học sinh dân tộc thiểu số ở xã Eana đã
và đang được địa phương quan tâm, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị
phục vụ cho dạy và học. Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có rất nhiều thay đổi về khung

khối

DTTS

9,10

116

40

4
4

Điểm 7,8 Điểm 5,6

Điểm
dưới 5

6

20

10


Tiếng Việt

116

40

Tỷ lệ học sinh đến lớp Mẫu giáo trên địa bàn của trường tuyển sinh đạt
khoảng 99% trẻ trong độ tuổi. Trong đó học sinh dân tộc thiểu số đạt tỷ lệ 98 %
(do một số em cha mẹ đi làm ăn xa các em ở với ông bà đã già và người thân nên
chưa ra lớp mẫu giáo). Đây là một trong những khó khăn lớn nhất của nhà trường
khi tiếp nhận các em chưa ra lớp Mẫu giáo vào học lớp Một. Những em này hầu
5


như chưa biết và giao tiếp được bằng tiếng Việt. Trong số học sinh qua Mẫu giáo
thì việc giao tiếp bằng tiếng Việt của các em vẫn hết sức khó khăn. Tỷ lệ học sinh
có thể hỏi, trả lời và hiểu được những yêu cầu của giáo viên chỉ chiếm 20- 35 %
trong số những em đã qua Mẫu giáo hoặc những học sinh lưu ban. Các em chỉ nghe
và hiểu được những câu lệnh đơn giản như "trật tự", "ra chơi", "vào lớp", "ra
về"...Việc giảng dạy mang tính áp đặt, khô khan do giáo viên “tham” và sợ nên cố
truyền đạt những kiến thức có trong sách giáo khoa mà không giành thời gian để
tạo ra sự hứng thú cho học sinh trong học tập là một hạn chế rất lớn trong quá trình
tiếp thu kiến thức của học sinh đặc biệt là đối với học sinh là người dân tộc thiểu
số. Vì vậy chất lượng giáo dục chưa cao, tỷ lệ học sinh hoàn thành tốt và xuất sắc
ít, có một số ít học sinh ở lại lớp 2 năm liên tục dẫn đến các em chán học, không
tìm thấy niềm vui khi đến lớp.
Bên cạnh đó, trình độ dân trí thấp nên các gia đình chưa thực sự quan tâm
đến việc học tập của con em. Nhiều em học sinh vì hoàn cảnh gia đình khó khăn
nên đến mùa vụ phải nghỉ học một số buổi ở nhà để giúp đỡ gia đình như giữ em,
coi nhà... Khi vào thăm, khảo sát thực tế ở các gia đình thì hầu hết các gia đình là
người dân tộc thiểu số không có bàn ghế, điện thắp sáng, không có góc học tập để
các em học ở nhà và hầu hết các gia đình không quan tâm con em mình học hành ở
lớp ra sao, về nhà thế nào, không sắp xếp thời gian biểu cũng nhưng tạo điều kiện
cho các em học tập.
Tôi mạnh dạn đưa ra đây một số biện pháp mà bản thân đã tích lũy nhiều
năm bằng những kinh nghiệm thực tế giảng dạy và quản lý. Những biện pháp này

kinh nghiệm trong giảng dạy, tìm những giải pháp hay, thiết thực và hiệu quả để
nâng cao chất lượng từng tiết dạy; biết quý thời gian trên lớp để truyền thụ kiến
thức cho học sinh, giành thời gian ngoài giờ lên lớp để tổ chức các hoạt động vui
chơi giúp học sinh hứng thú đến lớp; thực tế gia đình học sinh tìm hiểu về điều kiện
gia đình, hướng dẫn học ở nhà, hướng dẫn đánh giá học sinh,….
7


* Phân công chuyên môn một cách hợp lý là điều kiện thuận lợi giúp cho
việc nâng cao chất lượng. Vì vậy ngay từ đầu năm học, Ban giám hiệu đã giành rất
nhiều thời gian để thảo luận, nghiên cứu và thống nhất việc phân công chuyên môn.
Bản thân đã chủ trì việc thảo luận phân công chuyên môn sau khi các bộ phận đã
đưa ra thực trạng về đội ngũ giáo viên. Xác định đội ngũ giáo viên được phân công
dạy lớp Một là quan trọng nhất. Đội ngũ giáo viên này ngoài năng lực chuyên môn
vững vàng, chữ viết đẹp thì phải khóe léo, nhiệt tình, tâm huyết và chút năng khiếu
và kinh nghiệm trong dạy lớp Một. Hơn nữa lớp 1 toàn trường dạy theo chương
trình Tiếng Việt 1 CNGD. Do đó đội ngũ giảng dạy lớp 1 là những giáo viên nhiệt
tình có kinh nghiệm, có trình độ, có khả năng tiếp cận, tiếp thu nhanh và có khả
năng hướng dẫn học sinh học tập, đồng thời biết chia sẻ kinh nghiệm cho nhau
trong tổ chức thực hiện giảng dạy đảm bảo đạt hiệu quả cao. Đây là một yêu cầu
không dễ đáp ứng, bởi lẽ đối với học sinh người dân tộc thiểu số, tiếng Việt cũng là
ngoại ngữ.
Với những giáo viên dạy lớp 2 dạy theo chương trình VNEN, cũng phải sắp
xếp, bố trí đội ngũ cốt cán chọn những người có trình độ, năng lực, linh hoạt sáng
tạo để đề xuất và chỉ đạo các thành viên trong tổ thực hiện tổ chức dạy học theo mô
hình trường học Mới.
Việc lựa chọn cốt cán và bố trí đội ngũ phù hợp với từng khối lớp của từng
chương trình là vấn đề quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Do vậy
hơn một năm học vừa qua, việc phân công đã đem lại hiệu quả, chất lượng giáo dục
đã được nâng lên, tỷ lệ học sinh lớp 1, 2 chưa hoàn thành chương trình lớp học đã

sinh dân tộc thiểu số) do thầy Phan Văn Quản thực hiện, ...
Qua các buổi sinh hoạt chuyên đề để cán bộ, giáo viên các trường thảo luận,
tìm ra giải pháp tối ưu về áp dụng ở các khối lớp của trường; giúp đội ngũ cán bộ,
giáo viên tích lũy cho mình những kinh nghiệm quản lý cũng như phương pháp dạy
9


học quý giá. Chỉ đạo giáo viên tích cực tham gia các buổi sinh hoạt chuyên môn
cấp cụm trường VNEN để giao lưu trao đổi kinh nghiệm dạy học, trao đổi việc
đánh giá học sinh theo Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT với các đơn vị trường
bạn. Ngoài việc tổ chức dự giờ thăm lớp trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, chúng tôi
hướng dẫn cho giáo viên tự học, tự tích lũy chuyên môn thông qua tài liệu tham
khảo, khai thác mạng Internet; tự hoàn thành bài tập các môn học và nghiệp vụ do
chuyên môn triển khai hàng tuần để nâng cao kiến thức và phương pháp tổ chức
dạy học. Chúng tôi tổ chức tham quan học tập các đơn vị bạn có kinh nghiệm trong
tổ chức dạy học mô hình trường học mới, dạy Tiếng Việt 1 CGD. Ngoài ra, Nhà
trường còn tổ chức các buổi tuyên truyền về Mô hình trường học mới, thông tư
22/2016/ TT_BGDĐT về đánh giá học sinh tiểu học,...có sự tham gia của các ban
ngành, đoàn thể, cha mẹ học sinh và đội ngũ giáo viên để cùng nhìn nhận thực
trạng công tác giáo dục của nhà trường nói chung và giáo dục học sinh dân tộc
thiểu số nói riêng từ đó tìm giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục.
b. 2. Biện pháp thứ hai: Chỉ đạo thực hiện tốt công tác duy trì sĩ số học
sinh.
Việc duy trì sĩ số học sinh hàng ngày là một trong những tiêu chí để nâng
cao chất lượng. Mỗi ngày học sinh học một lượng kiến thức mới nhất định. Nếu
vắng học ngày nào, phần kiến thức đó các em không tiếp thu được và nếu vắng
nhiều các em sẽ không thể theo kịp chương trình.
Thế nhưng học sinh người DTTS rất hay nghỉ học vì lý do vào ngày mùa vụ.
Đặc biệt là các em lớp Một vừa vào môi trường học tập mới, ít được chơi hơn so
với môi trường học trước nên các em rất dễ nghỉ học. Vì vậy ảnh hưởng rất nhiều

biệt là đối với học sinh lớp 1 và 2, trước hết, thầy cô giáo phải tìm hiểu được nếp
sống, phong tục tập quán, hoàn cảnh của học sinh. Chỉ đạo giáo viên dạy học theo
hướng phân hoá các đối tượng học sinh, bám sát đối tượng, phù hợp và phát huy
được tính tích cực của nhiều đối tượng học sinh trong cùng một lớp học, tìm
phương pháp giáo dục phù hợp nhằm khơi dậy niềm đam mê, hứng thú học tập của
11


các em. Không tạo áp lực bài vở, không học nhồi nhét mà kết hợp kiểm tra kiến
thức với các hoạt động ngoại khóa, hội vui học tập; đưa ra các danh hiệu thi đua để
học sinh phấn đấu; biểu dương, khen thưởng học sinh hàng tuần, hàng tháng, quan
tâm chăm lo đến từng đối tượng học sinh…
Với việc áp dụng phương pháp dạy học theo mô hình trường học Mới và
tiếng Việt 1 CGD đối với học sinh dân tộc thiểu số ở buôn Drai gặp rất nhiều khó
khăn và thiếu hiệu quả nếu không thực hiện một cách khoa học và phù hợp với đối
tượng học sinh. Nhiều giáo viên không dám sử dụng nhiều các hoạt động trong
giảng dạy vì sợ mất nhiều thời gian. Vì vậy, tiết học trở nên nặng nề, căng thẳng, ít
hiệu quả. Với Do vậy, bản thân đã chỉ đạo cho giáo viên thực hiện các biện pháp
giảng dạy nhẹ nhàng, sôi động gây hứng thú cho học sinh giúp các em dễ dàng tiếp
thu kiến thức hơn. Đối với học sinh dân tộc thiểu số, việc sử dụng những phương
pháp như đóng vai, thảo luận nhóm, phỏng vấn, sử dụng đồ dùng dạy học thường
xuyên… giúp các em có điều kiện làm quen với các hoạt động tập thể, tiếp xúc và
sử dụng tiếng Việt nhiều tạo hứng thú để các tiếp thu bài học tốt hơn. Vì vậy,
CBQL trực tiếp chỉ đạo các tổ chuyên môn đưa ra những điều chỉnh phù hợp các
bài trong chương trình của các môn học để tổ chức dạy mẫu theo hướng đổi mới
phương pháp dạy học tích cực của VNEN áp dụng cho học sinh nói chung và chú
trọng những câu hỏi, bài tập dành riêng cho đối tượng là học sinh DTTS. Đặc biệt,
đối với học sinh DTTS, việc chữa bài phải thường xuyên và có nhận xét tư vấn kịp
thời để các em rút kinh nghiệm cho việc học bài và làm bài lần sau.
Ví dụ: Với học sinh lớp 2: GV tổ chức các hoạt động học vui - vui học, trò

chiều GV kiểm tra HS, HS kiểm tra GV.
- Phần bài mới: bao gồm 3 hoạt động
Hoạt động 1: Đọc SGK, củng cố luật chính tả.
Hoạt động 2: Tìm tiếng mới.
13


Hoạt động 3: Viết chính tả
Cuối tiết học thiết kế trò chơi để củng cố nội dung bài.
Chuyên đề cũng khắc phục điểm tồn tại về quan điểm dạy tiếng Việt CGD1
“Chân không về nghĩa” mà đã linh hoạt đưa việc giải nghĩa từ vào tiết học một
cách nhẹ nhàng, hấp dẫn học sinh tạo nên một tiết học thành công và là điểm tựa để
học sinh dân tộc thiểu số nhớ từ vựng tiếng Việt.
Kế hoạch giảm tải chương trình phải được thảo luận và thống nhất trong tổ
chuyên môn và phải được hiệu trưởng phê duyệt. Trong kế hoạch phải thể hiện cụ
thể giảm tải cái gì và dạy cái gì, lộ trình của việc hoàn thiện lại những kiến thức đã
giảm tải. BGH nhà trường chỉ đạo giáo viên dạy môn Hoạt động giáo dục giúp đỡ
học sinh theo từng tiết học, chú ý đến đọc, nghe viết cho học sinh để có hiệu quả tốt
hơn.
Ngoài ra nhà trường còn tổ chức các hoạt động ngoại khoá bổ ích, lý thú như
các hoạt động theo chủ đề. Ví dụ cần tổ chức các sân chơi sử dụng tiếng Việt trong
giao tiếp như Câu lạc bộ “Tiếng Việt của chúng em”, “Thế giới quanh em”, Hội thi
giao lưu tiếng Việt, Đố vui học tập; tổ chức thi các trò chơi truyền thống của địa
phương, các hoạt động văn nghệ, thể thao,... nhằm thu hút và tạo hứng thú cho học
sinh trong quá trình học tập. Tăng cường các hoạt động tập thể ngoài các giờ học
trên lớp nhằm tạo môi trường giao tiếp tự nhiên cho HS.
Khác với HS bình thường, HS DTTS thường không sử dụng tiếng Việt trong
các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Giờ ra chơi, nếu chơi tự do, các em sẽ chơi thành
từng nhóm và giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ. Do đó các khối trưởng phải xây dựng
chương trình và phối hợp với tổng phụ trách Đội để tổ chức các hoạt động tập thể

giờ học cho các em đồng thời giúp các em mạnh dạn, tự tin và tích lũy vốn tiếng
Việt cần thiết.
Chú trọng và quan tâm tăng cường tiếng Việt cho các em trong các hoạt
động ngoài giờ lên lớp như sinh hoạt Sao Nhi đồng, Đội thiếu niên, giao lưu tiếng
15


Việt giữa các khối lớp, giữa các trường trong Cụm xã và giao lưu học sinh dân tộc
thiểu số cấp trường, cấp huyện.
Thời gian vừa qua, đã khuyến khích giáo viên dạy ở những lớp có nhiều học
sinh dân tộc thiểu số tự học tiếng Ê đê cùng với học sinh để giao lưu với các em,
giúp cho các em dễ dàng trong việc làm quen và nâng cao vốn tiếng Việt. Ngoài ra,
tư vấn cho giáo viên giúp học sinh luôn tạo thói quen sử dụng tiếng Việt ở trường,
ở gia đình và ở trong buôn là điều hết sức quan trọng. Giáo viên chủ nhiệm thường
xuyên xuống phối hợp với gia đình giúp các em làm quen và thường xuyên sử dụng
tiếng phổ thông trong sinh hoạt hàng ngày.
Tất cả giáo viên lớp 1 đã thực hiện việc tăng thời lượng môn tiếng Việt từ
350 tiết lên 500 tiết trong giảng dạy. Nhưng quá trình thực hiện, nhà trường cũng
gặp một số khó khăn như không biết áp dụng như thế nào để có hiệu quả. Vì vậy
bản thân đã đưa ra kế hoạch thực hiện chuyên đề cấp trường về “Tăng thời lượng
trong môn tiếng Việt lớp Một” để các giáo viên thảo luận việc tăng thời lượng hợp
lý trong từng tiết dạy. Sau khi thống nhất, tất cả các khối linh động sáng tạo để vận
dụng với đối tượng học sinh của lớp mình.
Ví dụ: Về việc thống nhất tăng thời lượng môn tiếng Việt: Trước hết, giáo
viên lập kế hoạch và phương án tăng thời lượng trong thiết kế bài dạy. Việc tăng
thời lượng tùy theo vào điều kiện của từng lớp, từng điểm trường. Các khối trưởng
phối hợp đi dự giờ ở khối 1 đánh giá và góp ý việc tăng thời lượng nhằm rút kinh
nghiệm để nâng cao hiệu quả của việc tăng thời lượng nhằm nâng cao chất lượng
giảng dạy môn tiếng Việt làm tiền đề cho các môn học khác ở lớp Một và các lớp
tiếp theo. Các lớp chủ yếu tăng thời lượng bằng cách giành 5 phút sinh hoạt đầu

dạy.. Ngoài môn tiếng Việt, các môn học khác ở tiểu học đều được tổ chức trên cơ
sở sử dụng tiếngViệt làm phương tiện ngôn ngữ để dạy học. Nhưng nếu dạy các
môn học thực hiện như trước đây, thầy giảng bằng tiếng Việt rồi dịch sang tiếng mẹ
đẻ cho HS hiểu thì không thể thực hiện được mục tiêu chương trình vì học sinh
17


không thể sử dụng tiếng mẹ đẻ để thực hiện các yêu cầu bài tập được. Dạy học tích
hợp tiếng Việt phải dựa trên nền tảng tổ chức dạy học giao tiếp trong môi trường
tiếng Việt theo các quan hệ đa phương: thầy – trò; trò - thầy; trò – trò; trò – tài liệu
học tập (SGK, đồ dùng dạy học, ...). Ví dụ: dạy bài Hoa (TN – XH lớp 2), giáo viên
thay vì dùng tranh vẽ để giới thiệu các loại hoa như trước đây, có thể cho các em
sưu tầm các loại hoa có sẵn rồi tổ chức trao đổi theo nhóm và nói cho các bạn biết
về loại hoa mình sưu tầm được theo gợi ý của GV (không nhất thiết phải sưu tầm
các loại hoa trong SGK giới thiệu). Học sinh có thể nói sai, GV cần theo dõi và
giúp các em sửa lại cho đúng. Qua hoạt động dạy học theo gợi ý trên, mục tiêu bài
học vẫn đạt được và điều quan trọng là các em biết sử dụng tiếng Việt để học tập;
giờ học vui, sinh động và hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, dạy học theo hướng tích hợp tiếng Việt vào các môn học sẽ khó
khăn cho GV và HS khi gặp những bài học cung cấp khái niệm trừu tượng. Để
khắc phục khó khăn này, cần có sự linh động, sáng tạo điều chỉnh nội dung dạy học
cho phù hợp với đối tượng học sinh (Hướng dẫn diều chỉnh VNEN với lớp 2; công
văn 5842của BGD&ĐT về Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học; công văn 9890
của BGD&ĐT về dạy học cho học sinh vùng miền với lớp 1).
b. 6. Biện pháp thứ sáu: Giao khoán chỉ tiêu chất lượng.
Đầu năm học, cán bộ quản lý lập kế hoạch chỉ đạo các tổ khối tổ chức sinh
hoạt xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học trong việc nâng cao chất
lượng học tập của học sinh lớp mình phụ trách theo chỉ tiêu định hướng chung của
nhà trường, học sinh khá giỏi trên 60%, yếu dưới 2% để giáo viên trong khối bàn
bạc, thảo luận, phân chia chất lượng đối với từng lớp, đồng thời thống nhất giải

phương pháp học, thái độ học và kỹ năng học. Các em hầu hết rất yếu về phương
pháp học tập, thái độ học tập và chưa có thói quen tự học. Vì vậy, CBQL chỉ đạo
giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn hướng dẫn các em việc xây dựng thời gian
biểu cho các hoạt động học tập hàng ngày, tuần, tháng; rèn cho học sinh kỹ năng
19


học tập trên lớp, tư duy độc lập, khả năng diễn đạt ngôn ngữ tiếng Việt, kỹ năng
học bài, làm bài, tham gia phát biểu... Đặc biệt, giáo viên hướng dẫn cho học sinh
cách thức học tập ở nhà, chú trọng đến việc tổ chức học nhóm với các bạn cùng
lớp.
Chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cha
mẹ học sinh về dạy học Tiếng Việt 1 CGD, thông tư 22, dạy học theo mô hình
trường học mới,... và hướng dẫn họ phương pháp học cùng con tại gia đình.
Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường với chính quyền địa phương
đặc biệt là Ban đại diện cha mẹ học sinh, Hội khuyến học và các hội, đoàn thể có
liên quan đến từng gia đình có học sinh bỏ học để vận động các em ra lớp. Thành
lập Ban vận động học sinh ở các thôn gồm: các thành viên là Cán bộ phụ trách
thôn, trưởng thôn hoặc Bí thư chi bộ, cán bộ giáo viên trong địa bàn… thường
xuyên chỉ đạo đến các cơ sở trường học tiến hành rà soát số học sinh bỏ học, xác
định rõ nguyên nhân bỏ học trong thời gian qua, kịp thời đề ra giải pháp nhằm hạn
chế đến mức thấp nhất tình trạng học sinh bỏ học trong thời gian tới.
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Trong các biện pháp trên thì biện pháp xây dựng, phát triển chất lượng đội
ngũ giáo viên là quan trọng nhất vì người giáo viên có nhận thức đúng về việc làm
của mình sẽ làm tốt mọi công việc như: duy trì sĩ số và Tăng cường tiếng Việt;
tăng; dạy học các môn học theo hướng tích hợp dạy kỹ năng sử dụng tiếng Việt
trong học tập môn học khác là chủ yếu. Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học phù
hợp với điều kiện thực tế và phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội là hỗ trợ
và tác động qua lại; có quan hệ biện chứng với nhau tạo điều kiện cho việc nâng


42

Hoàn

C Hoàn

thành

thành

SL

%

34

80.

SL

8

9
2

36

27



38

90,0

1
9

25.

Đạt

Chưa đạt

SL

4

0
28

78,0

8

22,

0

0

học và HĐGD

42

Hoàn

C Hoàn

thành

thành

SL

%

37

88,0

SL %
5

12,

Năng lực

Đạt

Phẩm chất


7,0

40

95,0

2

5,0

8,0

34

99,4

2

0,6

0
2

36

32

89,0


SL %

Đạt

SL

%

Chưa đạt

SL %

Đạt

SL

%

Chưa đạt

SL %

1

36

33

92,0


8,0

37

93,0

3

7,0

38

95,0

2

5,0

Kết quả khảo nghiệm về sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm
chất
- Năng lực giao tiếp:
Trước khi áp dụng giải pháp: Rụt rè, hay né tránh
Sau khi áp dụng giải pháp: Tự tin, diễn đạt rõ ràng
- Năng lực hợp tác:
Trước khi áp dụng: Không hợp tác, thờ ơ
Khi áp dụng giải pháp: Tích cực, chủ động trao dổi ý kiến nhóm
22


- Phẩm chất chăm học:

thông thuận tiện; cư trú gần người kinh, học ở điểm trường Eana có nhiều học sinh
người kinh, học sinh ở buôn Drai cư trú ở vùng không thuận tiện, học ở điểm
trường buôn Drai 100 % là học sinh dân tộc thiểu số) thì thấy học sinh dân tộc thiểu
số ở buôn Eana phát âm tiếng Việt tốt hơn, tâm lý tiếp xúc với người lạ tự tin hơn,
khả năng thích ứng với các tình huống giao tiếp nhanh hơn.
* Giá trị khoa học
Với ngành Giáo dục học: Đề tài đã bổ sung nội dung phong phú hơn, thực
tiễn hóa các công văn chỉ đạo chuyên môn về giáo dục học sinh dân tộc thiểu số
Với học sinh: Được học tiếng Việt tốt hơn, tránh được nhiều rào cản.
Với giáo viên: Bản thân tôi và đồng nghiệp làm giàu thêm phương pháp dạy
học mới hiệu quả hơn.
III. Phần kết luận, kiến nghị
1. Kết luận
Công tác quản lý, chỉ đạo hoạt động chuyên môn để nâng cao chất lượng học
tập của học sinh là nhiệm vụ cơ bản nhất, trọng tâm nhất trong công tác quản lý, chỉ
đạo của người phó hiệu trưởng, nó quyết định chất lượng dạy học của nhà trường.
Muốn có được thành công, đạt hiệu quả cao trong quản lý, chỉ đạo hoạt động dạy
học, nâng cao chất lượng học tập của học sinh là phải tiến hành thường xuyên, liên
tục và luôn đổi mới, sáng tạo, với quyết tâm cao của người cán bộ quản lý trong
quản lý, chỉ đạo hoạt động dạy học, kết hợp với quản lý, chỉ đạo các hoạt động
khác trong nhà trường để giáo dục học sinh phát triển toàn diện.
Với lương tâm và trách nhiệm của người lãnh đạo đơn vị, bản thân tôi luôn
tâm huyết với công tác quản lý, chỉ đạo và tổ chức các hoạt động chuyên môn, từng
bước nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong từng năm học. Vì vậy, công
24


tác quản lý, chỉ đạo, kiểm tra, tổ chức thực hiện hoạt động chuyên môn, đặc biệt là
nâng cao chất lượng học tập của học sinh được tiến hành thường xuyên, có sự hợp
tác và phối hợp đồng bộ giữa phó hiệu trưởng với tổ trưởng chuyên môn. Tuy nhiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status