Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử lớp Bốn, lớp Năm ở Trường Tiểu học Số 2 Hoà Châu - Pdf 27

Người thực hiện : Đặng Thị Thêm Trang 1
Sáng kiến kinh nghiệm
ĐỀ TÀI :
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
MÔN LỊCH SỬ LỚP BỐN, LỚP NĂM
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 HOÀ CHÂU.
A/ ĐẶT VẤN ĐỀ :
1. Lí do chọn đề tài:
Môn Tự nhiên xã hội cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản và ban đầu
về các sự vật, sự kiện, hiện tượng và mối quan hệ giữa chúng trong tự nhiên, con
người và xã hội, về cách vận dụng kiến thức đó trong đời sống và sản xuất. Cùng với
môn Tiếng Việt và Toán học, môn Tự nhiên xã hội là 3 môn quan trọng nhất trong
chương trình tiểu học. Trong giai đoạn này, việc phát huy tính tích cực của học sinh
trong việc học tập môn Tự nhiên xã hội nói chung và phân môn lịch sử ở lớp 4, lớp5
nói riêng là một phần trong việc đổi mới phương pháp dạy học của bộ môn này. Góp
phần giáo dục toàn diện cho học sinh tiểu học. Bởi vì qua thực tế 6 năm làm công tác
quản lý, tôi nhận thấy: Học sinh chưa thực sự chủ động, tích cực trong giờ học lịch sử
(chủ yếu là nghe, ghi, đọc sách giáo khoa). Đồng thời do yêu cầu phát triển khoa học
kỹ thuật ngày càng nhanh, diễn ra từng ngày, từng giờ đòi hỏi con người phải chủ
động, tích cực, sáng tạo để thích ứng được sự phát triển của xã hội. Vì vậy, đất nước
đã đặt ra mục tiêu cho ngành giáo dục “Đào tạo ra những con người có kiến thức văn
hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo, có kỷ luật, giàu
lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng được nhu cầu
phát triển đất nước và chuẩn bị cho tương lai”. Cũng trong quá trình quản lý, tôi nhận
thấy học sinh có tiềm năng được tiếp xúc với nhiều lượng thông tin (từ bố, mẹ, anh
chị - những người có trình độ văn hoá, làm khoa học). Vì vậy, trong lớp xuất hiện
nhiều em có khả năng tích cực, chủ động, cần khơi dậy giúp các em phát triển để đáp
ứng mục tiêu và yêu cầu của đất nước. Mặt khác, chương trình lịch sử lớp 4, lớp 5
Người thực hiện : Đặng Thị Thêm Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm
giúp học sinh lĩnh hội được một số tri thức ban đầu và thiết thực về xã hội. Đó là các

được khắc phục.
Cũng có thể nói thêm, giáo viên gặp không ít khó khăn khi dạy Lịch sử Việt
Nam. Một nguyên nhân quan trọng của tình trạng trên là các sách lịch sử của chúng ta
viết về các thời kì còn nặng về chính trị và quân sự, nêu quá chi tiết về diễn biến của
các trận chiến, . . . mà ít chú ý đến nội dung trọng tâm của việc xây dựng và bảo vệ
đất nước.
b/Về phía giáo viên:
- Chưa xác định chính xác nội dung và mục tiêu bài dạy dẫn đến việc cung cấp
kiến thức một cách hời hợt hoặc (phần lớn) quá dàn trải.
- Triển khai không đồng bộ mô hình tiết dạy theo phương pháp mới, nặng về
nhồi nhét kiến thức, ít chú ý đến việc khởi động và định hướng bộ máy tư duy của
học sinh.
- Sử dụng hệ thống phương pháp giảng dạy chưa phù hợp thực tế, phần lớn sa
đà vào các hình thức học nhóm, trò chơi mà ít chú ý đến việc phối hợp nhiều phương
pháp nhằm kích thích khả năng tư duy logíc của học sinh.
- Phương tiện dạy học chưa phong phú hoặc quá lạm dụng công nghệ thông tin.
c/ Về phía học sinh:
- Nắm nội dung bài học một cách máy móc, một bộ phận không nhỏ học sinh
còn học theo kiểu “học vẹt”.
- Chưa thành thạo trong kỹ năng khai thác thông tin từ các nguồn sử liệu khác
nhau, đặc biệt là thông qua kênh hình và thực địa.
Người thực hiện : Đặng Thị Thêm Trang 4
Sáng kiến kinh nghiệm
4. Phạm vi và đối tượng của đề tài:
- Học sinh lớp Bốn và lớp Năm qua việc học môn Lịch sử.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Tìm hiểu các tài liệu có liên quan đến đề tài. Tổng hợp các văn bản chỉ thị, nghị
quyết của Đảng và Nhà nước. Phương pháp quan sát, phương pháp điều tra. Nhóm
phương pháp hỗ trợ.
6. Kế hoạch thực hiện:

+ Lịch sử tìm kiếm tính đồng nhất.
+ Học Lịch sử là cần thiết để trở thành người công dân tốt.
+ Lịch sử có hữu ích cho công việc của nhân loại.
2/Cơ sở thực tiễn:
Kiến thức Lịch sử ở tiểu học không được trình bày theo một hệ thống chặt chẽ
mà chỉ chọn ra những sự kiện, hiện tượng nhân vật lịch sử tiêu biểu cho một giai đoạn
lịch sử nhất định đưa vào chương trình phân môn Lịch sử. Tuy vậy, những kiến thức
trong phân môn lịch sử vẫn đảm bảo tính hệ thống và tính logic của lịch sử ở mức độ
tính nhất định. Phân môn Lịch sử ở lớp 5 cũng được không nằm ngoài cơ sở trên gồm
32 tiết với các nhân vật lịch sử và sự kiện chính sau: a./Nhân vật lịch sử: Bình Tây đại
nguyên soái Trương Định, Nguyễn Trường Tộ mong muốn đổi mới đất nước, Phan
Bội Châu và phong trào Đông Du, quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. b./Sự kiện lịch
sử: Hơn 80 năm chống thực dân Pháp (1858 - 1945), Xô Viết Nghệ Tĩnh, các cuộc
khởi nghĩa và hoạt động yêu nước chống thực dân Pháp đầu thế kỉ XX, thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam, Cách mạng tháng Tám năm 1945 và Tuyên ngôn Độc lập
(2/9/1954); Chín năm kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954): các chiến dịch quân sự
lớn. Chiến thắng Điện Biên Phủ. Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh Đông
Người thực hiện : Đặng Thị Thêm Trang 6
Sáng kiến kinh nghiệm
Dương; Kháng chiến chống Mỹ và xây dựng đất nước (1954 - 1975); Xây dựng chủ
nghĩa xã hội trong cả nước (năm 1975 đến nay). Với nội dung kiến thức như vậy là
vừa tầm với học sinh ở lứa tuổi lớp 5. Tuy nhiên, thực tế cho thấy học sinh học môn
lịch sử thường tiếp thu một cách thụ động do đa số giáo viên chỉ dùng một phương
pháp đã cũ là thuyết trình cốt sao cho học sinh chỉ cần nhớ tên nhân vật và sự kiện
lịch sử là đủ. Chính vì vậy học sinh không hứng thú trong các giờ học lịch sử và đặc
biệt không hình dung được các sự kiện lịch sử đã diễn ra cách các em rất xa. Từ đó dễ
tạo cho các em có thói quen ỷ lại, thụ động, dễ quên và trì trệ trong tư duy. Vì lý do
đó, bản thân tôi khi năm đầu tiên được nhận nhiệm vụ Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu
học Số 2 Hoà Châu, tôi nhận thấy thực trạng học sinh ở lớp chỉ có khoảng 18 em học
môn này một cách tích cực, khoảng 30 em học trung bình, còn lại hầu như các em học

sinh trong giờ học. Trong đó đặc biệt coi trọng việc thiết kế các hoạt động nhận thức
độc lập của học sinh. Tiếp tục phấn đấu theo hướng giảm phần thuyết trình của giáo
viên để học sinh được hoạt động nhiều hơn; Tiếp tục làm phong phú những kinh
nghiệm rèn kĩ năng học tập bộ môn cho học sinh, kinh nghiệm tổ chức những tiết ôn
tập. Trong thực tế, còn có nhiều giáo viên tỏ ra lúng túng khi dạy các tiết ôn tập và tổ
chức kiểm tra, đánh giá; Đồng thời cũng cần phổ biến rộng rãi những kinh nghiệm
biên soạn và dạy giờ học Lịch sử địa phương, dạy học qua ứng dụng công nghệ thông
tin…
Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực đã khiến mối quan hệ
thầy - trò trong nhà trường bắt đầu có sự thay đổi. Vị trí trung tâm của người thầy
giáo không còn ở nghĩa truyền thống và đã bắt đầu dịch chuyển sang học sinh. Giáo
viên không chỉ đơn thuần truyền thụ kiến thức cho học sinh tiếp nhận mà còn là sự
phản ảnh trở lại của các em. Trong thời đại bùng nổ thông tin, khi học sinh có nhiều
Người thực hiện : Đặng Thị Thêm Trang 8
Sáng kiến kinh nghiệm
kênh tiếp nhận thông tin thì trường học phải là kênh duy nhất truyền đạt kiến thức
một cách có hệ thống, trong đó, giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn. Trên quan
điểm như vậy, các trường cần khuyến khích mọi học sinh phải chuẩn bị bài mới trước
khi đến lớp để có thể hình dung trước những khái niệm, kiến thức sẽ phải tiếp thu và
khắc sâu.
Nhân cách con người không thể phát triển qua việc tiếp thu tri thức mà phát
triển bằng hoạt động và trong các hoạt động của chính người ấy. Tính chất của hoạt
động ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành nhân cách: hoạt động rập khuôn, bắt
chước máy móc, học tập theo lối tái hiện sẽ cho kết quả là những con người chỉ biết
thừa hành, thiếu năng động, sáng tạo. Muốn có những con người năng động, sáng tạo
cần phải tổ chức các hoạt động vui chơi, học tập tích cực, sáng tạo. Muốn có những
con người có năng lực hợp tác, có khả năng làm việc cùng đồng đội, cần tổ chức các
hoạt động vui chơi, học tập theo nhóm, mang tính chất tập thể.
Do đó để đổi mới phương pháp dạy học đạt hiểu quả cao, chúng ta cần chú ý:
+ Thứ nhất, bồi dưỡng tình cảm, giáo dục thái độ: Học sinh chủ động, sáng tạo;

phương pháp giảng dạy trong các giờ lên lớp như sau:
+ Thay đổi tư duy trong dạy học.
+ Tuỳ thuộc vào đặc trưng của bộ môn giáo viên pahỉ tạo hứng thú cho học sinh
Người thực hiện : Đặng Thị Thêm Trang 10
Sáng kiến kinh nghiệm
trong quá trình nắm bắt kiến thức, tránh sự nhàm chán, căng thẳng trong mỗi giờ học,
tích cực dạy học theo phương pháp nêu vấn đề.
+ Giúp học sinh nâng cao tính tự học, tham gia hoạt động nhóm đạt hiệu quả
cao và cá thể hoá trong học tập.
+ Nhà trường, chính quyền địa phương, gia đình học sinh cần tạo môi trường
đẩy đủ nhằm phát triển toàn diện cho các em (kiến thức, kĩ năng, thái độ). Ngoài giờ
học chính khoá nên có những buổi học ngoại khoá, tham quan dã ngoại mang tính
thực tế hơn.
Chúng tôi nghĩ, nếu làm được như vậy thì chúng ta sẽ gặt hái được kết quả đáng
kể hơn trong việc dạy và học, đặc biệt đối với môn Lịch sử - Địa lí phần Lịch sử, môn
học góp phần hình thành phẩm chất con người Việt Nam theo 5 điều Bác Hồ dạy đối
với thiếu nhi.
Phương pháp thực hiện: Để phát huy tính tích cực của học sinh trong phân môn
lịch sử lớp 4, lớp 5 thì việc lựa chọn phương pháp dạy học và hướng dẫn học sinh
cách học là rất quan trọng. Giáo viên phải lựa chọn phương pháp sao cho phù hợp với
từng bài, với từng đối tượng học sinh làm cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức (dưới
sự hướng dẫn của giáo viên) vì hoạt động của trò là quá trình tự giác, tích cực, tự vận
động, nhận thức và phát triển nhưng phải được điều khiển.
+ Biện pháp thứ ba: Hướng dẫn học sinh cách học bộ môn Lịch sử theo từng loại
bài:
Với loại bài dạy về nhân vật lịch sử: Giáo viên yêu cầu học sinh sưu tầm tranh
ảnh hoặc tư liệu về cuộc sống và sự nghiệp của nhân vật lịch sử đó. Kết hợp với đọc
sách giáo khoa trước ở nhà để nắm được nội dung của bài mới về cuộc sống và sự
Người thực hiện : Đặng Thị Thêm Trang 11
Sáng kiến kinh nghiệm

Đinh Bộ Lĩnh La Văn Cầu
Lê Hoàn Cù Chính Lan
Lý Công Uẩn Phạm Văn Đồng
Trần Thủ Độ Trường Chinh
Trần Quốc Tuấn Võ Nguyên Giáp
Lý Thường Kiệt Phan Đình Giót
Trần Quốc Toản Tô Vĩnh Diện
Lê Lợi Bùi Quang Thận
Nguyễn Trãi Vũ Đăng Toàn
Lê Thánh Tông Võ Thị Sáu
Chu Văn An Bế Văn Đàn
Lương Thế Vinh Phan Châu Trinh
Người thực hiện : Đặng Thị Thêm Trang 12
Sáng kiến kinh nghiệm
+ Biện pháp thứ tư: Thầy và trò chuẩn bị sưu tầm tư liệu, tranh ảnh, bản đồ, tài
liệu lịch sử:
Như trên đã trình bày, một trong những phương pháp dạy học không thể thiếu
được khi dạy phân môn lịch sử là phương pháp trực quan. Những phương tiện trực
quan được sử dụng nhiều để dạy môn Lịch sử là: Tranh ảnh, Bản đồ lịch sử, các
phương tiện nghe nhìn, Di tích lịch sử. Nhà bảo tàng lịch sử và một số nhà bảo tàng
khác. Giáo viên cần đối chiếu với những phương tiện mà nhà trường đã trang bị để
giáo viên và học sinh chủ động trong bài dạy, cùng phối kết hợp với phụ huynh học
sinh trong việc sưu tầm, đóng góp cho nhà trường. Chủ động đề nghị với Ban giám
hiệu cho học sinh khối lớp 4, lớp 5 được đi tham quan di tích lịch sử hoặc bảo tàng
lịch sử ở địa phương hoặc yêu cầu phụ huynh học sinh tạo điều kiện tự đưa con em
mình đi tham quan những nơi đó.
+ Biện pháp thứ năm: Dạy học trên lớp:
Việc hướng dẫn học sinh cách học bộ môn lịch sử theo từng loại bài: việc thầy
và trò chuẩn bị sưu tầm tài liệu, tranh ảnh, tư liệu lịch sử tất cả đều nhằm phục vụ cho
việc dạy học ở trên lớp với mục đích qua bài học học sinh phát huy được tính tích cực

dung được sự kiện lịch sử quan trọng này. Từ đó các em sẽ thảo luận rồi cử đại diện
nhóm lên trình bày để rút ra bài học.
Ví dụ 2: Bài “Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947” Để giảng nguyên nhân xuất
hiện chiến dịch, giáo viên treo bản đồ hành chính Việt Nam, để học sinh chỉ được 6
tỉnh thuộc căn cứ địa Việt Bắc từ đó nắm vững được vị trí của căn cứ địa Việt Bắc
trên bản đồ Việt Nam. Sau đó học sinh thảo luận trong nhóm để tìm ra được nguyên
nhân xuất hiện chiến dịch từ những cơ sở gợi ý của phiếu học tập và nội dung sách
Người thực hiện : Đặng Thị Thêm Trang 14
Sáng kiến kinh nghiệm
giáo khoa rồi viết ý kiến ra phiếu học tập để trình bày. Để giảng về diễn biến của
chiến dịch: Giáo viên giới thiệu lược đồ của chiến dịch để học sinh nắm được. Các
em dựa vào lược đồ sách giáo khoa để trình bày ra phiếu học tập và cử đại diện trình
bày lại diễn biến theo phiếu học tập của nhóm mình. Các nhóm khác nhận xét bổ
xung nếu thiếu. Sau đó học sinh được trực tiếp lên chỉ lược đồ để nói lại diễn biến của
chiến dịch. Để tái hiện lại không khí hào hùng của quân và dân ta trên trận đánh sông
Lô. Gây cho địch tổn thất lớn, bật băng catset để các em cùng nghe ca khúc “Sông
Lô”của nhạc sĩ Văn Cao. Ở phần củng cố: Yêu cầu các em lên thuyết minh về những
bức tranh hay những bài thơ các em đã sưu tầm được theo nhóm có liên quan đến
chiến khu Việt Bắc để các em có thể hình dung được căn cứ địa kháng chiến nơi Bác
Hồ- Đảng- Chính phủ đã hoạt động lâu dài để chỉ huy cuộc kháng chiến chống Pháp
của ta. Chính nhờ việc sử dụng phong phú đồ dùng dạy học giúp học sinh gần gũi với
các sự kiện, nhân vật lịch sử hơn dễ gây cho các em ấn tượng sâu sắc, hứng thú tìm
tòi, học tập. Nó tạo điều kiện cho học sinh dễ nhớ, nhớ lâu phát triển năng lực chú ý
quan sát, óc tò mò khoa học. Đặc biệt, nó phù hợp với đặc điểm nhận thức, đặc điểm
lứa tuổi của các em.
Bước thứ ba: Giáo viên chốt lại hoặc liên hệ mở rộng. Việc giáo viên chốt lại kiến
thức, khẳng định kiến thức hoặc liên hệ mở rộng là việc làm rất cần thiết. Bởi vì:
những thông tin học sinh thu lượm được còn rời rạc, kiến thức mà các em thu lượm
được khác nhau, đôi khi sai lệch hoặc chưa chuẩn. Chính vì vậy, giáo viên phải chốt
lại chuẩn kiến thức, từ đó mở rộng vừa tầm học cho học sinh, gây cho các em sự hứng

như vậy chúng ta đã đạt được 3 mục tiêu đề ra: Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh
lực địch, khai thông biên giới Việt Trung, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc. II.
Tổ chức thực nghiệm (Giáo án).
Người thực hiện : Đặng Thị Thêm Trang 16
Sáng kiến kinh nghiệm
Bài soạn môn lịch sử lớp 5:
Bài 17: CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI THU – ĐÔNG NĂM 1950.
I. Mục đích và yêu cầu: Học sinh nhận thức được cuộc chiến đấu ở biên giới thắng
lợi đã góp phần làm thay đổi cục diện ở chiến trường Bắc Bộ. Giáo dục học sinh tinh
thần chịu đựng gian khổ trong mọi hoàn cảnh.
II. Chuẩn bị:
Giáo viên: Lược đồ, tranh tư liệu về chiến dịch Biên giới, phiếu học tập, bảng phụ.
Học sinh: Tranh ảnh, bài viết sưu tầm liên quan đến chiến dịch Biên giới theo mảng
phân công: Nhóm 1: Những hình ảnh về Bác Hồ trong chiến dịch. Nhóm 2: Hình ảnh
bộ đội, dân công tham gia chiến dịch. Nhóm 3: Những tấm gương của quân, dân ta
trong chiến dịch. Nhóm 4: Hình ảnh về tù binh địch và lòng nhân đạo của bộ đội ta.
III. Lên lớp:
1. Ổn định tổ chức: Cả lớp hát một bài.(1 phút)
2. Kiểm tra bài cũ: (5 phút) Tiết trước các em học bài gì? Chỉ lược đồ để nêu diễn
biến của chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947? (1 học sinh) (GV cho điểm) Một
học sinh nêu ý nghĩa của chiến dịch? (GV cho điểm) Giáo viên nhận xét.
3. Bài mới:
a. Giới thiệu bài: Với thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947, ta đã
đánh bại hoàn toàn chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”của thực dân Pháp. Và đến
thu đông năm 1950 ta đã chủ động mở chiến dịch biên giới. Vì sao lại xuất hiện chiến
dịch này? Diễn biến của chiến dịch ra sao? Ý nghĩa của chiến dịch ra sao? Cô cùng
các con sẽ tự tìm hiểu qua bài: “Chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950” (Giáo viên
ghi lại đầu bài - học sinh mở SGK trang 117 ).
b. Hướng dẫn tìm hiểu bài: Giáo viên: Vì sao lại xuất hiện chiến dịch này? Cô trò
chúng mình sẽ cùng nhau tìm hiểu phần thứ nhất của bài (giáo viên ghi bài) *Vì sao

Sáng kiến kinh nghiệm
dịch lại có tên là “Chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950”? Ai là người chỉ đạo trực
tiếp quân ta ở mặt trận Đông Khê? Tại sao ta lại đánh Đông Khê mà không đánh Cao
Bằng hay Lạng Sơn, Thất Khê? Một học sinh lên chỉ lược đồ diễn biến. Giáo viên
chốt lại: Kết hợp chỉ lược đồ và ảnh tư liệu. Sáng sớm ngày 16-9-1950, quân ta nổ
súng đánh chiếm cứ điểm Đông Khê, Mở màn chiến dịch. Đông Khê là cụm cứ điểm
quan trọng nằm trên đường số 4 ở giữa Cao Bằng và Thất Khê và cũng là một mắt
xích nối hai khu vực này. Đánh Đông Khê trước tiên mà không đánh vào các nơi khác
là chủ trương sáng suốt, tài tình của ta vì: Trên phòng tuyến này Cao Bằng. Thất Khê
lực lượng của địch rất mạnh, nếu đánh vào đây quân ta sẽ bị tổn thất nhiều. Do đó ta
đánh vào Đông Khê là một mắt xích yếu của địch thì Cao Bằng sẽ bị cô lập.
IV/ Củng cố:
- Gọi học sinh đọc phần ghi nhớ
- Tổ chức trò chơi: Rung chuông vàng.
+ Giáo viên phổ biến luật chơi.
+ Giáo viên nêu câu hỏi - Học sinh chơi cả lớp dưới hình thức bảng con.
- Quân ta nổ súng tấn công cụm cứ điểm Đông Khê vào thời gian nào?
(Sáng ngày 16 tháng 9 năm 1950)
- Khi bị trúng đạn, nát một phần sánh tay phải nhưng anh đã nghiến răng nhờ đồng
đội dùng lưỡi lê chặt đứt cánh tay để riếp tục chiến đấu. Hành động dũng cảm đó là
ai? (La Văn Cầu)
- Vào thời gian nào, quân ta chiếm cụm cứ điểm Đông Khê ?
(Sáng ngày 18 tháng 9 năm 1950)
- Qua 29 ngày đêm chiến đấu, quân ta đã diệt và bắt sống bao nhiêu tên địch
( 8000 tên địch)
V/ Dặn dò:
Người thực hiện : Đặng Thị Thêm Trang 19
Sáng kiến kinh nghiệm
- Về nhà học bài và chuẩn bị bài : Hậu phương sau những năm chiến dịch biên
giới

Ly, một vị vua quan đại thần có tài. Thoát chết sau vụ mưu sát, năm 1400, Hồ Quý
Ly truất ngôi vua Trần và tự xưng làm vua, lập nên nhà Hồ, dời thành về Tây Đô, đổi
tên nước là Đại Ngu.
- Do đâu mà nhà Hồ không chống nổi quân Minh xâm lược ?
(Hồ Quý Ly không đoàn kết được nhân dân để tiến hành kháng chiến mà chỉ
dựa vào quân đội nên đã thất bại. Nước ta bị nhà Minh đô hộ.)
+ Cách 2: Sắp xếp các sự kiện theo trình tự thời gian
Ví dụ :
*Đối với việc dạy lịch sử lớp 4, các em nắm được một số sự kiện, nhân vật lịch
sử tiêu biểu từ buổi đầu dựng nước đến buổi đầu thời Nguyễn.
- Thời Văn Lang, Âu Lạc, ông cha ta đã tạo lập nên một đất nước riêng với
những phong tục tập quán của mình. Nước Việt Nam bước đầu đã được hình thành và
xây dựng trong lao động, trong đấu tranh.
- Trong hơn một nghìn năm dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, nhiều
cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta đã nổ ra. Cuối cùng với chiến thắng Bạch Đằng, Ngô
Quyền đã giành lại độc lập cho dân tộc.
- Sau ngày độc lập, nhà nước đầu tiên đã được xây dựng. Khi Ngô Quyền mất,
đất nước lâm vào thời kì loạn 12 sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh là người dẹp loạn, thống nhất
lại đất nước. Nối nghiệp nhà Đinh, Lê Hoàn cùng quân dân ta đánh tan cuộc xâm lược
của nhà Tống.
Người thực hiện : Đặng Thị Thêm Trang 21
Sáng kiến kinh nghiệm
- Từ nhà Lý đến nhà Nguyễn, nước ta có lúc thịnh, có lúc suy, song thời nào
cũng có vua giỏi, người tài. Vua Lý dời đô ra Thăng Long lo kế xây dựng đất nước
giàu mạnh lâu dài. Những người như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi,
Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Quang Trung v. v… đã làm rạng danh nước nhà.
* Đối với Lịch sử lớp 5, các em tìm hiểu một số sự kiện, nhân vật lịch sử nước ta
từ khi thực dân Pháp xâm lựơc (1858) đến nay.
- Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân ta đã kiên quyết đứng
lên chống giặc. Cuối thế kỉ XIX, sau sự thất bại của hàng loạt cuộc khởi nghĩa, nước

người từ hậu phương tham gia vận chuyển lương thực, thực phẩm, quần áo, thuốc
men… lên Điện Biên Phủ.
Mùa đông năm 1953, Bộ Chính trị (Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn
Đồng, đồng chí Trường Chinh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp) họp thông qua phương
án mở chiến dịch Điện Biên Phủ.
Chiến dịch Điện Biên Phủ chia làm ba đợt tấn công. Đợt một (bắt đầu vào ngày
13 tháng 3 năm 1954). Đợt hai (bắt đầu ngày 30 tháng 3 năm 1954). Đợt ba ( bắt đầu
vào ngày 1 tháng 5 năm 1954). Đúng vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5 năm
1954, tướng Đờ Ca- xtơ-ri và Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị bắt
sống. Lá cờ “ Quyết chiến quyết thắng” tung bay trên nóc hầm chỉ huy của giặc Pháp.
Địch lũ lượt giương cờ trắng ra hàng.
Sau 56 ngày đêm chiến đấu kiên cường, gian khổ, bộ đội ta đã đánh sập “pháo
đài khổng lồ” của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ, ghi trang vàng chói lọi vào lịch sử
chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.
Người thực hiện : Đặng Thị Thêm Trang 23
Sáng kiến kinh nghiệm
Chiến dịch Điện Biên Phủ là mốc son chói lọi, góp phần kết thúc thắng lợi chín
năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
+ Cách 4: Ghi nhớ các sự kiện qua ngày sinh nhật của người thân hoặc bạn bè.
Ví dụ: Anh em sinh năm 1975 thì chính là mốc lịch sử miền nam hoàn toàn giải
phóng, thống nhất hoàn toàn nước Việt Nam.
+ Cách 5: Xem phim tài liệu hoặc tham quan các di tích lịch sử: Tư liệu đĩa CD
+ Cách 6: Dành 15 phút trước khi đi ngủ để nhớ lại sự kiện lịch sử
Ví dụ: Ở giai đoạn nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh
thống nhất đất nước (1954-1975), học sinh cần hệ thống hoá các sự kiện cụ thể như
sau:
Nước nhà bị chia cắt (Theo hiệp định Giơ-ne-vơ: sông bến Hải (thuộc huyện Vĩnh
Linh, tỉnh Quảng Trị) là giới tuyến phân chia tạm thời hai miền Nam - Bắc. Quân
Pháp sẽ rút khỏi miền Bắc, chuyển vào miền Nam. Đến tháng 7 năm 1956, nhân dân
hai miền Nam- Bắc sẽ tiến hành tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. Cuối năm 1959-

%
75
38,7%
16
8,2%
1
0,5%
155
69,8%
65
29,3%
2
0,9%
- Hơn một nghìn năm đấu
tranh giành lại độc lập
105
54,1
%
72
37,1%
17
8,8%
127
57,2%
90
40,5%
5
2,3%
- Buổi đầu độc lập
95

71
36,6%
25
12,9%
132
59,5%
85
38,3%
5
2,2%
- Nước Đại Việt thời Hậu

95
49,0
%
80
41,3%
19
9,7%
133
59,9%
85
38,3%
4
1,8%
- Hơn tám mươi năm chống 105 69 20 137 83 2
Người thực hiện : Đặng Thị Thêm Trang 25
Sáng kiến kinh nghiệm
thực dân Pháp xâm lược và
đô hộ (1858-1945)

+ Tạo hứng thú và niềm tin cho các em trong quá trình học tập.
+ Hướng dẫn kĩ năng các học lịch sử để dễ nhớ, lâu quên.
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
Môn lịch sử ở tiểu học được tổ chức dạy học từ lớp 4 đến lớp 5, góp phần thực
hiện mục tiêu giáo dục chung, đáp ứng của học sinh trong quá trình tìm hiểu quá khứ,
nhận thức xã hội hiện tại và hành động hợp quy luật. Đây là môn học có vai trò quan
trọng trong việc giáo dục tình yêu quê hương đất nước, ý thức trách nhiệm công dân.
Lịch sử là cơ sở để hình thành khái niệm lịch sử, giúp học sinh tránh được những sai
lầm, những nhận định lịch sử thiếu cơ sở khoa học, tác động sâu sắc đến tư tưởng tình
cảm, hình thành ở các em lòng khâm phục, biết ơn đối với anh hùng và đồng thời ý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status