Biện pháp nâng cao chất lượng giờ chính tả cho học sinh lớp 3 - Pdf 50

1. MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Như chúng ta đã biết: Đất nước ta đang trong thời kì đẩy mạnh công cuộc
“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá” nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Để biến lí tưởng, mục tiêu cao cả của chủ
nghĩa xã hội thành hiện thực thì giáo dục giữ một vai trò, vị trí cực kì quan trọng
đó là tạo ra những con người phù hợp với thời đại: có đủ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
về khoa học kĩ thuật để góp phần xây dựng đất nước. Mà trong sự nghiệp giáo
dục bậc tiểu học lại chính là bậc đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách ở
học sinh. Đây là bậc học cung cấp những tri thức ban đầu về tự nhiên và xã hội,
trang bị phương pháp và kĩ năng ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động
thực tiễn. Bồi dưỡng, phát huy tình cảm thói quen và đức tính tốt đẹp của con
người Việt Nam. [1]
Người xưa thường nói: “Nét chữ - Nết người” hàm ý về hai vấn đề: Thứ
nhất nét chữ thể hiện tính cách con người ; thứ hai thông qua rèn luyện chữ viết
mà giáo dục nhân cách con người. Như vậy “Viết chữ đẹp” vừa là mục đích, vừa
là phương tiện của quá trình giáo dục toàn diện nhân cách học sinh.
Chữ viết còn giúp học sinh rèn luyện được những đức tính cẩn thận, tỉ mỉ,
kiên trì…
Hiện nay ở nhiều trường, học sinh viết chữ khá đẹp. Song vẫn còn một số
ít phụ huynh phàn nàn về chất lượng chữ viết của con em mình. Trong các kì thi
số học sinh bị điểm kém do nguyên nhân chữ viết và trình bày tuỳ tiện, cẩu thả
chiếm một tỉ lệ không nhỏ. Vậy làm thế nào để dạy chữ viết - rèn nết người cho
học sinh ?
Đứng trước thực trạng đó, yêu cầu đối với nhà giáo dục phải đào tạo con
người toàn diện trong đó tiếng mẹ đẻ (tiếng phổ thông) là một trong những điều
kiện kiên quyết giúp học sinh nắm bắt được tri thức một cách dễ dàng.
Từ những lí do trên, để góp phần nâng cao chất lượng chữ viết cho học
sinh tôi chọn đề tài “Biện pháp nâng cao chất lượng giờ chính tả cho học
sinh lớp 3” làm đề tài nghiên cứu của mình.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Phân môn chính tả trong nhà trường, giúp học sinh hình thành năng lực và
thói quen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng
Tiếng Việt. Vì vậy, phân môn chính tả có vị trí đặc biệt quan trọng, nhằm thực
hiện mục tiêu của môn Tiếng Việt là rèn và phát triển tiếng mẹ đẻ cho học sinh,
trong đó có năng lực chữ viết. Trong những năm gần đây, phòng giáo dục thành
phố luôn quan tâm đến nền nếp “Vở sạch - Chữ đẹp”, Đặc biệt là phong trào thi
đua “Viết chữ đẹp - Giữ vở sạch” giữa các lớp trong nhà trường được tổ chức
hằng năm. Đây là một hình thức để tuyên truyền sâu rộng cho toàn dân trong
việc giáo dục con em viết chữ đẹp. Viết chữ đẹp không phải chỉ đẹp về hình thức
mà còn đúng cả về luật chính tả.
Hiện nay có những phương án dạy - học Tiếng Việt khác nhau ở tiểu học.
Đó là một xu hướng lành mạnh - điều đáng nói là các phương án này đều hướng
tới một mục tiêu chung đó là giáo dục một cách toàn diện hình thành và phát
triển cho học sinh những tri thức và kĩ năng cơ sở thiết thực với cuộc sống cộng
đồng, lòng tự tin, tính hồn nhiên, sự năng động và linh hoạt. Giúp học sinh có
đầy đủ phẩm chất, ý chí và ước mơ đem sức mình đáp ứng được những nhu cầu
phù hợp với xã hội trong thời đại mới.
2


Môn Tiếng Việt ở tiểu học là một trong những môn học chiếm nhiều thời
lượng trong chương trình. Dạy học sinh viết chữ được coi là một trong những
yêu cầu cơ bản quan trọng hàng đầu. Chính vì vậy nguyên thủ tướng Phạm Văn
Đồng đã khẳng định: "Nét chữ - Nết người". [2].
Chữ đẹp nào phải hoa tay
Ta chăm luyện tập hàng ngày đâu quên.
Rèn chữ viết là rèn tính cẩn thận, tỉ mỉ, kiên trì; rèn khả năng thẩm mỹ,
tính chính xác, khoa học, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy cô
bạn bè khi đọc bài của mình. Như vậy, việc rèn chữ viết tạo điều kiện cho học
sinh học tốt các môn học khác. Trong những năm gần đây việc rèn chữ viết cho

Xếp loại
SL (em)
Tỷ lệ
1
Loại A
16
38.1%
2
Loại B
18
42.8 %
3
Loại C
8
19.1 %

Ghi chú

* Nhận định nguyên nhân:
Sở dĩ học sinh có đi xuống về chất lượng chữ viết là do nhiều nguyên
nhân. Tuy nhiên cơ bản vẫn do một số nguyên nhân sau:
- Do phụ huynh HS chưa quan tâm đến việc rèn chữ viết cho con em của
mình mà chỉ chú trọng đến kiến thức của các môn Toán, Tiếng Việt.
- Do ý thức tự giác học tập, tự rèn ở nhà chưa cao.
Thực trạng đó khiến tôi luôn trăn trở trong nhiều năm dạy học “Làm thế
nào để giúp học sinh nâng cao chất lượng giờ chính tả nhằm giúp học sinh lớp 3
viết đúng, viết đẹp ? ”. Sau một thời gian tìm tòi, nghiên cứu tài liệu và cơ bản
dựa vào thực tế giảng dạy ở lớp, tôi đã giúp học sinh viết chữ đúng, đẹp và giữ
vở sạch. Sau đây tôi xin chia sẻ với đồng nghiệp một số giải pháp mà tôi đã thực
hiện.

vuông góc, sau đó tôi hướng dẫn các em cầm bút sao cho dễ viết, không cao quá
khó viết và cũng không được thấp quá mực sẽ dây vào tay làm bẩn bài viết. Khi
hướng dẫn tỉ mỉ tôi khuyến khích cho các em thực hiện, bạn nào ngồi đúng nhất
được cô tuyên dương trước lớp. Trong các tiết dạy chính tả tiếp theo, tôi luôn
nhắc nhở các em nhớ và ngồi đúng, tạo thói quen cho học sinh.
Ngoài ra, tôi thấy bút để rèn viết chữ đẹp cũng rất quan trọng nên tôi đã mua
cho HS cả lớp cùng một loại bút.
2.3.3. Rèn lỗi phát âm, đọc nói đúng tiếng phổ thông:
Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước hết giáo viên phải chú ý luyện
phát âm cho mình và cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính,
âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất
với nhau. Nếu giáo viên chưa phát âm chuẩn, do ảnh hưởng của cách phát âm ở
địa phương, sinh ra và lớn lên trong môi trường phát âm như vậy nên các em
cũng có thói quen phát âm sai dẫn đến hiện tượng viết sai chính tả.
Trong việc rèn lỗi phát âm, đọc nói đúng tiếng phổ thông việc đọc mẫu của
giáo viên có vai trò quan trọng. Khi đọc bài chính tả giáo viên phải phát âm
đúng, rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng chính tả.
2.3.4. Luyện viết đúng phụ âm đầu:
Để giúp học sinh viết đúng 1 số phụ âm đầu dễ lẫn lộn này, trong mỗi giờ
chính tả tôi phải kết hợp nhiều phương pháp dạy học một cách linh hoạt, trong
từng bài cụ thể đối với từng cặp phụ âm mà học sinh hay sai để cho bài dạy sinh
động, để giúp các em dễ phân biệt được cách viết đúng, sai.
Chẳng hạn, với phương pháp trực tiếp, tôi cho học sinh nghe, đọc, nhận xét
các chữ viết đúng bằng mắt, tập viết vài lần chữ khó vào bảng con cho quen tay.
Bước đầu tôi đọc toàn bài, sau đọc từng câu, từng cụm từ, chú ý nhấn mạnh
những tiếng khó để luyện tập cách nghe cho học sinh. Tiếp theo tôi đặt câu hỏi
bằng phương pháp gợi mở vấn đáp để giúp các em nhận ra những tiếng từ các
5



Học sinh viết bảng con, giáo viên nhận xét và giảng cách viết.
d + an + dấu sắc - dán.
+ Phát âm (gv làm mẫu, gọi 1; 2 học sinh phát âm lại) d - an - sắc - dán.
+ Giải nghĩa (giáo viên có thể gợi ý cho học sinh giải nghĩa).
Em hãy đọc lại câu có chứa tiếng "dán" cho trong bài và cho cô biết "dán"
ở đây ý nói gì? (dùng một vật này chồng lên vật khác, giữa chúng có keo hoặc
hồ để kết dính hai vật lại với nhau).
6


+ Học sinh tìm từ có tiếng "dán"; dán giấy, cắt dán, hồ dán...
Bước 3: Cho học sinh phân biệt r/d/gi bằng cách tìm các tiếng lập bảng.
r
d
gi
- rán : rán bánh
- dán: dán giấy
- con gián
- rán mỡ, rán chín...
- cắt dán, hồ dán
- gián tiếp, gián đoạn
Gợi ý cho học sinh điền từ bằng cách dùng câu hỏi gợi ý. Em tìm từ có
tiếng "rán" "dán". Học sinh tìm đến đâu tôi ghi lên bảng đến đấy.
Dù sử dụng phương pháp nào đi nữa, tôi đều phải theo dõi, quan tâm uốn
nắn từng em. Những em viết sai s/x là do các em phát âm sai. Khi dạy tôi phải
phát âm lại cho các em nghe, phát âm s cong lưỡi, đầu lưỡi chạm phía trên. Còn
viết là x khi đọc lưỡi thẳng đầu lưỡi đưa ra phía ngoài, luồng hơi thẳng ra ngoài.
Sau đó tôi cho cả lớp phát âm lại nhiều lần cho đúng, viết bảng con theo sự phát
âm của cô như: Thi viết nhanh và đúng, cô đọc"xanh" cả lớp viết vào bảng con,
bạn nào viết sai bị đứng lên phát âm lại 10 lần hoặc một số từ có tiếng khác

Ánh đèn khuya còn ... áng lưng đồi (sáng).
(Nguyễn ĐìnhThi)
Hoặc dạng bài tập:
Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng s hay x có nghĩa như sau:
+ Còn lại một chút do sơ ý hay quên (sót).
+ Món ăn bằng gạo nếp chín (xôi).
+ Trái nghĩa với tối
(sáng).

8


Với những dạng bài tập như trên tôi đều tổ chức cho các em trao đổi theo
nhóm ngẫu nhiên. Sau đó đại diện nhóm lên trình bày, các nhóm khác nhận xét
bổ sung giáo viên chốt lại lời giải đúng .

Để giúp học sinh lớp tôi viết đúng chính tả, cũng như phân biệt được các
phụ âm đầu, tôi thường linh hoạt khi dạy chính tả như dạy tiết 3 tuần 5. Các bài
tập trong VBT được đưa ra phân biệt l/n hoặc en/eng. Nhưng khi dạy học sinh
lớp ở lớp 3 A không nói sai và không viết sai l/n hoặc en/eng, nên tôi chủ động
thay bài tập này bằng tập phân biệt ch/tr hoặc s/x cho các em được luyện đọc,
viết nhiều và từ việc hiểu nghĩa của từ các em dễ nhớ và viết đúng chính tả.
Với việc phân biệt ?/~ hay ch/tr các em hay nói sai và dẫn đến viết sai,
nên tôi luyện cho các em như các hình thức luyện tâp s/x nói trên. Khi dạy chính
tả, trước khi viết bài tôi luôn coi trọng việc tìm luyện viết chữ khó (chữ các em
hay viết sai) trong bài. Đối với bước luyện viết từ khó này, đối với bước nào tôi
cũng thực hiện và trước hết cho các em tìm trong đoạn bài viết những từ nào em
9



nào hoặc bài nào sai 2; 3 lỗi không? bài nào còn sai rất nhiều lỗi? Giáo viên kịp
thời tuyên dương những bạn không sai lỗi nào.
Từ việc học sinh tự sửa lỗi theo tôi có những đặc điểm tích cực sau đây:
- Các em được tiếp xúc (có thức) với văn bản viết một lần nữa, qua đó
góp phần củng cố những kiến thức vừa được hướng dẫn.
- Với sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự phát hiện ra những lỗi
chính tả.Từ đó, các em có điều kiện để tái hiện lại quy tắc viết đúng chính tả cho
mỗi trường hợp. Nên góp phần cũng cố, khắc sâu hơn cho học sinh những khả
năng chính tả.
10


- Trường hợp, những em học sinh viết chậm, chuyên viết sai lỗi chính tả
thì không tự phát hiện được lỗi của bạn. Đối với những em này, giáo viên đi đến
từng em để hướng dẫn cách sửa lỗi. Từ đó giúp các em có thể nắm bắt được luật
chính tả một cách thuận tiện.
- Thông qua việc tự sửa lỗi của các em, tôi đã giáo dục các em tính cẩn
thận, chính xác, không để sai sót đồng thời cũng kết hợp lòng trung thành cho
các em, sai lỗi nào bảo bạn sữa lỗi ấy.
- Hình thành ý nghĩa giữ gìn đồ dùng của bạn cũng như của mình (giữ vở
sạch, viết chữ đẹp), không được làm rách, bẩn vở của bạn trong quá trình chữa
soát lỗi.
- Hình thành ở các em ý thức nhiệm vụ được giao(tính tự giác).
Để thực hiện mục tiêu này, cần phải được tiến hành thường xuyên đối với
các tiết chính tả. Tạo cho các em thói quen và giữ trật tự khi trao đổi bài. giáo
viên luôn tuyên dương và khuyến khích những em viết đúng, viết đẹp. Với biện
pháp trên, học sinh rất thích viết đúng và đẹp để cho bạn không tìm ra lỗi sai của
mình và được cô khen trước lớp. chính vì thế chỉ một thời gian không lâu tôi đã
thu được kết quả đáng khả quan.
2.3.6. Luyện viết chữ đúng, đẹp

Thanh Ngang, Sắc, Hỏi kết hợp với dấu Hỏi.
Ví dụ: Âm trầm
+ Huyền - Ngã: vững vàng, vẽ vời, vồn vã, lững lờ, sẵn sàng,…
+ Nặng - Ngã: đẹp đẽ, nhẹ nhõm, mạnh mẽ, lạnh lẽo, vội vã,…
+ Ngã - Ngã: dễ dãi,, nhõng nhẽo, lỗ lã, nghễnh ngãng,…
* Ví dụ: Âm bổng
+ Huyền - Hỏi: vui vẻ, nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo,…
+ Sắc - Hỏi: vắng vẻ, mát mẻ, nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vất vả,…
+ Hỏi - Hỏi: hổn hển, lỏng lẻo, thỏ thẻ, thủ thỉ, rủ rỉ,…
b)Từ có âm đầu là M, N, Nh, V, L, D, Ng thì viết là dấu ngã (Mình Nên Nhớ
Viết Là Dấu Ngã).
Ví dụ: M: mĩ mãn, mã lực, từ mẫu, cần mẫn,…
N: nỗ lực, trí não, truy nã, nữ giới,…
Nh: nhẫn nại, nhẵn bóng, quấy nhiễu, nhõng nhẽo,…
V: vĩnh viễn, vỗ về, vũ trang, võ nghệ, vũ trụ,…
L: lễ phép, lữ hành, kết liễu, thành lũy, lạnh lẽo, …
D: dã man, dã tràng, dũng cảm, dỗ dành, hướng dẫn, diễm lệ,…
Ng: ngưỡng mộ, hàng ngũ, ngữ nghĩa, ngôn ngữ, ngỡ ngàng, ngã (té),..
Ngoài 7 âm đầu trên các từ Hán Việt đều viết dấu hỏi:
* Ví dụ: ảm đạm, ẩm thực, ủy ban, quỷ quyệt, xả thân, kỉ niệm, tỉ mỉ,..
Ngoại lệ: quỹ đạo, thủ quỹ, xã hội, kĩ thuật, mĩ thuật,…
Sau khi hướng dẫn học sinh nắm được cách viết đẹp, và ghi nhớ mẹo luật
chính tả để viết đúng. Tôi cho các em được luyện chữ theo đúng các dòng kẻ cô
hướng dẫn, giáo viên kịp thời sửa lại những nét các em viết chưa đúng, tuyên
dương những em viết đúng hàng kẻ, viết đẹp.
Luyện viết vào vở, giáo viên đọc cho học sinh một hoặc hai câu thơ với
tốc độ chậm để các em tập viết đúng li trong khi học sinh viết, giáo viên đi lần
lượt từng bàn quan sát các em viết, em nào viết chưa đúng chưa đẹp cô viết mẫu
cho em đó một, hai chữ vào vở để các em bắt chước viết cho đẹp. Khi các em đã
biết viết dùng kích cỡ tôi tập cho các em viết nhanh dần đưa tốc độ viết đối với

- GV: Bảng phụ ghi BT1a
- HS: Bảng con, vở BT.
III . CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC:
HĐ1. (5 phút) Củng cố cách viết các từ có vần ut/uc
- GV đọc cho HS viết trên bảng con các từ ngữ : xúc đất, sút bóng
- GV nhận xét.
HĐ2. (22 phút) Hướng dẫn HS nghe - viết
a) Hướng dẫn HS chuẩn bị
- GV đọc đoạn văn một lượt . 2 HS đọc lại. Cả lớp theo dõi trong SGK.
- Hướng dẫn HS nhận xét,
13


GV hỏi: Hai vế đối trong đoạn chính tả viết thế nào ?
- HS đọc thầm lại đoạn chính tả, tìm ghi nhớ những chữ dễ viết sai. GV cho HS
tập viết một số từ ngữ trên bảng con : leo lẻo, chang chang, giận, cởi trói,..
b) GV đọc cho HS viết
- HS viết bài .
- GV theo dõi hướng dẫn các em viết đúng nét, đúng độ cao và khoảng cách
giữa các chữ.
c) Nhận xét, chữa bài
- HS đổi chéo vở cho nhau soát bài và chữa lỗi bằng bút chì xuống cuối bài .
- GV thu 10 bài sau đó nhận xét và chữa lỗi cho HS.
HĐ3. (8 phút) Hướng dẫn HS làm bài tập chính tả
Bài 1a : Rèn KN tìm đúng các từ chứa tiếng bắt đầu bằng s hoặc x theo nghĩa đã
cho.
- GV xuất hiện bảng phụ, 1HS đọc yêu cầu BT
- 1 HS làm bài trên bảng, dưới lớp HS làm và viết kết quả vào bảng con.
- HS nhận xét, chữa bài thống nhất kết quả đúng.
- Từng cặp HS 1 em nêu nghĩa của từ, 1 em nêu từ tương ứng với nghĩa đã nêu.

STT
Xếp loại
SL(em)
Tỷ lệ
Ghi chú
1
Loại A
16
38.1
2
Loại B
18
42.8
3
Loại C
8
19.1
Bài viết của học sinh cuối học kỳI.
STT
Xếp loại
SL(em)
1
Loại A
24
2
Loại B
18
3
Loại C
0

3.1. Kết luận:
Qua việc dạy chính tả và "Biện pháp nâng cao chất lượng giờ chính tả lớp 3
tôi rút ra kết luận là :
- Dạy các em, đòi hỏi người giáo viên phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, tận
tuỵ, kiên trì không nóng vội, quan tâm đến học sinh bằng tình cảm của người
mẹ, người chị.
- Nghiên cứu bài dạy trước khi lên lớp.Thực hiện đầy đủ thao tác quy trình
kế hoạch bài học.
- Nắm vững phương pháp đặc trưng của phân môn Chính tả, kết hợp linh
hoạt các phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh
của lớp mình.
- Biết giúp đỡ học sinh khi cần thiết. Không quên "xem học sinh là nhân vật
trung tâm".
- Thường xuyên nhận xét bài chính tả cho các em để có kế hoạch, hình thức
giúp đỡ kịp thời, sát thực với từng đối tượng.
- Liên hệ với gia đình thường xuyên, để kết hợp giữa gia đình, nhà trường
một cách chặt chẽ.

15


- Việc xây dựng phong trào VSCĐ có ý nghĩa hết sức quan trọng. Kết quả
của phong trào chính là những sản phẩm do học sinh làm ra, vì vậy các em rất tự
hào về những gì mình đã đạt được. Qua việc tổ chức thực hiện, nhiều giáo viên
đã rất thành công trong việc giáo dục tình cảm thẩm mĩ, yêu quý, trân trọng vẻ
đẹp về chữ viết của học sinh tiểu học.
- Để dạy tốt người giáo viên cần phải không ngừng học hỏi, tham khảo ở
sách, báo, xem mạng internet và kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp; tự tìm
hiểu, nghiên cứu để nâng cao trình độ tay nghề, cần phải có kiến thức về ngữ âm
học, từ vựng học, ngữ nghĩa học, tra “từ điển” các từ có liên quan đến chính tả.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Mẫu chữ theo Quyết định 31/2002/QĐ - BGD & ĐT ngày 14/6/2006 của Bộ
GD & ĐT
[2]. Dạy và học chính tả ở Tiểu học - Tác giả Trần Mạnh Hưởng - Nhà xuất bản
Giáo dục.

17


DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
KINH NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH
VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

Họ và tên tác giả: Đào Thị Hiền
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Quảng Phú

TT
1.

2.

Tên đề tài SKKN
Thiết kế một số trò chơi góp
phần đổi mới PPDH trong
giờ học toán lớp 2
Một số biện pháp hướng dẫn
HS lớp 2 học tập làm văn




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status