GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG đọc THÀNH TIẾNG CHO học SINH lớp 2 - Pdf 43

Sở giáo dục đào tạo thanh Hóa
Phòng giáo dục và đào tạo Hoằng Hóa

Sáng kiến kinh nghiệm
Tên đề tài:

Giải pháp nâng cao chất lợng đọc
thành tiếng cho học sinh lớp 2

Chức vụ
đơn vị công tác :

Tào Thị Thúy
: Giáo viên
Trờng Tiểu học Hoằng

SKKN thuộc môn :

Tâp đọc

Họ và tên

:

Long

Năm học: 2010 - 2011

1



học môn Tiếng Việt nhằm hình thành và phát triển ở HS kĩ năng giao tiếp, kĩ
năng sử dụng tiếng mẹ đẻ (nghe, nói, đọc, viết) nhằm từng bước giúp các em
làm chủ dần công cụ ngôn ngữ để học tập, để rèn luyện khả năng giao tiếp một
cách đúng đắn, mạch lạc, tự tin trong các môi trường xã hội thuộc phạm vi hoạt
động của lứa tuổi và để tiếp tục học lên cấp học cao hơn.
2


Tiếng Việt là một môn học công cụ mà trong đó Tập đọc đóng vai trò khởi
đầu. Đọc đúng giúp HS có khả năng hiểu biết, tiếp thu được nền văn minh của
loài người, nhờ biết đọc, các em mới có điều kiện tiếp thu các môn học khác.
Thông qua môn Tập đọc, HS có công cụ học tập và giao tiếp, không những giúp
HS phát triển tư duy mà còn bồi dưỡng cho các em tình cảm tốt đẹp, góp phần
phát triển nhân cách toàn diện. Trên cơ sở đọc tốt, HS mới có thể nói tốt, viết
tốt, thực hành tốt các hoạt động của các môn học khác, góp phần phát triển 5
mặt giáo dục trong nhà trường tiểu học.
Vậy làm thế nào để HS đọc đúng, đọc lưu loát tiến tới đọc diễn cảm?
Để trả lời câu hỏi này, người giáo viên cần phải làm gì? HS cần phải làm gì?
Trong thực tế giảng dạy, mỗi giáo viên chúng ta đã có bao giờ đặt ra câu
hỏi đó và tìm ra cách trả lời câu hỏi đó chưa?
Thực trạng HS Tiểu học chúng ta đã biết đọc đúng, đọc trôi chảy, đọc diễn
cảm một văn bản hay chưa?
Trong năm học vừa qua, được trực tiếp giảng dạy HS lớp 2, đối tượng HS
mới được làm quen với loại văn bản giản đơn ở giai đoạn học kỳ II của lớp 1,
bản thân tôi trăn trở, suy nghĩ và muốn làm một vấn đề gì đó góp phần vào việc
giúp học sinh đọc tốt. Chính vì vậy tôi đã tiến hành thực nghiệm để tìm giải
pháp "Nâng cao chất lượng đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2". Với kinh
nghiệm ít ỏi, tôi mong sao những ý kiến nhỏ của tôi sẽ góp phần giúp HS đọc
đúng, đọc diễn cảm, nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học.
2. Mục đích yêu cầu:

việc đào tạo con người phát triển toàn diện đáp ứng được nhu cầu giáo dục
trong thời đại mới. Qua đó, đề xuất một số ý kiến góp phần đổi mới phương
pháp dạy học môn Tập đọc cũng như cách thức kiểm tra đánh giá nhằm nâng
cao chất lượng dạy học phân môn Tập đọc lớp 2.
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. Thực trạng vấn đề nghiên cứu.
1.1. Cơ sở lý luận:
Ta biết rằng, dạy học có ý nghĩa rất to lớn ở Tiểu học. Đọc trở thành một
đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với người đi học. Đầu tiên trẻ em phải học đọc, sau
đó các em phải đọc để học. Đọc để giúp các em chiếm lĩnh được ngôn ngữ để
dùng trong giao tiếp và học tập. Đọc là một công cụ để học tập các môn học
khác. Đọc tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Đọc tạo điều kiện để học sinh có
khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Nó là khả năng không thể thiếu
được của một con người thời đại văn minh. Chính vì vậy, trường tiểu học có
4


nhiệm vụ dạy cho học sinh một cách có kế hoạch và hệ thống. Tập đọc với tư
cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành
và phát triển năng lực đọc cho học sinh.
Trong cuốn "Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy học tiếng Nga" Viện sĩ
M.R.Lơvốp đã định nghĩa "Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình
chuyển dạng
thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng
với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ
viết thành các đơn vị nghĩa không có âm (ứng với đọc thầm)". Định nghĩa này
thể hiện một quan niệm đầy đủ về đọc, xem đó là quá trình giải mã hai bậc: Chữ
viết - âm thanh và chữ viết (âm thanh - nghĩa). Như vậy đọc không chỉ là đánh
vần, phát âm thành tiếng theo đúng các kí hiệu chữ viết, cũng không phải là quá

nhanh các kí hiệu văn tự thành kí hiệu âm thanh. Vì vậy chất lượng của đọc
thành tiếng trước hết được đo bằng hai phẩm chất: Đọc dúng, đọc nhanh (lưu
loát, trôi chảy). Đó là hai kĩ năng đầu tiên của đọc.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi cũng chỉ muốn đề cập tới hai
kĩ năng đầu tiên của đọc bởi đối tượng đang trực tiếp giảng dạy chính là đối
tượng học sinh mới trải qua giai đoạn học vần và mới làm quen với văn bản đơn
giản, ngắn gọn (ở lớp 1). Hết chương trình lớp 1.
HS có nhiệm vụ phải đọc trơn tiếng (âm tiết). Như vậy Tập đọc ở lớp 2 với
tư các là một phân môn Tiếng Việt tiếp tục những thành tựu dạy học vần đạt
đuợc, nâng lên đầy đủ, hoàn chỉnh hơn.
Vậy mục tiêu chính của phân môn Tập đọc lớp 2 là gì?
Như ta đã biết mục tiêu của phân môn Tập đọc lớp 2 là:
* Phát triển các kĩ năng đọc, nghe và nói cho HS. Cụ thể là:
a) Đọc thành tiếng:
- Phát âm đúng
- Ngắt nghỉ hơi hợp lí
- Cường độ đọc vừa phải (không đọc to quá hay đọc lí nhí)
- Tóc độ vừa phải (đạt yêu cầu khoảng 50 tiếng/ phút)
b) Đọc thầm và hiểu ND:
- Biết đọc không thành tiếng, không mấy máy môi
- Hiểu được nghĩa của từ ngữ trong văn cảnh, nắm được ND câu, đoạn
hoặc bài đã học.
c) Nghe:
- Nghe và nắm được cách đọc đúng câu, đoạn, bài
- Nghe, hiểu các câu hỏi của thầy cô
- Nghe hiểu và có khả năng nhận xét ý kiến của bạn.
d) Nói:
- Biết cách trao đổi với các bạn trong nhóm về bài Tập đọc.
- Biết cách trả lời các câu hỏi về bài đọc
* Trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu

do này không phải chỉ có trường tôi mà tôi nghĩ trong quá trình giảng dạy, đa số
giáo viên chúng ta chưa chú trọng trong việc rèn luyện cho HS diễn đạt tư duy
của các em thành ngôn ngữ.
Trong các tiết học Tiếng Việt, đặc biệt phân môn Tập đọc, hầu hết giáo
viên mới dừng ở mức độ gọi HS đọc, nêu câu hỏi để HS trả lời chứ chưa chú
trọng tới việc các em phát âm có đúng hay không? ngắt nghỉ hơi giữa các dấu
câu và các cụm từ dài đã chính xác chưa? Các em đã biết nhấn giọng ở những
7


từ ngữ gợi tả hay chưa? Và cứ thế gọi HS đọc rồi nhắc nhở chung chung, phiến
diện chứ chưa đi sâu vào việc rèn luyện cho các em đọc dúng (đúng chính âm,
đúng phụ âm, đúng thanh điệu), đọc trơn, đọc trôi chảy, lưu loát, biết ngắt nghỉ
đúng, biết đọc rõ lời nhân vật đối với một số bài là truyền kể để sau khi đọc
xong các em có thấu hiểu được nội dung của một bài Tập đọc.
Là người giáo viên trực tiếp đứng lớp, ta phải hiểu rõ được một đều là: Chỉ
khi nào HS đọc tốt được một bài Tập đọc (tức là biết đọc đúng, đọc lưu loát,
đọc diễn cảm) thì lúc đó phần nào các em mới hiểu bài Tập đọc đó nói về vấn
đề gì, nội dung ra sao, nó hàm ẩn điều dạy bảo khuyên răn, nhắc nhở các em
điều gì?
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, tôi nghĩ: Cần phải có biện pháp cụ thể để
giúp HS có kĩ năng đọc tốt, HS có đọc tốt thì mời viết được, HS có đọc tốt thì
mới có khả năng học tốt các môn học khác và hơn thế nữa, đọc tốt giúp các em
có theê vốn ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp.
b) Tình hình học tập của học sinh.
Lớp 2A tôi phụ trách có 38 em
Bước đầu vào năm học, sau khi được nhận lớp, tìm hiểu rõ đối tượng HS
qua giáo viên các lớp dưới, kết hợp với những buổi học trên lớp, được sự đồng
ý của chuyên môn trường, tôi đã tiến hành khảo sát trình độ HS để nhằm phân
loại đối tượng.

8


Để đọc thành tiếng tốt thì điều quan trọng là luyện phát âm chính xác,
luyện ngắt nghỉ câu, luyện ngắt nhịp thơ.
1. Luyện phát âm.
Tiếng Việt không phải là một môn thực thể nhất định màg luôn biến đổi với
những sắc thái địa phương khác nhau, ở từng địa phương, tồn tại những thổ ngữ
đa dạng và phức tạp. Nhưng trong sự đa dạng phải có sự thống nhất và chúng ta
phải lấy sự phát âm chuẩn (phát âm theo tiếng Hà Nội) làm cơ sở. Chính vì vậy,
để luyện phát âm cho học sinh chính xác thì trước hết giáo viên phải phát âm
chính xác thì mới có thể khắc phục lỗi phát âm địa phương cho HS.
* Cách khắc phục lỗi phát âm là:
Qua thực tế dạy HS tôi thấy, lỗi phát âm sai của HS là do phương ngữ,
ngoài ra còn do thói quen. Đối với HS lớp tôi dạy nói riêng và HS Thanh Hóa ta
nói chung, hầu như các em không phân biệt được thanh hỏi, thanh ngã, không
phân biệt được tiếng có chứa nguyên âm đơn với tiếng có chứa nguyên âm đôi.
Vấn đề đặt ra là phải luyện cho HS khắc phục những tồn tại này.
* Hướng dẫn HS đọc đúng tiếng có chứa thanh hỏi và tiếng có chứa thanh ngã:
Trước hết, giáo viên phải đọc chính xác, sau đó hướng dẫn HS lắng nghe
để tìm ra sự khác nhau về âm thanh của tiếng có chứa thanh hỏi với tiếng có
chứa thanh ngã bằng cách đưa ra một số cặp từ:
VD: Lẻ (loi) / (lặng) lẽ, (se) sẽ / (chia) sẻ , (nông) nổi / Nỗi (niềm).
Trên cơ sở đó, hướng cho HS phát hiện tiếng có chứa thanh ngã phát âm ra
nhẹ hơn, âm thanh vang hơn, ngân hơn. Luyện cho HS phát âm tiếng có chứa
thanh ngã đứng riêng (như VD trên) sau đó mới luyện cho HS phát âm hai tiếng
có chứa thanh hỏi và thanh ngã đứng liền nhau.
VD: Luyện đọc (lông) vũ trước sau đó luyện đọc cổ vũ sau, luyện đọc võ sĩ
trước rồi mới luyện đọc dũng cảm sau.
* Hướng dẫn HS phân biệt tiếng có nguyên âm đôi và tiếng có chứa

Giờ Tập đọc phải hướng đến giáo dục HS yêu Tiếng Việt bằng cách nêu bật
sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt, sự giàu đẹp của âm thanh, sự phong phú của
ngữ điệu trong biểu đạt nội dung. Khi đọc các bài Tập đọc theo hình thức là một
văn bản, chỗ ngắt giọng phải phù hợp với ranh giới ngữ đoạn, đọc sai chỗ ngắt
giọng phản ánh sự hiểu sai nghĩa. Vì vậy ngắt giọng đúng vừa là mục đích của
dạy đọc thành tiếng vừa là mục đích giúp HS chiếm lĩnh nội dung bài đọc.
Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy HS thường mắc lỗi ngắt giọng ở những câu
dài, câu có cấu trúc phức tạp hoặc có trường hợp mắc lỗi ngay ở cả câu ngắn
nhưng các em chưa nắm được quan hệ ngữ pháp giữa các từ. Lúc này các em
thường ngắt giọng để lấy hơi một cách tùy tiện.
VD: Một hôm, / trong lúc đi chơi, / cậu nhìn thấy một bà cụ tay/ cầm một thỏi
sắt mải / miết mài vào một tảng / đá ven đuờng //
(Bài có công mài sắt có ngày nên kim)
Hoặc: Trường mới xây / trên nền ngôi trường lợp lá cũ.//
10


(Bài ngôi trường mới)
Ở những trường hợp trên bị xem là sai ngắt giọng vì đã tách danh từ ra khỏi
định ngữ, tách cụm C - V làm bổ ngữ tạo nên ý nghĩa của câu hòan toàn sai lệch
so với ý nghĩa vốn có của nó. Từ những phân tích trên, giáo viên cần chú ý đến
những câu dài, những câu tuy không dài nhưng không xác lập chỗ ngắt giọng
cũng cần phải luư ý. Giáo viên cần phải hướng dẫn HS những chỗ cần ngắt
giọng trong bài, phải dự tính được chỗ HS có thể ngắt giọng sai để hướng dẫn
các em hiểu đúng nghĩa, nội dung của câu văn, từ đó giúp các em biết ngắt
giọng một cách có ý thức.
Trở lại với ví dụ trên, nếu ngắt nhịp sai "Trường mới xây / trên nền ngôi
trường lợp lá cũ // " thì nội dung của câu văn được hiểu sai là: Cái "ngôi trường
mới xây" chứ không phải là "Ngôi trường mới" được "xây trên nền ngôi trường
lợp lá cũ" theo ý đồ của tác giả. Như vậy nếu ngắt giọng sai rõ ràng dẫn đến

Như con / chim chích /
Nhảy trên / đuờng làng
(Bài Lượm)
Đọc như thế, vô tình HS đã tách đại từ chỉ ngôi hoặc giới từ với danh từ
đứng sau nó, GV cần hướng dẫn HS ngắt nhịp đúng là:
Như con chim chích /
Nhảy trên đuờng làng //
Hoặc trường hợp HS đọc theo thói quen tự do nên đã tách từ chỉ loại với
danh từ nó đi kèm "ba gian ngà" và tách "tiếng võng" như sau:
Ba gian / nhà nhỏ /
Đầy tiếng / võng kêu /
(Tiếng võng kêu)
Hoặc:
Những ngôi / sao thức / ngoài kia /
Chẳng bằng / mẹ đã / thức vì / chúng con //
(Bài mẹ)
Chính vì vậy, khi dạy Tập đọc là những bài thơ, giáo viên cần dự tính chỗ
ngắt giọng sai của HS để xác định chỗ cần luyện ngắt giọng cho các em. Cụ thể
các câu thơ vừa đưa ra làm ví dụ ở trên, rõ ràng GV cần phải hướng dẫn rõ cách
ngắt nhịp đúng thì mới thể hiện đúng nội dung tác giả muốn diễn tả.
Ví dụ bài: Ngày hôm qua đâu rồi, ở đây tác giả muốn giới thiệu cho người
đọc về ngày hôm qua vẫn còn ở lại với chúng ta nếu chúng ta làm việc chăm chỉ
thì kết quả ấy chính là khẳng định dấu vết còn lại của Ngày hôm qua nên giáo
viên cần hướng dẫn HS đọc vắt nhịp đúng như sau:
Ngày hôm qua ở lại
Trong hạt lúa mẹ trồn //
12


Hoặc trong bài Mẹ cần hướng dẫn đọc đúng như sau:

hơn thế nữa tạo cho tiết học không khí sôi nổi, đỡ nhàm chán.
13


4. Luyện đọc trơn.
Như ở phần trên tôi đã nêu thực sự thực trạng của HS lớp chủ nhiệm năm
nay, số HS chưa đọc trơn tiếng từ, chưa đọc trôi chảy câu văn chiếm.
10.5% HS của lớp. Chính vì vậy dù tôi đã trăn trở đưa ra các giải phát âm
chuẩn, rèn ngắt nghỉ hơi đúng giữa các cụm từ hoặc ở các câu văn dài song với
thực trạng cụ thể ở lớp mình tôi không thể bỏ qua một bước nan giải đối với đối
tượng HS quá yếu về đọc này. Vì thế, ngay từ đầu năm tôi đã phải đặc biệt quan
tâm tới việc rèn đọc trơn, đọc trôi chảy cho HS. Sau một số buổi học đầu năm,
khi nắm bắt rõ đối tượng HS đọc còn phải đánh vần từng tiếng, tôi ghi chép cụ
thể rèn đọc đặc biệt đối với các em vào đối tượng HS vào sổ theo dõi riêng. Từ
đó tôi bắt tay vào rèn đọc đặc biệt với các em. Ở tất cả các tiết Tập đọc, tôi phải
đều gọi số HS này lên đọc, có trường hợp gặp tiếng khó các em không thể ghép
tiếng này để lên đọc được. VD: “Nguệch ngoạc”, “Con hươu”, “mải miết”,
“đêm khuya”. Song tôi vẫn phải kiên trì quay trở về phần luyện đánh vần ở giai
đoạn lớp 1 đánh vần mẫu để các em đánh vần theo, rồi luyện đọc ghép 2 tiếng,
3 tiếng và rồi tăng dần lên ghép từ, luyện đọc từ, đọc cả cụm từ theo hình thức
đọc trơn chứ không được đọc rời rạc từng tiếng nữa. Một biện pháp tiếp theo
nữa là tôi trực tiếp giao nhiệm vụ cho các em học sinh đọc tốt kèm đối tượng
HS này. Tôi phần chỗ ngồi, xen kẽ cứ 1 HS học tốt xen 1 HS học kém để các
em giúp nhau luyện đọc trong nhóm, để các em có điều kiện bổ sung sửa sai
cho khác nhau. Ngoài việc rèn đọc cho các em trong tiết Tập đọc, khi học các
tiết học khác tôi không quyên gọi số HS này lên đọc. Có thể tôi yêu cầu các em
chỉ cần đọc 1 lệnh của bài toán hoặc đọc 1 ý nhỏ của 1 bài ở môn Tự nhiên và
xã hội chẳng hạn và cứ thế. Năm tháng trôi qua, tôi thấy những biện pháp giúp
các em rèn đọc của tôi đã không bị hoài phí. Kết quả thi giữa kỳ I, số HS đọc ê,
a ngắc ngứ, đánh vần từng tiếng, chỉ còn 1 em chiếm 3.5%.

dưới hình thức là phiếu thăm để kiểm tra một cách khách quan theo mức độ yêu
cầu của chuẩn kiến thức và kỹ năng đọc với HS lớp 2. Mục đích của tôi là kiểm
tra xem số lượng HS trong lớp, từng đối tượng HS, các em đọc được đạt ở mức
độ nào?
* Cách tiến hành kiểm tra như sau:
Tổ chức cho HS thi vào một buổi học trái buổi
+ Nêu nội dung, yêu cầu, mục tiêu của buổi kiểm tra
+ HS lần lượt lên bốc thăm phiếu đã ghi sẵn bài nội dung bài tập đọc rồi về
chỗ chuẩn bị phần nhiệm vụ của mình như đã giao trong phiếu
+ Gọi lần lượt HS lên đọc bài tập đọc theo yêu cầu (tránh trường hợp 2 HS
liên tiếp đọc một đoạn giống nhau)
15


* Cách đánh giá tôi in sẵn theo mẫu sau: (Thang điểm 10 như hướng dẫn
của chuyên môn quy định đọc thành tiếng cho 6 điểm)
+ Đọc đúng tiếng, đúng từ (đọc trơn trôi chảy, lưu loát, phát âm đúng): 3
điểm
(Đọc sai dưới 3 tiếng: 2,5 điểm, đọc sai 2 hoặc 3, 4 tiếng được 2 điểm, đọc sai 5
hoặc 6 tiếng: 1,5 điểm, đọc sai 7 hoặc 8 tiếng: 1điểm, đọc sai 9 hoặc 10 tiếng
0,5 điểm, đọc sai trên 10 tiếng: 0 điểm)
+ Ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu hoặc cụm từ: 2 điẻm.
(Mắc lỗi về ngắt nghỉ hơi ở 1 hoặc 2, 3 dấu câu: 1 điểm, không ngắt nghỉ hơi
đúng ở 3 đến 4 dấu câu: 0,5 điểm, không ngắt nghỉ hơi ở 5 dấu câu trở lên: 0
điểm.)
+ Tốc độ, cường độ đạt yêu cầu (khoảng 50 tiếng/phút): 1 điểm
(Đọc quá 1 đến 2 phút: 0,5 điểm, đọc quá 2 phút phải đánh vần ê, a ngắc
ngứ: 0 điểm)
Dưới đây là một mẫu văn bản mà tôi đã in sẵn để làm phiếu KT đánh giá
chất lượng đọc thành tiếng của HS

Với kết quả trên đây cho thấy việc rèn đọc tiếng cho HS là một việc làm rất
quan trọng để góp phần nâng cao chất lượng các môn khác, người giao viên
trong quá trình giảng dạy phải luôn tự tìm tòi, phát huy sự sáng tạo, không cứng
16


nhắc dập khuôn với những gì có sẵn mà phải biết vận dụng linh hoạt những
kiến thức có trong sách vào thực tế giảng dạy đối tượng HS của mình. Không
những tôi chỉ gặt hái được kết quả cao ở phần đọc tiếng, mà từ kết quả HS đọc,
được tiếng tốt dần đến kết quả các môn học khác của lớp tôi cũng tương đối cao
hơn so với lớp còn lại trong khối.
2. Kết luận
Để nâng cao chất lượng đọc cho HS lớp 2, trước tiên phải chú trọng đến
việc rèn đọc tiếng. Để việc rèn đọc tiếng mang lại hiệu quả thiết thực, giáo viên
cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Khảo sát để nắm vững đặc điểm, thực trạng đọc đúng, đọc trơn, lỗi phát
âm của HS địa phương hay cụ thể là HS lớp mình chủ nhiệm tìm ra điểm yếu
của HS khi học phân môn Tập đọc. Từ đó có biện pháp tìm ra giải pháp khắc
phục lỗi sai sao cho phù hợp cho từng đối tượng HS.
- Luyện đọc phải lấy HS làm trung tâm. Luyện đọc phải được cụ thể hoá ở
từng bài, từng cá nhân mắc lỗi chứ không thực hiện chung chung như và sách
hướng dẫn của HS nêu. Luyện cho HS từ dễ đến khó, phải kiên trì thực hiện của
1 quá trình.
- Ngoài việc khắc phục lỗi đọc đánh vần ê - a ngắc ngứ, lỗi phát âm không
chuẩn do phương ngữ, giáo viên còn phải chú trọng cho HS luyện ngắt nghỉ hơi
đúng giữa các cụm từ, các câu văn dài, ngay cả ở các câu văn ngắn nhưng khó
xác định chỗ ngắt giọng. Đối với bài Tập đọc là thơ, phải chú ý luyện ngắt nhịp
thơ, nhấn giọng từ cần thiết. Song không phải cứ đến giờ Tập đọc là giáo viên
yêu cầu HS phải đọc như thế này, đọc như thế kia mà phải để HS tự tìm ra cách
đọc, cách thể hiện giọng sao cho phù hợp với nội dung từng bài, từng nhân vật.

tiếng, học sinh được luyện đọc nhiều, số HS đọc trôi chảy, đọc dúng, đọc diễn
cảm tốt thì tiết học đó đã đạt hiệu quả cao vì nếu HS đọc tốt chắc chắn các em
sẽ hiểu nội dung bào tốt hơn. Cán bộ phụ trách chuyên môn không nên cứng
nhắc đánh giá tiết dạy Tâp đọc theo kiểu là phải đi đúng trình tự các bước, phải
ghi chép bảng theo đúng yêu cầu. Tóm lại điều cốt lõi sau khi học xong tiết Tập
đọc học sinh phải đọc được, hiểu được nội dung văn bản, đó mới là vấn đề thiết
yếu của mục tiêu phân môn Tập đọc lớp 2.
c) Đối tượng cấp trên.
- Đối với các cấp phụ trách chuyên môn cần tăng cường tổ chức hội thỏa
chuyên đề ở phân môn này hoặc tổ chức thi đọc cho HS vì trong thực tế học
sinh của vùng chúng ta sinh sống hiện tượng phát ngôn theo phương ngữ vẫn
chiếm phần đa.
18


- Đối với các cấp có thẩm quyền, cần cố gắng tạo điều kiện cung cấp tài
liệu, tranh ảnh phục vụ cho phân môn Tập đọc nói riêng, môm Tiếng Việt nói
chung để kết quả dạy học môn Tiếng Việt đạt cao hơn đáp ứng mục tiêu dạy học
Tiếng Việt Tiểu học trong thời đại mới
d) Đối với phụ huynh HS.
- Cần nâng cao tầm nhận thức, quan tâm hơn nữa tới việc học hành của con
em mình, không nên phó mặc hoặc nghỉ việc con em tới lớp, kết quả học tập là
trách nhiệm chỉ riêng của thầy cô.
- Mua sắm đủ sách vở, đồ dùng học tập cho các em
- Lập danh sách cho các em có thời gian biểu ở nhà hợp lí.
e) Đối với HS.
- Phải tự giác học tập
- Phải có sự cố gắng không những chỉ học ở trường mà còn phải tự học ở
nhà, học qua sách vở , học ở thầy cô, học qua bạn bè.
- Phải thực hiện những yêu cầu mà thầy cô căn dặn ở lớp để về nhà thực

1. Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
(Lê Phương Nga - Nguyễn Trí)
2. Đổi mới chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
3. Hướng dẫn giảng dạy Tiếng Việt lớp 2
4. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 (T1, T2)
5. Dạy học Tập đọc ở Tiểu học
(Lê Phương Nga)
6. Bồi dưỡng thường xuyên chu kì III

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status