I. THỰC TRẠNG VIẾT VĂN CỦA HỌC SINH LỚP 4-5 TRONG
TRƯỜNG
Như trên đã nói muốn viết được bài văn hay phải có khả năng quan sát
tinh tế , khả năng phát hiện và khả năng cảm nhận. Ngoài ra cần phải có óc
tưởng tượng, kỹ năng dùng từ chính xác, viết câu đúng và có hình ảnh.Tuy
nhiên hiện nay trong khá nhiều bài viết của các em còn rập khuôn theo bài
hướng dẫn tìm ý và dàn ý mẫu của giáo viên. Bài viết của các em còn có
những nét chung giống nhau, thiếu sự sáng tạo và chưa giàu hình ảnh.
Thống kê chất lượng 27 bài kiểm tra Tập làm văn của của học sinh lớp
4A năm học 2009-2010 đề bài" Hãy tả lại một cây mà em thấy thích nhất".
Kết quả như sau:
LỚP
4A
Sĩ số
27
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
SL
%
SL
- Giáo viên chưa mạnh dạn tìm tòi, nghiên cứu nhiều biện pháp, chưa
thực sự gây được hứng thú, tính tích cực của học sinh.
- Giáo viên thiếu tin tưởng vào HS nên đã hướng dẫn quá kĩ, quá tỉ mỉ
dẫn đến việc HS lười suy nghĩ, lười động não, không huy động khả năng vốn
có của mình khiến cho bài văn trống rỗng thiếu tình cảm của cá nhân và đặc
biệt là không có sự sáng tạo.
- Các phân môn của Tiếng việt và môn học khác chưa thực sự đạt hiệu
quả trong việc trang bị hiểu biết, đặc biệt là phát triển khả năng suy nghĩ và
kỹ năng cho HS.
2.Về phía học sinh
- Coi nhẹ việc quan sát thực tế, chưa chịu khó tưởng tượng.
- Vốn từ ngữ nhiều em còn hạn chế.
- Khả năng tích luỹ kiến thức từ thực tế cuộc sống chưa phong phú.
1
- Chưa biết phối hợp nhiều giác quan khi quan sát.
III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC
VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌCC SINH LỚP 4 -5
1. Trang bị cho HS những kiến thức về văn miêu tả
1.1 Thế nào là miêu tả?
- Miêu tả là dùng lời văn hay nét vẽ mà thể hiện sự vật.
- Văn miêu tả là loại văn căn cứ vào những điều quan sát, ghi chép, cảm
nhận được về đối tượng ( đồ vật, cây cối, loài vật, con người…) dùng ngôn
ngữ để vẽ ra hình ảnh chân thựccủa đối tượng đó, trình bày theo một bố cục
hợp lí và diễn đạt bằng lời văn sinh động, khiến cho người đọc, người nghe
cùng thấy, cùng cảm nhận như mình.
- Đối tượng của văn miêu tả là là những cảnh vật, đồ vật, con vật, cây
lại phải có những nét khác biệt với những đối tượng khác.
1.4. Cấu tạo đoạn văn, bài văn miêu tả
Bài văn phải có cấu tạo rõ 3 phần( Mở bài, thân bài, kết bài). Đoạn văn
cũng cần có câu mở đoạn và câu kết đoạn. Giữa các đoạn phải có câu chuyển
đoạn hoặc từ ngữ có tác dụng nối để nối đoạn nọ với đoạn kia.
1.5. Những dạng bài miêu tả
- Tả đồ vật
- Tả con vật.
- Tả cây cối.
- Tả cảnh
- Tả người
2. Mở rộng vốn từ, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc
thẩm mĩ và kỹ năng quan sát, cảm nhận đối tượng miêu tả cho HS qua
các phân môn Tiếng Việt.
Như chúng ta đã biết, muốn làm tốt các bài văn phải có vốn văn học
đáng kể mà ở lứa tuổi nhỏ thì điều này thật không dễ. Nếu HS không có vốn
kiến thức văn học thì bài văn sẽ nghèo nàn, khô khan thiếu hình ảnh. Vì vậy
GV làm sao để các em cảm nhận đối tượng miêu tả một cách tự nhiên, bằng
chính vốn từ ngữ và sự hiểu biết của mình.Công việc này đòi hỏi người GV
phải kiên trì, chịu khó và kiên nhẫn.Chúng ta có thể rèn luyện và bổ sung
những kỹ năng này qua một số phân môn của môn Tiếng Việt. Cụ thể như
sau:
Nội dung các bài Tập làm văn lớp 4-5 thường gắn với các chủ điểm
đang học ở các bài Tập đọc. Quá trình hướng dẫn HS thực hiện các kỹ năng
phân tích đề, quan sát, tìm ý,nói, viết đoạn văn hoặc bài văn là những cơ hội
giúp trẻ mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống theo chủ điểm đang học.Việc
phân tích dàn bài, tìm ý cho đoạn văn...góp phần phát triển năng lực phân tích,
tổng hợp của HS.
Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện và phát triển nhờ các
biện pháp so sánh, nhân hoá...khi học văn kể chuyện.
không thể thiếu bởi vì các sự vật, hiện tượng, hoạt động...chỉ trở nên sinh
động, cụ thể và có hồn khi chúng gắn liền với các đặc diểm, thuộc tính riêng
vốn có của chúng, mà tính từ tuyệt đối lại là từ có khả năng biểu thị những sắc
thái riêng biệt của sự vật, hiện tượng.
Ví dụ: Đường vào làng em được rải nhựa phẳng lì, dài hơn năm cây số.
c. Sử dụng biện pháp so sánh:So sánh thể hiện sự nhận thức chính xác,
mới mẻ, gợi những hình ảnh đẹp đẽ, sinh động thể hiện sâu sắc thái độ, tình
cảm của con người trước đối tượng miêu tảvà làm đẹp ngôn từ của người sử
dụng.Trong văn miêu tả nhờ có so sánh để tạo nên hình ảnh sống động, gợi
hình, gợi cảm tạo ra cách nói mới mẻ, làm cho cách diễn đạt trở nên phong
phú, uyển chuyển, tăng sức mạnh biểu cảm cho lời nói.
Ví dụ:Hoàng hôn dần buông như ai đó rắc những tia nắng cuối cùng
trên mặt biển xanh êm đềm.
4
d. Sử dụng biện pháp nhân hoá: Nhân hoá là biện pháp miêu tả sinh
động, hấp dẫn các sự vật, hiện tượng; thể hiện kín đáo tình cảm, cảm xúc và
cách nói hình ảnh về sự vật, hiện tượng. Nhân hoá trong bài văn miêu tả được
dùng để miêu tả cảnh vật, đồ vật, con vật một cách sống động, có hồn. Sử
dụng biện pháp nhân hoá sẽ tăng thêm sự mềm mại, uyển chuyển, trữ tình
trong diễn đạt.
Ví dụ: Ngày mai thôi, những bông phượng đỏ rực kia sẽ không còn
được khoe với các bạn học sinh cái màu sắc tươi rói của mình nữa.
e. Sử dụng biện pháp ẩn dụ: Ẩn dụ là một phương tiện tu từ có tác dụng
tạo ra những hình ảnh nghệ thuật, gợi nên những cảm xúc lạ lùng cho người
đọc, người nghe bằng những cảm giác về một sự vật nào đó giống như cảm
giác đang trước đối tượng miêu tả.
Ví dụ: Chao ôi, trông con sông,vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa
tốt như nhau. Yêu cầu của việc chữa câu sai là phải làm sao cho câu chữa có
nội dung, cấu trúc gần với câu cũ và liên kết tốt với các câu hữu quan. Điều đó
có nghĩa là không được tuỳ tiện thêm bớt từ ngư , đặc biệt là thực từ, bời vì
việc làm này thường kéo theo sự thay đổi về nội dung, thậm chí cả về cấu tạo
câu. Cũng cần tránh thay đổi trật tự từ, bời lẽ việc làm đó có thể khiến cấu trúc
câu thay đổi, và khiến câu không còn liên kết được với các câu khác. Cần gợi
ý để học sinh chữa câu bằng nhiều cách, sau đó đưa từng câu mới hình thành
vào ngữ cảnh và chọn cách chữa có nội dung, cấu trúc gần với câu ban đầu và
liên kết chặt chẽ với các câu khác trong bài nhất.
b. Các bước phân tích lỗi, chữa câu sai
Để việc chữa câu đạt hiệu quả,nên tiến hành thao tác chữa câu theo các
bước chủ yếu sau:
- Phát hiện và phân tích lỗi: Tìm các thành phần chính, phụ trog câu,
xem câu có đúng cấu tạo hay không, phân tích xem nội dung câu có tường
minhvà logíc không, có gắn với mục đích ói, phù hợp với tình huống giaotiếp
hay không, ...
- Phỏng đoán nguyên nhân gây ra lỗi: Do nhầm lẫn các thành phần câu,
do không hiểu nghĩa của từ, do không nắm được cấu trúc câu, do đưa ra cách
nối khẩu ngữ vào văn viết, do không dùng dấu câu hay dùng dấu câu không
đúng quy tắc,..
- Căn cứ vào nguyên nhân gây ra lỗi để chữa câu sao cho bám sát nội
dungvà cấu trúc câu cũ, đảm bảo liên kết với các câu khác trong bài, vừa tiết
kiệm từ.
3.2.Một số ví dụ về lỗi và cách chữa lỗi viết câu thường gặp trong bài
viết của học sinh
Căn cứ vào cơ chế mắc lỗi và phạm vi lỗi trong lời nói, có thể chia lỗi
viết câu trong bài viết của học sinh thành 2 loại: lỗi trong câu ( lỗi câu rời ) và
lỗi ngoài câu ( lỗi trong văn bản).
Lỗi trong câu có thể được phát hiện và chữa khi câu đứng biệt lập. Kiểu
lỗi này biều hiện thành 2 dạng chủ yếu là lỗi về cấu tạo và lỗi về nội dung.
Có 2 loại câu sai cấu tạo là câu thiếu thành phần và câu thừa thành phần
*Câu thiếu thành phần:
Ví dụ1: Trong bài làm làm văn phần kết bài của một học sinh lớp 5 đã
viết: " Qua những việc làm của mẹ cho em thấy mẹ là người giàu lòng nhân
hậu và hết lòng yêu thương con trẻ."
Câu trên rất điển hình cho dạng câu thiếu chủ ngữ do người viết nhầm
trạng ngữ với chủ ngữ. Muốn chữa câu này giáo viên yêu cầu các em xác định
thành phần chính phụ của câu để phát hiện lỗi sai trong câu( thiếu chủ ngữ, chỉ
có trạng ngữ và vị ngữ ). Để câu có đủ thành phần cần bổ sung chủ ngữ, hoặc
"cải tạo" để câu đủ thành phần.Giáo viên có thể giúp học sinh đưa ra cách sửa
như sau:
Cách 1: Tạo nòng cốt mới cho câu để có câu mới như sau: Qua những
việc làm của mẹ, em thấy mẹ là người giàu lòng nhân hậu và hết lòng yêu
thương con trẻ.
Cách 2; Chuyển trạng ngữ thành chủ ngữ để có câu như sau: Những
việc làm của mẹ cho em thấy mẹ là người giàu lòng nhân hậu và hết lòng yêu
thương con trẻ.
7
Ví dụ 2: Trong bài văn tả người, một học sinh viết : " Mẹ em, người
bạn lớn mà vô cùng thân thiết với em."
Trường hợp này cái sai của người viết là mang lối nói không chuẩn mực
của khẩu ngữ vào bút ngữ. Đây là câu giới thiệu thuộc mẫu: " Ai là gì? ". Cách
chữa đơn giản nhát là thêm từ là vào trước "người bạn " để có câu đúng. Cũng
có thể cho rằng nguyên nhân tạo ra c©u sai là do ngườiviết nhầm thành phần
chú thích của chủ ngữ là vị ng÷ của câu. theo cách phân tích này,câu trên chưa
có vị ngữ, và việc cần làm để có câu đúng là thêm cho câu trên một vị ngữ
thích hợp.Có thể giúp học sinh sửa như sau:
Cách 1: Mẹ em là người bạn lớn mà vô cùng thân thiết với em.
nội dung
- Không dùng dấu câu
Ví dụ:Xuân về cây cối trong vườn như có thêm sức sống mới cây nhãn
xanh tuơi mơn mởn bụi chuối đẻ thêm nhiều cây con cô hoa hồng khoe những
bông hoa đỏ thắm chị cúc khoác trên mình chiếc váy vàng rực rỡ ...
Trong đoạn viết trên các mục đích miêu tả không hề được thể hiện, bởi
vì dấu câu hoàn toàn vắng mặt. Chính điều này đoạn văn các em viết trở nên
rối rắm về cấu trúc và tối tăm về lôgíc. Với lỗi này cần hướng dẫn các em xác
định danh giới các ý, sau đó sử dụng dấu câu thích hợp để ngăn cách các ý.
9
- Dùng dấu câu không đúng chức năng: tức là dùng dấu chấm vào chỗ
của dấu phẩy tạo ra câu chỉ có thành phần phụ và không có nòng cốt.
Ví dụ: Để đứng vững trước gió mưa. Cây bàng có những chùm rễ to
khoẻ cắm sâu vào lòng đất.
Với lỗi này giáo viên cần gợi ý để các em thấy quan hệ giữa câu sai và
câu đúng ngay sau đó: Câu sai nêu mục đích của sự việc đựơc nói đến của câu
đứng sau, từ đó các em sẽ phát hiện ra câu sai chính là thành phần trạng ngữ
của câu đứng sau và dấu câu ở đây phải là dấu phẩy.Câu mới là một câu đơn
có trạng ngữ: Để đứng vững trước gió mưa, cây bàng có những chùm rễ to
khoẻ cắm sâu vào lòng đất.
4.Rèn luyện kỹ năng viết văn trên cơ sở quy trình sản sinh ngôn
ngữ
Sau khi HS đã có kiến thức, có vốn từ ngữ GV tiến hành rèn cho HS kỹ
năng viết văn
4.1.Giúp HS nắm chắc quy trình sản sinh ngôn bản
Khi tạo lập một văn bản văn miêu tả cần qua các bước sau:
- Định hướng văn bản ( Nhận diện văn bản miêu tả; phân tích đề văn
miêu tả)
trong nhóm (lớp) nghe.
- GV hướng dẫn ,đánh giá từng đoạn theo các yêu cầu:có ý nào,thiếu ý
nào ,có ý nào hay,có câu nào viết sai ....
- Từng HS tự sửa đoạn viết của mình và chép đoạn văn đã sửa vào vở
+Khi HS đã biết viết đoạn mở bài gián tiếp hoặc kết bài mở rộng GV
yêu cầu HS viết đoạn mở bài gián tiếp hoặc kết bài mở rộng cho một đề văn
bất kỳ rồi cũng tổ chức sửa như vậy cho đến khi HS nắm được cách viết một
cách thành thạo
*Một vài cách mở bài thường gặp
+Mở bài bài bằng cách giới thiệu
Theo cách này ,chúng ta đề cập trực tiếp đến đối tượng.
Ví dụ1:Hãy tả một học sinh gương mẫu trong lớp em.
Một HS mở bài như sau:Trong lớp em ai cũng khen Minh là người vừa
học giỏi lại vừa dễ mến.
Ví dụ 2:Hãy tả quang cảnh một buổi lễ chào cờ đầu tuần ở trường em.
Với đề bài này 1 HS khác viết:Như thường lệ , cứ đến sáng thứ hai là
trường em tổ chức lễ chào cờ đầu tuần.
+Mở bài bằng cách nêu lí do
Với cách này,chúng ta nêu rõ nguyên nhân dịp nào đó mà ta bắt gặp đối
tượng.
Ví dụ 1:Hãy tả một nữ y tá đang chăm sóc cho người bệnh
MB:Hôm qua, em theo mẹ vào thăm dì Lan đang nằm viện, em mới có
dịp gặp cô Hoa, một nữ y tá của bệnh viện huyện.
+Mở bài bằng cách bất chợt
Đây là cách mở bài bất chợt dùng một ân thanh, một tiếng động nào
đó...khiến người đọc phải chú ý đến đối tượng.
11
Ví dụ:Hãy tả lại một chú thương binh
lòng.
+Kết bài bằng cách nêu mơ ước và những việc làm trong tương lai
VD: Hãy tả lại dòng sông quê hương
KB: Với em dòng sông luôn nhân hậu, hiền hoà mang dòng nước mát
cho cây cối ruộng đồng luôn xanh tốt.Em mong sau này lớn lên sẽ xây một
12
cây cầu thật đẹp bắc qua sông để mỗi chiều hè được đứng trên cầu ngắm nhìn
hoàng hôn tuyệt đẹp ngay trên chính quê hương mình.
4.3.Rèn luyện tạo lập đoạn văn
- Sau khi đã rèn cho HS cách viết mở bài, kết bài GV chú ý rèn cho HS
kỹ năng tạo lập một đoạn văn bằng cách :
+Đọc cho HS nghe những bài văn mẫu .
+Phân tích cho HS thấy cái hay của đoạn văn từ cách dùng từ ,đặt câu
cho đến việc lựa chọn chi tiết ,hình ảnh ,cách sử dụng các biện pháp so sánh ,
nhân... hoá khi viết .
+HS thực hành viết một đoạn văn dựa trên những điều vừa học được .
+HS đọc bài viết của mình cho nhóm (cả lớp) nghe.
+ GV hướng dẫn ,đánh giá từng đoạn theo các yêu cầu:có chi tiết nào
tiêu biểu,đặc sắc ,có ý nào hay, đã sử dụng được những biện pháp tu từ nào,có
câu nào viết sai ....
+Từng HS tự sửa đoạn viết của mình và chép đoạn văn đã sửa vào vở.
Thông qua việc luyện tập các kỹ năng trên, HS biết cách tạo lập một
văn bản miêu tả hoàn chỉnh theo từng công đoạn một cách chắc chắn.Việc rèn
luyện rất cụ thể về kỹ năng giúp cho HS chủ động, tự tin khi tạo lập bài văn
miêu tả hoàn chỉnh, tránh được tình trạng viết văn sơ sài, theo cảm tính hoặc
sao chép bài văn của người khác.
5.Rèn luyện kỹ năng tìm hiểu đề
cảm hoặc ấn tượng sâu sắc.
5.2 Xác định mục đích miêu tả
Tuỳ theo từng đề bài, tuỳ theo ý định của người viết mỗi bài văn có
những mục đích miêu tả khác nhau
Trong một số đề bài, mục đích miêu tả có thể được thể hiện qua yêú tố
ngôn ngữ như: " thích nhất", "kính trọng nhất", "gần gũi, gắn bó nhất", ... hoặc
thể hiện bằng một " mệnh lệnh ", ví dụ : " Hãy tả cái trống truờng em và nói
lên cảm xúc của em khi nghe tiếng trống trường ". Trong một số đề bài khác,
thái độ, cảm xúc, ....khi miêu tả chủ yếu phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của
người viết. Với những đề bài này, giáo viên cần hướng học sinh đến những
cảm xúc,tình cảm, tươi đẹp, tích cực. Chẳng hạn, với đồ vật là tình cảm gắn
bó, thân thiết; với loài vật hoặc cây cối là sự chăm sóc, tình cảm yêu mến; với
cảnh vật là cảm xúc gắn liền với từng cảnh; với con người là lòng biết ơn, quí
trọng hoặc thân mật, yêu mến, ...
Để giúp học sinh xác định mục đích miêu tả cho bài văn của mình, cần
có những bài tập từ dễ đến khó,từ đơn giản đến phức tạp.Cần giúp học sinh trả
lời được câu hỏi" Miêu tả để làm gì?". Việc trả lời được các câu hỏi này bao
gồm các nội dung: Miêu tả nhằm đem tới cho người đọc thông tin gì?. Miêu tả
thể hiện thái độ, tình cảm như thế nào? Miêu tả nhằm thể hiện mong muốn gì
của người viết đối với người đọc?...
5.3 Xác định yêu cầu về trọng tâm miêu tả
Trong qúa trình tìm hiểu đề, việc xác định trọng tâm miêu tả luôn gắn
liền với xác định phương hướng làm bài, bởi vì trọng tâm miêu tả sẽ giúp
người làm bài phác hoạ được những ý chính sẽ triển khai, khiến bài viết không
sa vào liệt kê cho hết, cho đủ các đặc điểm của đối tương miêu tả. Với những
đề bài đã rõ trọng tâm miêu tả thì vấn đề thật đơn giản.
Ví dụ: " Hãy tả hình dáng của một con vật mà em yêu thích", học sinh
có thể xác định được ngay trọng tâm miêu tả là tập trung vào hình dáng của
14
Việc thực hiện các thao tác trên trong quá trình tìm hiểu đề sẽ giúp học
sinh có hiểu biết đầy đủ về văn miêu tả, từ đó có hứng thú hơn khi viết bài và
phát huy cao nhất khả năng sáng tạo trong bài văn.
6. Rèn luyện các kỹ năng viết văn thông qua hệ thống bài tập
Các bài tập trong sách TV4, TV5 khá phong phú về hình thức vàhấp
dẫn về nội dung.Trong một tiết học văn miêu tả HS được rèn luyện từ 2 đến 4
bài tập.Các bài tập được sắp xếp để hình thành kỹ năng từ dễ đến khó, từ thấp
đến cao. Sách TV 4,TV5 dành khá nhiều bài tập,yêu cầu HS phân tích đoạn
văn, bài văn miêu tả mẫu.Những bài tập này không chỉ giúp các emhọc tập
cách quan sát, tìm ýchọn từ, đặt câu, viết đoạn...của tác giả mà còn tạo cơ sở
cho HS làm các bài tập tiếp theo.
Ví dụ:Tiết Tập làm văn Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây
cối( TV4-Tuần 23)có 2 bài tập.Sau khi làm bài tập 1-Đọc một số đoạn văn
miêu tả hoa, quả dưới đây và nêu nhận xét về cách miêu tả của tác giả. Khi
hướng dẫn HS làm bài tập này GV phải hướng dẫn HS nắm được cách miêu tả
của tác giả. Đó là:Khi tả hoa tác giả đã tập trung miêu tả mùi thơm đặc biệt
bằng cách so sánh với mùi hương của một số loài hoa khác. Khi tả quả giả tả
từ khi hoa rụng đến khi kết quả, từ khi quả xanh đến khi quả chín..Tác giả
cũng đã chú ý thể hiện tình cảm, trong quá trình miêu tả kết hợp với việc so
sánh, sử dụng hình ảnh nhân hoá.Từ việc HS nắm chắc cách miêu tả của bài
tập 1 sẽ làm tốt bài tập 2 -Viết một đoạn văn tả mộ loài hoa hoặc một thứ quả
16
mà em yêu thích. Ngoài ra cách giao nhiệm vụ cho các em cũng không nên
chung chung mà phải hết sức cụ thể, rõ ràng, tạo điều kiện cho HS làm bài tập
đúng hướng.Trước khi làm yêu cầu HS đọc kỹ gợi ý và những chỉ dẫn chi tiết
ở dưới bài tập.
Ví dụ:Hãy quan sát kỹ chiếc cặp của em hoặc của bạn em và viết một
đoạn văn miêu tả hình dáng bên ngoài của chiếc cặp đó.
b. Không
17
Câu 3: Phần thân bàic ó tả các đặc điểm về hình dáng của con vật
không?
a. có
b. Không
* Nếu có tả các đặc điểm của con vật thì em đ• tả được:
+ Nhiều đặc điểm , đó là các đặc điểm về:.....
+ Một vài đặc điểm, đó là các đặc điểm về: ...
Phần thân bài có tả hoạt đọng của con vật không?
a.có
b. Không
* Nếu tả hoạt độngc của con vật thì em đã tả được:
+Nhiều hoạt động , đó là các hoạt động:.....
+ Một vài hoạt động, đó là các hoạt động : ...
Câu 4: Phần kết bài:
- Có nêu được lợi ích của con vật không?
a.Có
b. Không
- Có nêu được tình cảm yêu quý của em đối với con vật đó không?
18
Câu 8: Theo em, để bài sau viết tốt hơn em cần rút kinh nghiệm về điều
gì?...
Sau khi học sinh tự chữa lỗi cá nhân và viết phiếu đánh giá, tôi hướng
dẫn học sinh làm việc theo nhóm đôi để kiểm tra, giúp đỡ lẫn nhau. ở hoạt
động này, tôi yêu cầu học sinh đọc bài văn của bạn, khuyến khích các em phát
hiện thêm những điểm hay hoặc chưa hay mà cô giáo và các bạn chưa phát
hiện ra. Từng cặp thống nhất cách chữa lỗi,nếu chỗ nào chưa nhất trí mời giáo
viên làm trọng tài xác định kết quả đúng.
IV.KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Kiến thức về tìm ý, viết văn các em đã được cung cấp và bồi dưỡng
nhưng việc vận dụng nó là cả một quá trình rèn luyện, học hỏi, tích luỹ. Để
vận dụng được một cách linh hoạt trong mọi trường hợp thật không phải dễ .
Trong thực tế, Tập làm văn ở chương trình mới có nhiều ưu điểm. Nhưng đối
với các em, đó vẫn là một kiến thức khó. Trước thực trạng đó, tôi đã quyết
định đi sâu và mạnh dạn áp dụng cách dạy học trên và giảng dạy cho học sinh
lớp tôi chủ nhiệm từ năm học 2007- 2008. Năm học 2008-2009, 2009-2010 tôi
tiếp tục áp dụng dạy các em. Đến cuối năm học 2009- 2010 và giữa Kỳ II năm
học 2010 - 2011 tôi tiếp tục bổ sung và tiếp tục áp dụng những kinh nghiệm
này vào giảng dạy. Đến nay, học sinh lớp tôi viết câu, đoạn hay bài văn hầu
hết không còn lúng túng . Nhiều HS đã có những bài viết hay, thể hiện cảm
xúc. Chất lượng của các bài tập làm văn được nâng cao rõ rệt. Để thấy hiệu
quả của nó, tôi đã ra đề kiểm tra ở các khối lớp tôi giảng dạy trong nhiều năm
và thu được kết quả như sau:
Đề bài 1:Tả lại một cây ăn quả hoặc cây có bóng mát
Kết quả thu được là:
+ Năm học 2007 - 2008
Lớp
14
48,3
11
37,9
0
0
Đề bài 2:Tả một cảnh sông nước nơi em ở.
Kết quả thu được là:
+ Năm học 2008 - 2009
Lớp
Sĩ số
Giỏi
SL
Khá
%
SL
19
+ Năm học 2009 - 2010
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
TB
Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
4
%
SL
%
SL
%
SL
%
6
22,2
14
51,9
7
25,9
0
0
nếu giáo viên biết cách tổ chức khai thác hợp lí thì học sinh sẽ viết được
những bài văn hay giàu hình ảnh, chân thực và gợi cảm.
21