Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Quỳnh Hoa
LỜI NÓI ĐẦU
Theo những báo cáo mới nhất của Tổng cục Dân số Kế hoạch hóa Gia đình
(bộ y tế): hiện nay tỷ lệ gia tăng dân số của Việt Nam vẫn còn rất cao, bên cạnh đó,
Việt Nam đang đứng thứ 3 thế giới về nạo hút thai. Một điều đáng báo động là tệ
nạn nạo hút thai ở lứa tuổi vị thành niên chiếm tỷ lệ rất lớn khoảng 30% số ca nạo
hút thai ở Việt Nam. Thêm nữa, đại dịch HIV/AIDS đang tấn công mạnh mẽ vào
Việt Nam mà chưa có dấu hiệu dừng lại, các bệnh lây lan qua đường tình dục như
lậu, giang mai, Sùi mào gà cũng là vấn đề nhức nhối đang cần tìm cách giải quyết.
Tất cả những vấn đề này đang là gánh nặng đối với các gia đình và xã hội. Hàng
năm, việc khắc phục hậu quả của các vấn đề xã hội này đã tiêu tốn rất nhiều tiền bạc
của các gia đình, các tổ chức đặc biệt là ngân sách nhà nước mà vẫn chưa mang lại
kết quả khả quan, còn chưa kể đến những tác động tiêu cực lên nền kinh tế quốc
dân. Hiện nay, có rất nhiều nguồn tài trợ song phương và đa phương của các tổ
chức quốc tế nhằm giúp Việt Nam hạn chế các tác động xấu của các vấn đề xã hội
này như các quỹ từ thiện, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức viện trợ nhân
đạo…DKT là một tổ chức phi chính phủ có trụ sở ở Hoa kỳ hoạt động trong lĩnh
vực tiếp thị xã hội đã có mặt tại Việt Nam từ năm 1993. Kể từ đó, DKT tập trung
vào các sản phẩm tránh thai, chăm sóc sức khỏe sinh sản, thúc đẩy KHHGĐ và
phòng chống HIV/AIDS thông qua các hoạt động quảng cáo xúc tiến, truyền thông
thay đổi hành vi và phân phối các sản phẩm tránh thai. Đối tượng mà DKT cung
cấp tập trung vào nhóm đối tượng có thu nhập thấp, là những người không thể mua
các sản phẩm ở mức giá thương mại. Chương trình của DKT 16 năm qua đã đạt
được nhiều thắng lợi góp phần thực hiện các chiến lược quốc gia về KHHGĐ,
phòng chống HIV/AIDS và các bệnh lây qua đường tình dục, hỗ trợ chính phủ trong
việc giải quyết các vấn đề xã hội. Trong thời gian thực tập ở tổ chức DKT quốc tế
tại Việt Nam, tôi đã nghiên cứu và nhận thấy rằng vai trò của DKT với các vấn đề
xã hội ở Việt Nam là rất lớn do đó tôi đã chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao vai trò
xã hội của tổ chức DKT quốc tế tại Việt Nam”. Do thời gian nghiên cứu tìm hiểu
không dài cũng như trình độ chuyên môn còn hạn hẹp, bài chuyên đề thực tập còn
có nhiều thiếu sót. Rất mong được sự quan tâm góp ý của các thầy cô trong khoa Kế
Năm 2003 chương trình có thêm một nội dung mới, phòng chống HIV/AIDS
thông qua việc mở rộng tiếp thị xã hội bao cao su và áp dụng kinh nghiệm về truyền
thông thay đổi hành vi để thúc đẩy tình dục an toàn. Một thành phần quan trọng
khác của chương trình này là đảm bảo để bao cao su luôn sẵn có ở những nơi có các
hành vi tình dục có nguy cơ cao như khách sạn, cơ sở matxa, và các quán bar,
Tạ Thị Nhung Lớp: Kế hoạch 48A
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Quỳnh Hoa
karaoke.Chúng được bán với giá rất rẻ nhằm ngăn ngừa sự lãng phí và khuyến
khích việc cung cấp và phân phối những sản phẩm này.
1.2. DKT quốc tế tại Việt Nam
DKT Việt Nam đã đi vào hoạt động từ năm 1993, đến nay đã đạt được rất
nhiều kết quả tích cực đóng góp vào công cuộc cải thiện môi trường kinh tế xã hội
của Việt Nam. DKT Việt Nam có văn phòng đại diện tại Hà Nội và chi nhánh tại
thành phố Hồ Chí Minh và một mạng lưới cộng tác viên, nhân viên khắp các tỉnh
thành trên cả nước. DKT Việt Nam được khởi đầu như một dự án cho đến nay nó
đã được mở rộng trên 64 tỉnh thành trên cả nước với hai nội dung chính:
Thứ nhất, TTXH phân phối có trợ giá bao cao su dưới nhãn hiệu OK và vòng
tránh thai Newchoice. Với mục tiêu trọng tâm là giảm thiểu dân số mắc phải
HIV/AIDS và các bệnh lây qua đường tình dục
Thứ hai, BCS OK và các sản phẩm tránh thai của DKT sẽ nhanh chóng có
mặt ở 20000 nhà thuốc và các kênh phân phối không truyền thống(NTOs) để đảm
bảo BCS sẵn có ở những nơi hành vi tình dục có nguy cơ cao như nhà nghỉ, khách
sạn, quán bar, quán caraoke, quán matxa …Với một hệ thống nhân viên bán hàng
và đại lý phân phối rộng khắp.
DKT quốc tế tại Việt Nam có sự hợp tác chặt chẽ với chính phủ Việt Nam
các nhà tài trợ song phương và đa phương như tổ chức y tế thế giới (WHO), Ngân
hàng tái thiết Đức (KFW), Bộ phát triển quốc tế vương quốc Anh (DFID) và
Alchemy Foundation, và các nhà tài trợ khác có cùng mục tiêu hoạt động. Chương
trình của DKT được triển khai bởi một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, hầu hết là
thị trường, đưa hình ảnh DKT gắn liền với các nhãn hiệu BCS và thuốc tránh thai
đến rộng rãi với người tiêu dùng.
- Bộ phận tài chính và hành chính: Quản lý và thức hiện các công việc
hành chính. Bộ phận này được chia làm hai mảng: quản lý hành chính và quản lý tài
chính
Các bộ phận này có nhiệm vụ hỗ trợ lẫn nhau thực hiện các nhiệm vụ và
chức năng của DKT giúp bộ máy hoạt động một cách thống nhất, linh hoạt và hiệu
quả.
Tạ Thị Nhung Lớp: Kế hoạch 48A
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Quỳnh Hoa
Hình 1.1: cơ cấu tổ chức của tổ chức DKT quốc tế tại Việt Nam
II, Vai trò xã hội của tổ chức DKT
1. Sơ lược về chương trình TTXH của tổ chức DKT
TTXH sử dụng các kỹ thuật tiếp thị thương mại tiên tiến để giải quyết các
vấn đề xã hội nhằm thay đổi hành vi của các nhóm đối tượng đích, qua đó phúc lợi
cá nhân và cộng đồng được cải thiện. Vì vậy tiếp thị xã hội cũng tập trung vào
khách hàng nhưng TTXH nhằm nâng cao kiến thức , thúc đẩy sự thay đổi hành vi
mới tích cực hơn chứ không nhằm vào mục đích thuyết phục họ mua những sản
phẩm mà chúng ta đang sản xuất. Ngoài đáp ứng tốt yếu tố của tiếp thị thương mại
là 4 chữ P: Product (sản phẩm) ; Price (Giá cả); Place (Địa điểm); Promotion (quảng
Tạ Thị Nhung Lớp: Kế hoạch 48A
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Quỳnh Hoa
cáo /Xúc tiến) còn có thêm 4 chữ P rất quan trọng nữa đó là : Public (công chúng);
Partnership (Đối tác); Policy (chính sách) và Purse Strings ( Chuỗi ngân quỹ)
TTXH khác biệt với các lĩnh vực khác của tiếp thị chỉ về mục đích và cách
tổ chức. TTXH không nhằm mục đích mang lại lợi ích cho người đi tiếp thị mà mục
đích nó mang là nhắm đến lợi ích nhóm đối tượng đích và đại đa số người dân trong
cộng đồng. Kỹ thuật này đã được sử dụng một cách rộng rãi trong các chương trình
thuật, tài chính cũng như kinh nghiệm trong việc phân phối các hàng hóa TTXH
nhằm tiết kiệm chi phí và sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có từ đó tối đa hóa lợi
ích, phúc lợi xã hội.
DKT phối hợp với chính phủ và các cơ quan có chức năng giáo dục, truyền
thông hướng tới các đối tượng đích làm thay đổi nhận thức của các đối tượng theo
hướng tích cực sau đó tạo môi trường thuận lợi giúp họ có thể thay đổi hành vi, tạo
thói quen lành mạnh trong các vấn đề xã hội nói chung và vấn đề quan hệ tình dục
và phòng chống các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục nói riêng.
Chương trình TTXH giúp người nghèo có thể tiếp cận được với các sản
phẩm, dịch vụ chăm sóc sức khỏe thông qua hình thức trợ giá. Mục tiêu của DKT là
mang sản phẩm và dịch vụ của mình đến xa hơn là các vùng nông thôn và miền núi,
nơi mà người dân còn rất nghèo, trình độ dân trí còn thiếu và chưa có điều kiện tiếp
xúc với các phương tiện truyền thông hiện đại.
3. Vai trò xã hội của tổ chức DKT
Chương trình TTXH của tổ chức DKT được thiết lập và đi vào hoạt động
vào tháng 7 năm 1993, chương trình đã mang lại nhiều kết quả đáng khích lệ góp
phần tích cực trong chiến lược quốc gia về dân số KHH gia đình và xóa đói giảm
nghèo. Kết quả của chương trình tiếp thị xã hội của DKT đã làm tăng số người tự
nguyện chi trả tiền mua BCS và thuốc tránh thai theo hướng xã hội hóa công tác
Dân số KHH gia đình. Hiện nay, cùng với nhu cầu gia tăng, các sản phẩm tránh thai
ngày càng được cải tiến. Tuy nhiên chi phí của các sản phẩm mới này cũng không
ngừng tăng cao, bao cấp hoàn toàn với các sản phẩm này là một gánh nặng đối với
ngân sách quốc gia. Hoạt động TTXH các sản phẩm này của DKT nhằm hỗ trợ
ngân sách nhà nước trong việc đáp ứng nhu cầu của nười tiêu dùng. Sau chương
trình TTXH của DKT đại bộ phận người dân Việt Nam ý thức được tầm quan trọng
của việc sử dụng BCS và các biện pháp tránh thai và từng bước chia sẻ các nguồn
chi với chính phủ trong các vấn đề xã hội. Đây thực sự là một thành công mang lại
một bước chuyển lớn đối với công tác xã hội hoá các hoạt động xã hội của Việt
Nam.
Các kỹ thuật TTXH của DKT có thể đảm bảo được tính dễ tiếp cận và tính
nặng đối với xã hội trong việc giải quyết hậu quả xã hội của đại dịch này. Chương
trình TTXH của DKT đã hỗ trợ chính phủ và các cơ quan nhà nước liên quan cung
cấp các phương tiện phòng tránh lây nhiễm như BCS, bơm kim tiêm,…tổ chức các
sự kiện truyền thông giáo dục cho các nhóm đối tượng là thanh thiếu niên, sinh
viên. Những hoạt động này đã góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội về
HIV/AIDS.
Tạ Thị Nhung Lớp: Kế hoạch 48A
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Quỳnh Hoa
3.3. Công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản
Hiện nay, ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam có tỉ lệ gái mại
dâm mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến như lậu, giang mai,
chlammydia, trichomonas, herpes, sùi mào gà, candidose Việc chữa trị những căn
bệnh này là rất khó và tốn kém cả về thời gian và tiền bạc do đó biện pháp hữu hiệu
nhất để tránh những tác động xấu tới sức khoẻ sinh sản là khuyến khích mọi người
sử dụng BCS trong quan hệ tình dục. BCS là biện pháp duy nhất ngăn chặn sự lây
nhiễm của các căn bệnh liên quan đến tình dục. Hàng năm DKT tổ chức nhiều sự
kiện truyền thông nhằm khuyến cáo, giáo dục làm thay đổi nhận thức cho mọi tầng
lớp nhân dân về những tác hại và biện pháp ngăn chặn nguy cơ của các căn bệnh
này. Bộ phận chăm sóc khách hàng, hệ thống phòng khám của DKT hàng năm đã tư
vấn, cung cấp thông tin cho hàng nghìn trường hợp về chăm sóc sức khoẻ sinh sản
và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.
4. Những hoạt động thể hiện vai trò xã hội của tổ chức DKT
Hình 1.2: Các hoạt động của tổ chức DKT
4.1. Hoạt động truyền thông thay đổi hành vi
4.1.1 Khái niệm truyền thông thay đổi hành vi
Có rất nhiều khái niệm về truyền thông thay đổi hành vi nhưng ta có thể
chung nhất truyền thông thay đổi hành vi là một quá trình làm việc với cá nhân,
Tạ Thị Nhung Lớp: Kế hoạch 48A
9
4.1.3 Nội dung của truyền thông thay đổi hành vi
• Nghiên cứu các đặc điểm của đối tượng đích.
• Sản xuất các tài liệu truyền thông
• Tiếp cận các đối tượng truyền thông, áp dụng các chương trình thông tin-
truyền thông- Giáo dục, tạo môi trường thuận lợi cho các đối tượng truyền thông
hoạt động hiệu quả
• Nhận thông tin phản hồi và có các giải pháp cải tiến cho phù hợp hơn giúp
quá trình thay đổi hành vi diễn ra theo hướng tích cực đùng với mục đích của người
Tạ Thị Nhung Lớp: Kế hoạch 48A
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Quỳnh Hoa
làm truyền thông.
4.2. Hoạt động quảng bá và các chương trình xúc tiến
Hoạt động quảng bá xúc tiến là một hoạt động nhằm hỗ trợ hoạt động phân
phối hàng hóa, tạo ra một lực hút đối với các sản phẩm sau đó tạo ra một lực đẩy để
mang hàng hóa đến tận tay người tiêu dùng. Quảng cáo xúc tiến là một chuỗi các
hoạt động bao gồm sản xuất các vật phẩm, tờ rơi, biển quảng cáo, Giới thiệu sản
phẩm qua hệ thống các kênh Multi- Media,… tổ chức các chương trình xúc tiến như
giới thiệu sản phẩm, chương trình tặng quà, bốc thăm trúng thưởng. Hoạt động
quảng cáo xúc tiến của DKT là nhằm mục đích:
• Quảng bá hình ảnh, thu hút sự chú ý của khách hàng về tổ chức và các sản
phẩm hiện có của DK
• Thuyết phục khách hàng về các lợi ích và sự hấp dẫn của sản phẩm thông
qua mẫu mã, đặc tính, chất lượng của sản phẩm nhằm gia tăng doanh số, mở rộng
thêm thị trường và lôi cuốn khách hàng mới.
• Quảng cáo là một hình thức hướng dẫn tiêu dùng, khuyến khích người tiêu
dùng sử dụng hàng hóa của mình, củng cố lòng tin của người tiêu dùng đói với các
sản phẩm của mình. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các hàng hóa tiếp thị nói
chung và các sản phẩm của DKT nói riêng.
• Các chương trình xúc tiến sẽ thúc đẩy các hành vi mua hàng diễn ra nhanh
+ Bộ hút thai Tuylip
+ ống hút Karmen số 4,5,6,7,8
+ Thuốc cấy tránh thai Pentogen
- Bơm kim tiêm 24/24
b, Dịch vụ phòng khám Sun Clinic
Hỗ trợ hệ thống y tế công trong việc cung cấp các dịch vụ kế hoạch hóa gia
đình bằng việc đẩy mạnh chương trình tiếp thị xã hội nhằm tăng tính sẵn có của các
phương tiện tránh thai lâm sàng có giá thành thấp chất lượng tốt đối với người dân.
Hệ thống phòng khám Sun Clinic là một trong những loại phòng khám chuyên về
chăm sóc sức khoẻ sinh sản và các dịch vụ về kế hoạch hoá gia đình như:
+ Tư vấn, giáo dục sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình
Tạ Thị Nhung Lớp: Kế hoạch 48A
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Quỳnh Hoa
+ Khám phụ khoa
+ Đặt thuốc, tháo dụng cụ tử cung
+ Hút thai sớm, phá thai nội khoa
+ Siêu âm sản phụ khoa
+ Siêu âm ổ bụng (nội khoa + sản phụ khoa)
+ soi tươi, đốt điện, đốt laze điều trị lộ tuyến tử
+ Đốt laze điều trị sùi mào gà, test rụng trứng
+ Đặt vòng
+ Soi cổ tử cung lấy bệnh phẩm tìm tế bào ung thư
+ …
Mục tiêu của dịch vụ Sun Clinic là những người có mức thu nhập trung bình
và thu nhập thấp trên địa bàn các tỉnh có dự án.
4.3.2 Hoạt động phân phối và những tác động xã hội của nó
Các sản phẩm tiếp thị xã hội của DKT được phân phối bởi hệ thống phân
phối sâu và rộng, bao phủ hầu hết thị trường các tỉnh trên cả nước. Hoạt động này
trực tiếp giúp người tiêu dùng tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm của DKT từ đó họ
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Quỳnh Hoa
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC DKT
QUỐC TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
1. Thực trạng hoạt động quảng cáo- xúc tiến của DKT Việt nam
1.1. Hoạt động quảng cáo
Nhằm mục đích mang hình ảnh các sản phẩm tiếp thị xã hội đến gần hơn,
rộng hơn với cộng đồng qua đó thúc đẩy quá trình phân phối sản phẩm đạt hiệu quả
DKT đã và đang đa dạng hóa các hình thức và quy mô hoạt động quảng cáo xúc
tiến. Trong thời gian qua, DKT đã xây dựng nhiều phương thức quảng cáo cho các
sản phẩm TTXH của mình
- Xây dựng hệ thống nhãn hiệu độc đáo, ấn tượng cho hầu hết các sản phẩm
nhưng vẫn giữ những nét truyền thống thể hiện được nét riêng của các sản phẩm
TTXH nói chung và các sản phẩm của DKT nói riêng
- Quảng cáo trên khoảng 20 đầu báo bao gồm các tờ nhật báo, tuần báo và
tạp chí nguyệt san và bán nguyệt san như: Thời trang trẻ, báo tuổi trẻ, báo sành điệu
và các tờ báo đia phương…
- Quảng cáo trên đài truyền hình Việt Nam và các đài truyền hình địa
phương vào các giờ vàng trong tuần với thời lượng lớn: tài trợ cho khoảng 8
chương trình truyền hình mỗi năm, phát sóng khoảng 60 phút mỗi tuần trên tổng số
các kênh truyền hình.
- Quảng cáo trên đài phát thanh Việt Nam và các đài truyền thanh địa
phương vào các ngày trong tuần
- Quảng cáo trên Pa-no, áp phich tại các đường phố và các điểm nóng ở các
thành phố lớn và các địa phương. Hình ảnh của DKT gắn liền với các sản phẩm
TTXH đã có mặt ở các tỉnh thành trên cả nước
- Quảng cáo trên các website có lượng người truy cập lớn như 24h.com,
vnexpress,…
- Xây dựng và phát triển, website của DKT và Delphi, liên tục đổi mới và
cập nhật các nội dung hoạt động và sản phẩm của tổ chức. Mỗi năm ước tính có
phẩm như ô dù, áo mưa, mũ bảo hiểm, dây chìa khóa, đồng hồ, ví nam nữ, áo
phông…
- Tổ chức các kệ trưng bày sản phẩm ở 76 siêu thị, cửa hàng, phòng khám
trên địa bàn thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành phố
khác.
Một thực tế là trên thị trường có rất nhiều loại sản phẩm tương đương của
Tạ Thị Nhung Lớp: Kế hoạch 48A
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Quỳnh Hoa
các công ty và tổ chức khác được bán với giá rất thấp thì ngoài các hoạt động xúc
tiến trên DKT còn thực hiện hoạt động khuyến mãi nhằm đưa giá sản phẩm xuống
ngang bằng với giá đang thực hiện trên thị trường làm tăng tính cạnh tranh của tất
cả các mặt hàng, tạo lực hút đối với các sản phẩm của mình. Hàng năm, DKT tổ
chức nhiều chương trình khuyến mãi nhân các ngày lễ lớn trong năm như tết , ngày
8/3, 30/4, 20/10…cùng với các hình thức khuyến mãi đa dạng như: mua hàng
khuyến mãi bia Tiger, Heiniken, túi xách, mũ bảo hiểm có in logo các sản phẩm hay
mua sản phẩm khuyến mãi sản phẩm…Thực tế cho thấy hiệu quả của các chương
trình khuyến mãi này là rất đáng kể đó là sự gia tăng lượng hàng bán ra…Hoạt động
khuyến mãi mua hàng đã đẩy doanh số bán hàng của DKT lên từ 20- 45% doanh số
bán từng thời kì. Và số người biết đến các sản phẩm của tổ chức và chuyển sang
tiêu dùng chúng cũng tăng lên.
Nhìn chung, các hoạt động quảng cáo xúc tiến của DKT đã đạt được nhiều
kết quả đáng kể, hỗ trợ hệ thống phân phối trong việc tạo sức hút lớn đối với các
sản phẩm, làm gia tăng nhu cầu tiêu dùng cho các sản phẩm này. Tuy nhiên , các
hoạt động này vẫn còn rất nhiều hạn chế. Đó là tầm bao phủ của các hoạt động
quảng cáo, xúc tiến chưa rộng khắp, chỉ mới tập trung ở các trung tâm thành phố mà
nguyên nhân chính là do ở các thành phố lớn tập trung phần lớn dân chúng, đủ các
điều kiện để tổ chức các hội nghị, hội thảo có quy mô lớn mà lại tiết kiệm chi phí.
Hơn nữa, theo thời gian, các hoạt động quảng cáo xúc tiến của DKT chưa có thay
đổi nhiều về hình thức tổ chức, các vật phẩm xúc tiến tuy có đa dạng về chủng loại
3 Buổi truyền thông về SKSS cho phụ
nữ cộng đồng
Cần Thơ 2 350
4 Buổi truyền thông về SKSS cho sinh
viên
Cần Thơ 4 2300
5 Buổi truyền thông về SKSS cho công
nhân
Cần Thơ 3 3200
6 Làng ca hát Bắc Giang, Hải Phòng, Nam Định,
Ninh Bình, Hà Nam, Hà Tây
7 2800
7 Nhịp số năng động cho sinh
viên trường ĐH Thái Bình
Thái Bình 1 500
8 Sinh viên thời @ TP HCM 1 700
9 Hội trại sinh viên trường ĐHKT
TPHCM
TP HCM 1 2300
10 Hành trang bạn trẻ TP HCM 5 8000
11 Sinh viên nói gì về HIV/AIDS Đại học KTQD Hà Nội 1 1000
12 Sinh viên với các công tác xã hội Đại học Bách khoa Hà Nội 1 1200
13 Truyền thông về sức khỏe sinh sản
cho đoàn thanh niên
Nghệ An 6 4500
14 Học sinh sinh viên và tệ nạn xã hội Trường dân tộc nội trú Lai Châu 1 600
15 Ngày hội SKSS Đồng tháp 1 320
16 Xuân về trên bản Đăk lăk 1 120
17 Tổng 44 37 390
Nguồn: Báo cáo hoạt động 2009 của DKT Việt Nam
ghé thăm các trường đại học kết hợp với các nhóm xúc tiến tiến hành tổ chức các
hoạt động “Thông tin- Giáo dục- truyền thông” với thông điệp chính là sử dụng
BCS để phòng chống HIV/AIDS và các bệnh lây qua đường tình dục.
• Truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài , báo tivi
Tạ Thị Nhung Lớp: Kế hoạch 48A
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Quỳnh Hoa
• Đào tạo:DKT kết hợp với tổng cục dân số và các chi cục dân số các tỉnh tổ
chức các buổi đào tạo quanh việc sử dụng hiệu quả các biện pháp tránh thai. Ngoài
ra, thường kỳ DKT có tổ chức đào tạo hướng dẫn các nhân viên của mình về
phương thức sử dụng hiệu quả các kỹ thuật TTXH
• Tất cả các cộng tác viên dân số trên 64 tỉnh thành trên cả nước được tiếp thị
BCS, tránh thai và phòng chống HIV/AIDS.
• Tổ chức 217 cuộc thảo luận nhóm cho đối tượng nguy cơ cao khoảng 6430
người , thông qua hoạt động này hàng trăm nghìn người hiểu biết thêm về BCS
trong phòng tránh STDs.
• Tổ chức 174 buổi phát sóng trên truyền hình trung ương và địa phương
về quảng bá hình ảnh, tác dụng của BCS , 80 lần quảng cáo về BCS OK trên báo
địa phương, đưa tin quảng bá chương trình tiếp thị BCS, thuốc tránh thai và
phòng tránh bệnh STDs vào kênh VTV2, kết quả là hàng chục triệu người được
tiếp cận và hiểu biết.
• Hàng chục ngàn người dân tộc ít người được truyền thông qua các phương
tiện băng video, băng Caset về sử dụng BCS, thuốc tránh thai và phòng tránh bệnh
STDs.
Kết quả và hiệu quả của hoạt động đẩy mạnh và đa dạng hóa truyền thông
của dự án TTXH PTTT được phản ánh rõ nét nhất qua tỷ lệ: trên 74% số người hiểu
biết về các thông tin của BCS OK, SuperTrust, Trust và Newchoice và tỷ lệ tương
ứng số người sử dụng các sản phẩm nói trên để phòng tránh thai ngoài ý muốn và
các bệnh lây qua đường tình dục. Vấn đề tâm lý và mặc cảm khi phải mua PTTT
của khách hàng đã được cải thiện: 82% khách hàng khi mua PTTT không thấy mặc
gồm 42 công ty dược và 12 trung tâm dược vật tư y tế của các tỉnh. Các nhân viên
của DKT sẽ dưới sự kiểm soát của các quản lý bán hàng khu vực sẽ bán hàng của
DKT cho các khách hàng. Theo thống kê, hiện tại số lượng khách hàng của DKT là
vào khoảng 10 000, là các nhà thuốc, các công ty dược, các phòng khám và các
bệnh viện trên địa bàn 64 tỉnh thành trên cả nước. Ngoài ra, DKT có một đội ngũ
cộng tác viên sẽ chịu trách nhiệm liên hệ trực tiếp với các phòng khám và các bệnh
viện tìm đầu ra cho các sản phẩm của mình gồm 38 người. Cuối cùng qua các kênh
phân phối này, sản phẩm của DKT sẽ được phân phối tới người tiêu dùng. Hệ thống
phân phối của DKT cực kỳ linh hoạt, được kiểm soát hàng tháng thông qua lượng
hàng xuất, nhập, tồn kho đại lý, đảm bảo việc phân phối hàng hóa không bị gián
đoạn ở bất cứ giai đoạn nào. Hệ thống phân phối này chứng tỏ độ bao phủ của các
sản phẩm dịch vụ của DKT là vô cùng lớn
Tạ Thị Nhung Lớp: Kế hoạch 48A
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Quỳnh Hoa
Hình 2.1: Mô hình phân phối của DKT
3.1.2. Mô hình quản lý bán hàng của DKT
Với hệ thống phân phối chủ yếu qua các dự án và các trung tâm phân phối,
hiện nay DKT có một hệ thống quản lý bán hàng thống nhất, bao quát tất cả các
hoạt động phân phối, bán hàng của DKT. Đứng đầu là quản lý bán hàng toàn quốc
kiểm soát toàn bộ hoạt động phân phối của DKT và các sản phẩm của các dự án mà
DKT đang thực hiện. Hiện nay, địa bàn phân phối của DKT được chia làm 5 khu
vực:
Khu vực 1: bao gồm các tỉnh Hà Tây, Điện biên, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc
Tạ Thị Nhung Lớp: Kế hoạch 48A
DKT
Trung tâm phân
phối
Đại lý
Hiệu thuốc/công ty
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Quỳnh Hoa
Hình 2.2: Hệ thống quản lý bán hàng
3.2. Các kênh phân phối của DKT
3.2.1. Kênh TOs (Traditional outlets): kênh phân phối truyền thống
Là các kênh phân phối như nhà thuốc, các công ty dược, các phòng khám tư,
các bệnh viện,…Hiện nay DKT có khoảng 54 nhân viên TOs với nhiệm vụ phân
phối hàng hóa đến hệ thống các hiệu thuốc, công ty dược , các phòng khám bệnh
Tạ Thị Nhung Lớp: Kế hoạch 48A
Quản lý bán hàng
toàn quốc
Nhóm hành chính
Bộ phận bán hàng
Cán bộ dự án
Quản lý dự án
Quản lý bán hàng
khu vực
Trung tâm phân
phối
Đại lý
Hiệu thuốc/công
ty dược
Nhân viên bán
hàng
Các phòng khám
sản phụ khoa
Trình dược
viên/cộng tác viên
Người sử dụng
cuối cùng
24