BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
ĐÁNH GIÁ TỔN HẠI DO Ô NHIỄM SÔNG CHỢ ĐỆM
TẠI HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
TRẦN VĂN XUÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
***************
TRẦN VĂN XUÂN
ĐÁNH GIÁ TỔN HẠI DO Ô NHIỄM SÔNG CHỢ ĐỆM
TẠI HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
Ngành: Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn: ThS. MAI ĐÌNH QUÝ
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2014
2
Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “ĐÁNH GIÁ TỔN HẠI
DO Ô NHIỄM SÔNG CHỢ ĐỆM TẠI HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH” do Trần Văn Xuân, sinh viên khóa 2010 – 2014, ngành Kinh Tế Tài
Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày
_____________________
ThS. MAI ĐÌNH QUÝ
TP. Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 07 năm 2014
Sinh viên
4
Trần Văn Xuân
5
NỘI DUNG TÓM TẮT
TRẦN VĂN XUÂN. Tháng 7 năm 2014. “Đánh Giá Tổn Hại Do Ô Nhiễm
Sông Chợ Đệm Tại Huyện Bình Chánh Thành Phố Hồ Chí Minh”.
TRAN VAN XUAN. July 2014. "Assessment of pollution damage Cho Dem
River in Binh Chanh District, Ho Chi Minh City".
Đề tài được thực hiện nhằm xác định mức tổn hại do ô nhiễm sông Chợ Đệm
gây ra tại thị trấn Tân Túc thuộc huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh. Bằng
cách thu thập số liệu từ việc điều tra 60 hộ dân thuộc thị trấn Tân Túc, và áp dụng các
phương pháp như phương pháp chi phí thay thế, phương pháp tài sản nhân lực,
phương pháp hàm sản xuất và phương pháp đánh giá hưởng thụ để xác định mức tổn
hại về mặt sức khỏe, chất lượng nước ngầm, năng suất cá tra, và giá trị đất đai.
Qua đó đề tài xác định được mức tổn hại cụ thể là: Thiệt hại về chất lượng nước
ngầm là hơn 2,8 tỷ đồng/năm; Tổn hại về mặt sức khỏe là hơn 6,4 tỷ đồng/năm; tổn
hại về năng suất cá tra là hơn 2 tỷ đồng/năm và thiệt hại về giá trị đất đai là hơn 3,5 tỷ
đồng/năm. Qua nghiên cứu đã cho thấy mức độ thiệt hại do ô nhiễm sông Chợ Đệm
gây ra cho người dân thị trấn Tân Túc là rất lớn tổng mức thiệt hại mỗi năm hơn 14,7
tỷ đồng. Nếu không có biện pháp ngăn chặn nguồn gây ô nhiễm cũng như có biện
pháp khắc phục kịp thời nhằm giảm thiểu mức ô nhiễm thì con số thiệt hại sẽ không
dừng lại ở mức 14,7 tỷ đồng mỗi năm mà sẽ tăng lên gấp nhiều lần làm ảnh hưởng đến
đời sống sinh hoạt, chăn nuôi, trồng trọt của người dân địa phương.
Đồng thời đề tài cũng đề xuất những giải pháp và kiến nghị tới cơ quan chức
năng để tiến hành các công tác làm giảm ô nhiễm môi trường tại thị trấn Tân Túc. Góp
phần phát triễn huyện Bình Chánh ngày một đi lên.
6
MỤC LỤC
Phụ Lục 3. Quy Chuẩn Kỹ Thuật Quốc Gia về Chất Lượng Nước Mặt QCVN
08:2008/BTNMT
Phụ Lục 4. Quy Chuẩn Kỹ Thuật Quốc Gia về Chất Lượng Nước Ngầm QCVN
09:2008/BTNMT
Phụ Lục 5. Bảng Câu Hỏi
Phụ Lục 6. Một Số Hình Ảnh Phản Ánh Tình Trạng Ô Nhiễm Tại Sông Chợ Đệm
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
12
Trên trái đất, nước chiếm ¾ diện tích, nhưng nước ngọt để phục cho sinh hoạt
lại chỉ chiếm 3%, trong 3% nước ngọt này thì có tới 76,3% nước ngọt dạng băng tuyết,
23% nước ngọt ở trong mạch nước ngầm và chỉ có 0,7% nước ngọt trên bề mặt (sông,
suối, ao, hồ, kênh rạch…). Nước là một phần thiết yếu của cuộc sống, con người có
thể nhịn ăn hai tuần nhưng không thể nhịn uống quá ba ngày. Nước là nguồn tài
nguyên có khả năng tái sinh và tự làm sạch chất thải từ môi trường và con người, tuy
nhiên khả năng này của nước là có giới hạn. Nhưng con người dường như chưa nhận
ra điều này. Trong những năm qua tình hình dân số tăng nhanh cùng với việc sản xuất
nông nghiệp cũng như các hoạt động công nghiệp gây nên các vấn đề môi trường
nghiêm trọng như ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm đất…
Trong đó, ô nhiễm nước vẫn đáng quan tâm hơn khi hàng triệu người dân nước ta vẫn
còn đang lấy nước từ sông, suối, rạch, ao, hồ… phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng
ngày.
Một trong những con sông thuộc thành phố Hồ Chí Minh phải gánh chịu ô
nhiễm nặng nề đó là sông Chợ Đệm. Hiện nay, do quá trình phát triển của nền kinh tế,
các hoạt động sản xuất công – nông nghiệp, buôn bán kinh doanh ở trên địa bàn huyện
Bình Chánh phát triển mạnh mẽ đã trở thành tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước. Nước
thải từ các nhà máy nằm trên địa bàn Huyện, các khu chợ đầu mối, khu dân cư, các
hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm,…cùng hàng ngàn hộ dân sinh sống vẫn đang
ngày ngày đổ chất thải vào sông Chợ Đệm khiến nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm
1.3.1. Phạm vi thời gian
Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 20/3/2014 đến ngày 14/7/2014.
1.3.2. Phạm vi không gian
Phỏng vấn 60 hộ gia đình trong bán kính 300m cách bờ sông và chạy dài theo
con sông thuộc địa bàn thị trấn Tân Túc huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh.
14
1.4. Cấu trúc khóa luận
Luận văn có 5 chương:
Chương 1: Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên
cứu và trình bày tốm tắt bố cục luận văn.
Chương 2: Giới thiệu tổng quan về tài liệu nghiên cứu, tổng quan địa bàn
nghiên cứu tại vùng điều tra.
Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu, trình bày các khái niệm,
định nghĩa và phương pháp được sử dụng trong đề tài.
Chương 4: Trình bày các kết quả đạt được.
Chương 5: Dựa vào kết quả đạt được chương 4 đưa ra kết luận và kiến nghị.
15
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1. Tổng quan tài liệu tham khảo
Qua quá trình thu thập tài lệu, tôi đã chọn lọc và tìm hiểu các nghiên cứu mà tôi
cảm thấy hữu ích cho đề tài của mình và đồng thời nhận thấy được những hạn chế của
các đề tài đó, sau đó tiến hành vận dụng kiến thức của mình để khắc phục những hạn
chế đó trong đề tài của tôi. Các đề nghiên cứu gồm có: Nghiên cứu ”Đánh giá tổn hại
do ô nhiễm suối Săn Máu, phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa” của Nguyễn Thị
Thanh Trúc (2008) đã áp dụng phương pháp sử dụng thị trường để đánh giá tổn hại do
ô nhiễm ở suối Săn Máu gây ra đối với sức khỏe người dân, giá trị đất đai, nhà cửa,
thu nhập từ trồng trọt và chăn nuôi thông qua điều tra 60 hộ sống quanh khu vực suối.
Qua điều tra và tính toán, kết quả đánh giá tổn hại tối thiểu trong năm 2008 do ô
nhiễm suối Săn Máu gây ra cho phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa là 9.074,63
xác định được mức thiệt hại về chất lượng nước ngầm là 76,65 triệu đồng/năm. Ngoài
ra đề tài còn sử phương pháp tiện ích tài sản để tính thiệt hại về đất đai là 1.916,87
triệu đồng/năm , phương pháp hàm chi phí sức khỏe để xác định thiệt hại về sức khỏe
là 399,59 triệu đồng/năm.
Hầu hết các đề tài trên đều sử dụng phương pháp tiện ích tài sản để ước tính thiệt
hại về đất đai do ô nhiễm môi trường gây ra, cụ thể đề tài của Trần Thị Mỹ Thoa, tác
giả đánh giá mức độ thiệt hại về đất đai do ô nhiễm từ bãi rác Thọ Vức gây ra cho xã
Hòa Kiến bằng phương pháp tiện ích tài sản. Phương pháp này tính toán dựa trên sự
chênh lệch giữa giá đất ở khu vực bị ô nhiễm với khu vực không bị ô nhiễm rồi sử
dụng mức giá chênh lệch ấy nhân với tổng diện tích đất bị vùng bị ô nhiễm sẽ cho ra
mức tổn hại về đất đai. Nhưng phương pháp trên thường gây bàn cãi và có tính chính
xác không cao vì điều kiện giữa hai khu vực phải giống nhau mới áp dụng được, nên
17
H. Bình Chánh
Tt Tân Túc - Địa bàn nghiên cứu
tôi sử dụng phương pháp đánh giá hưởng thụ (HPM) để tính tổn hại về mặt đất đai, nó
được lựa chọn để áp dụng vì: Thứ nhất đây là phương pháp được dùng cho đánh giá ô
nhiễm môi trường như không khí, đất, nước, tiếng ồn, phóng xạ, mất an ninh, thứ hai
nó sử dụng giá trị của bất động sản có sẵn trên thị trường để suy ra được giá trị môi
trường. Hơn nữa đây là phương pháp tương đối dễ hiểu và không bị bàn cãi về ứng
dụng của nó vì nó dựa trên giá thị trường thực sự và dữ liệu đo lường khá dễ dàng.
2.2. Tổng quan về huyện Bình Chánh
Bình Chánh là một trong 5 huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, nằm
phía Tây Nam thành phố. Phía Bắc giáp huyện Hóc Môn. Phía Nam giáp huyện Bến
Lức và huyện Cần Giuộc của tỉnh Long An. Phía Tây giáp huyện Đức Hòa, tỉnh Long
An. Phía Đông giáp quận Bình Tân, quận 7, quận 8 và huyện Nhà Bè.
Huyện có diện tích: 25.255ha, dân số: 467.459 người (2011). Các xã, thị trấn:
Thị trấn Tân Túc và 15 xã là: Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B, Phạm Văn Hai, Bình Lợi, Lê
Minh Xuân, Tân Nhựt, Tân Kiên, Bình Chánh, An Phú Tây, Tân Quý Tây, Long
Hưng, Quy Đức, Đa Phước, Phong Phú, Bình Hưng.
C (tháng 4), nhiệt độ trung
bình tháng thấp nhất 24,8
o
C (tháng 12). Tuy nhiên, biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm
chênh lệch khá lớn, vào mùa khô có trị số 8 - 10
o
C.
Lượng mưa trung bình năm từ 1300 mm - 1770 mm, tăng dần lên phía Bắc theo
chiều cao địa hình. Mưa phân bổ không đều giữa các tháng trong năm, mưa tập trung vào
các tháng 7, 8, 9; vào tháng 12, tháng 1 lượng mưa không đáng kể.
Nhìn chung, thời tiết của huyện với các đặc điểm khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ
tương đối ổn định, thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp và sinh hoạt của nhân dân.
Tuy nhiên, lượng mưa tập trung theo mùa nên có những kỳ xảy ra hạn hán làm thiệt
hại cho năng suất hoa màu trong nông nghiệp và đời sống dân sinh.
19
2.2.2. Các nguồn tài nguyên
a) Tài nguyên đất:
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 25.255,29 ha, chiếm tỷ trọng 11,97% diện
tích toàn Thành Phố và gấp 1,8 lần diện tích khu vực nội thành. Trong đó: có 888ha
đất sông suối mặt nước chuyên dùng, còn lại 24.376,29 ha đất mặt, chia làm 3 nhóm
đất chính:
Đất xám: phân bố chủ yếu ở các xã như xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B. Có diện
tích 2.749,16 ha (chiếm 10,89% diện tích đất mặt trên địa bàn toàn huyện). Trong đó
chia làm hai nhóm phụ: đất xám phù sa cổ có diện tích 659,52ha và xám gley với diện
tích 2.089,65 ha.
Đất phù sa: có diện tích 11.174,74 ha (44,25% diện tích đất mặt trên địa bàn
toàn huyện) do hệ thống sông Cần Giuộc và Chợ Đệm bồi đắp, phân bố chủ yếu ở các
xã Tân Quý Tây, An Phú Tây, Hưng Long, Quy Đức, Đa Phước, Bình Chánh, Tân
Túc.
Đất phèn : thuộc vùng đất thấp trũng, bị nhiễm phèn mặn, phân bổ chủ yếu tại
Cây Trồng quản lý. Trong đó, diện tích rừng sản xuất chiếm chủ yếu với 718,37 ha
(73,16% diện tích đất lâm nghiệp), diện tích đất rừng phòng hộ 234,46 ha, còn lại diện
tích rừng đặc dụng 29,11 ha (trại thực nghiệm lâm nghiệp).
2.2.3. Điều kiện kinh tế - xã hội
a) Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế: giai đoạn 2006-2010 tốc độ tăng trưởng bình quân đạt
21,03%/năm (tăng 5,03% so với chỉ tiêu kế hoạch) cao hơn bình quân toàn Thành phố
(11,8%). Trong đó ngành công nghiệp – xây dựng là lĩnh vực lớn nhất, là động lực
tăng trưởng chính của kinh tế trên địa bàn huyện, giai đoạn 2006-2010 hoạt động sản
xuất công nghiệp có bước phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng giá trị bình quân
24,34%/năm (vượt 4,34% so với kế hoạch);
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: theo hướng tích cực, ngành công nghiệp – xây
dựng ngày càng phát huy được thế mạnh, khẳng định được vai trò chủ lực trong phát
triển kinh tế - xã hội của Huyện, nên tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ
65% năm 2005 lên 75% năm 2010, tương ứng tỷ trọng ngành nông lâm thủy sản giảm
từ 14% năm 2005 xuống còn 6% năm 2010; tỷ trọng ngành thương mại – dịch vụ duy
trì mức 19-20%.
b) Dân số, lao động, việc làm và mức sống dân cư:
Năm 2011, dân số trung bình toàn Huyện khoảng 467,46 ngàn người, chiếm
6,22% dân số toàn Thành phố. Mật độ dân số trung bình của Huyện vào khoảng
21
1.851người/km
2
, tuy nhiên dân cư phân bố không đều, tập trung đông nhất ở các xã
Bình Hưng (4.890 người/km
2
), Tân Kiên (3.974 người/km
2
), Vĩnh Lộc B (3.776
người/km
Vị trí địa lý: Thị trấn Tân Túc có vị trí địa lí nằm về hướng Tây Nam của huyện
Bình Chánh, ranh giới thị trấn được xác định như sau:
- Phía Đông giáp xã An Phú Tây.
- Phía Tây giáp tỉnh Long An (xã Tân Bửu, xã Mỹ Yên huyện Bến Lức, tỉnh
Long An).
- Phía Nam giáp xã Tân Quý Tây, xã Bình Chánh.
22
- Phía Bắc giáp xã Tân Kiên, Tân Nhựt.
Thị trấn Tân Túc là trung tâm kinh tế - hành chính - văn hóa - xã hội của huyện,
có đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương, Quốc lộ 1A là tuyến đường
quốc gia nối thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh Miền Tây, có sông Chợ Đệm là
đường thủy nội địa nối với các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long. Đây là điều kiện thuận
lợi và rất quan trọng để phát triển về nhiều mặt.
23
2.3.1. Đặc điểm tự nhiên
Thị Trấn Tân Túc nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độ cao ổn
định với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 2 đến
tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ tương đối cao và ổn định, trung bình cả năm dao động trong khoảng
24- 29
0
C. Chênh lệch giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất không quá 4
0
C. Tháng
có nhiệt độ cao nhất là tháng 7 (28,8
0
C), thấp nhất là tháng 12 (24,8
0
C). Tuy nhiên
chênh lệch giữa ngày và đêm rất lớn, vào mùa khô có trị số 8 - 10
2.1 Đất ở Ha 91,4
2.2 Đất chuyên dùng Ha 176,9
2.3 Đất tôn giáo Ha 2,3
2.4 Đất nghĩa trang Ha 3,4
2.5 Đất sông suối và mặt nước Ha 36,4
2.6 Đất phi nông nghiệp khác Ha -
3 Đất chưa sử dụng Ha 0,9
Nguồn : UBND thị trấn Tân Túc, 2014.
Mặt nước:
Nước mặt: Nguồn nước mặt được cung cấp bởi sông Chợ Đệm, hệ thống kênh,
mương nội đồng và nước mưa; cơ bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất, tuy nhiên nhu
cầu được xử lý, làm sạch trước khi đưa vào sử dụng.
Ngước ngầm: Qua các kết quả khảo sát trước đây cho thấy, địa bàn thị trấn Tân
Túc có 5 tầng chứa nước ngầm, ở tầng trên độ sâu 60m nguồn nước bị nhiễm mặn; 3
tầng tiếp theo có độ sâu từ 60 – 400 m, nước ngầm phong phú, chất lượng khá, tầng
cuối Miociene khó khai thác. Hiện nay toàn thị trấn sử dụng nước khoan trông sinh
hoạt, nằm ở độ sâu trên dưới 200m mới đảm bảo vệ sinh. Nguồn nước ngầm của thị
trấn là nguồn nước sạch quan trọng nhất cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất của
nhân dân.
2.3.3. Nhân lực
Số hộ: 4.002 hộ;
Nhân khẩu: 16.027 người;
Lao động trong độ tuổi: 14.122 lao động. Trong đó, lao động có việc làm:
11.566 người (81,90%), đang đi học: 1.875 người (13,28%), nội trợ - chưa có việc
làm: 681 người (4,82%).
2.3.4. Điều kiện kinh tế - xã hội
Giao thông: Thực trạng hệ thống giao thông trên địa bàn:
25