MỤC LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự nóng lên tòan cầu do nồng độ các khí nhà kính
(CO2, CH4, Nox, CFC) trong khí quyển tăng cao, gây ra sự suy thóai môi trường và làm
cho mực nước biển tăng lên. Sự ấm lên của hệ thống khí hậu đã khá rõ ràng, từ những
quan sát sự tăng lên của nhiệt độ trung bình của không khí và đại dương, sự tan chảy của
băng tuyết cũng như mực nước biển trung bình đang tăng cao. Nhiệt độ trung bình bề mặt
của trái đất đã tăng 0,76°C kể từ 1850. Báo cáo đánh giá thứ tư (AR4, 2007) của Diễn
đàn liên chính phủ về biến đổi khí hậu (Intergovernmental Panel for Climate Change –
IPCC) đã chỉ ra rằng, nếu không có bất kì hành động nào nhằm giảm lượng phát thải khí
nhà kính, nhiệt độ trung bình bề mặt của trái đất có khả năng tăng thêm từ 1.8 – 4.0°C
trong thế kỉ này, và lên đến 6.4°C trong những kịch bản xấu nhất. David King (2005) cố
vấn trưởng của Vương quốc Anh trong lĩnh vực khoa học đã khẳng định “ BĐKH là vấn
đề trầm trọng nhất mà chúng ta đang phải đối mặt trong thế giới ngày nay – trầm trọng
hơn so với sự đe doạ của chủ nghĩa khủng bố”.
Hiện nay, biến đổi khí hậu đã trở thành một trong những mối nguy cơ lớn nhất đe
doạ các hoạt động kinh tế, xã hội cũng như môi trường trên khắp hành tinh.Cũng theo
IPCC, các hoạt động của con người là nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu và ngày
càng đẩy nhanh quá trình này. Biến đổi khí hậu làm gia tăng những khó khăn gây ra bởi
đói nghèo, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân trên thế giới, khi nền kinh
tế và đời sống của họ phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên.
Trong khi mọi khu vực đều sẽ chịu tác động của biến đổi khí hậu, những hậu quả
nặng nề sẽ tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển – đặc biệt là ở những cộng đồng
nghèo và không có khả năng chống đỡ trước những thay đổi.Theo báo cáo của World
Bank (2008), đa số các quốc gia có tên trong bảng thống kê các nước chịu ảnh hưởng
mạnh nhất từ biến đổi khí hậu thuộc về cộng đồng các nước đang phát triển, trong đó có
Việt Nam.
2
Bảng 1:6 rủi ro khí hậu: Danh sách 12 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nhất
Chad Việt Nam Trung Quốc Bangladesh Fiji Algeria
Kenya Benin Honduras Senegal Việt Nam Ethiopia
Iran Rwanda Fiji Libya Đan Mạch Pakistan
( Nguồn:Bank Staff calculations, 2008)
Như đã nói, Việt Nam là một trong 5 quốc gia được xác định chịu tác động nặng nề
nhất bởi biến đổi khí hậu. Ở Việt Nam, trong 50 năm qua (1951 – 2000), nhiệt độ trung
bình năm tăng khoảng 0,7°C, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm. Hiện tượng El Nino,
La Nina ngày càng tác động mạnh mẽ, Nhiều năm trở lại đây, hiện tượng khí hậu bất
thường xảy ra với tần số và cường độ ngày càng dày đặc và mạnh mẽ hơn, làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sinh mạng và cuộc sống của người dân: bão lớn, bão trái mùa
tàn phá các tỉnh ven biển miền Trung, hiện tượng xâm nhập mặn đã xuất hiện tại các tỉnh
ven biển của đồng bằng sông Cửu Long, nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm cạn
kiệt v.v… (Monre, 2008). Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, vùng đồng bằng sông
Hồng và sông Cửu Long bị ngập chìm nặng nhất, kèm theo đó là phần lớn dân cư cũng
như các hoạt động kinh tế. Nếu mực nước biển dâng 1m sẽ có khoảng 10.8% dân số bị
ảnh hưởng trực tiếp và 5% diện tích bị ảnh hưởng, thiệt hại GDP ước tính khoảng 10%.
3
Nếu mực nước biển dâng 3m sẽ có 12% diện tích, 25% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp,
thiệt hại GDP ước tính khoảng gần 25%, và nếu mực nước biển dâng 5m sẽ có hơn 16%
diện tích, 35% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, thiệt hại GDP ước tính khoảng hơn 35%
(Dasgupta et al., 2007).
Thời gian qua, trong khi đề cập đến BĐKH, các nhà nghiên cứu đã đưa ra hai thuật
ngữ “ngăn ngừa” và “thích nghi”. Trong một số trường hợp hai thuật ngữ này gần như
đồng nghĩa nói về vấn đề kiểm soát nguy cơ, điều này có nghĩa là cả hai biện pháp trên
đều cùng một mục tiêu chung là hạn chế biến đổi khí hậu lan nhanh và gây ra thiệt hại
không mong muốn cho loài người. Tuy nhiên, ý nghĩa của chúng lại khác nghĩa nhau khi
đề cập đến vấn đề chính sách khí hậu.Khi nói về khí hậu, “ngăn ngừa” nghĩa là làm chậm
lại quá trình ấm lên của trái đất bằng cách đối mặt với các vấn đề cơ bản như hoạt động
của con người tạo nên khí nhà kính (chủ yếu là CO
2)
nghi “phản ứng”. Việc lựa chọn biện pháp nào còn phụ thuộc vào việc hoạt động thích
nghi đó xảy ra trước hay sau khi nhận thức được các tác động của biến đổi khí hậu. Xây
nhà trên cột để ngăn lũ lụt hay thiết kế giếng dầu có chống bão là thích nghi “phòng xa”,
trong khi thay đổi cơ cấu mùa màng nhằm thích ứng với thời tiết ấm hơn trong mùa đông
là thích nghi “phản ứng”. Có sự liên quan giữa chiến lược thích nghi “có kế hoạch” hay
thích nghi “theo chính sách” (kết quả của của nhiều quyết định thận trọng) và chiến lược
thích nghi “độc lập” hay thích nghi “tự phát”(thay đổi tuỳ theo các điều kiện, bất chấp
các chính sách hay kế hoạch từ trước). Sự thích nghi thường gắn với vai trò của chính
phủ, vì chỉ có chính phủ mới có đủ nhân lực, tài chính cũng như cơ sở hạ tầng để có thể
đưa ra các chính sách lâu dài và thích hợp, đồng thời cũng có những biện pháp khả thi
nhằm theo dõi, đôn đốc quá trình thực hiện. Tuy nhiên, thích nghi “tự phát” lại được đa
số người dân lựa chọn vì sự linh hoạt cũng như tính khả thi của nó khi chính sách chưa
phổ biến kịp đến cộng đồng. Người dân có sự đối mặt với thách thức khi hậu quả của
biến đổi thời tiết đe doạ cuộc sống gia đình, buộc họ phải chọn lựa hình thức định cư,
hình thức hoạt động kinh tế cũng như các vấn đề xã hội khác. Những thay đổi nhỏ như
thay đổi thói quen trong tiêu dùng ( sử dụng bóng đèn tiết kiệm điện, hạn chế sử dụng
máy điều hoà không khí, hạn chế sử dụng bao nilon v.v…) cho đến những thay đổi lớn
như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi hình thức sử dụng đất v.v… Chính
phủ có thể giữ vai trò nòng cốt trong việc chỉ ra những rủi ro cho các mục tiêu phát triển,
những biện pháp thích ứng tổng hợp trong các kế hoạch quốc gia và vùng. Sự thích nghi
theo chính sách hay “có kế hoạch” của chính phủ giữ vai trò quan trọng trong việc cung
cấp động cơ và công cụ để đưa sự thích ứng bền vững với biến đổi khí hậu đến với người
dân, cộng đồng và lĩnh vực tư nhân. Trước tình hình này, nếu có, một chính sách hợp lý
là sự phối hợp giữa giảm thiểu, thích nghi, phát triển kĩ thuật (nhằm nâng cao hiệu quả
5
giảm thiểu và thích nghi) và nghiên cứu ( về biến đổi khí hậu, về tác động cũng như sự
giảm thiểu và thích nghi).
Trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu đã được tiến hành trên
thế giới nhằm mục tiêu tìm hiểu nguyên nhân, thực trạng cũng như tìm kiếm các biện
pháp đối với BĐKH. Các công trình này đã chuyển từ việc trả lời câu hỏi biến đổi khí
- Đề xuất các giải pháp nhằm giúp cho người dân vùng bị ảnh hưởng bởi BĐKH ổn
định cuộc sống lâu dài.
3. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
3.1. Biến đổi khí hậu
TheoStern (2006), nhà kinh tế học người Anh đã đưa ra quan điểm rằng thiệt hại
của BĐKH gây ra rất lớn và không thể phục hồi. Sử dụng mô hình PAGE đánh giá tổng
thể tác động của BĐKH có kết hợp nhiều kịch bản rủi ro và yếu tố bất định, Stern cho
rằng chi phí để ứng phó với BĐKH là 1% GDP toàn cầu 1 năm, và lợi ích từ các biện
pháp ứng phó (tránh được thiệt hại 5%GDP) sẽ lớn hơn chi phí 1%GDP này. Theo
Thắng (2009), tác giả đã trình bày hai trường phái học thuật hay hai nhóm quan điểm
chính khi đánh giá tác động kinh tế của BĐKH trên thế giới, ngoài quan điểm do Stern
đứng đầu còn có nhóm quan điểm trái ngược lại do nhà kinh tế học người Mỹ Williams
Nordhaus đứng đầu. Nordhaus (1994) cho rằng BĐKH không ra nhiều tác động tiêu cực
lên sự phát triển chung, và khi sử dụng mô hình DICE (Dynamic Intergrated Model of
Climate and Economy – mô hình tổng hợp động về khí hậu và kinh tế) để phân tích,
Nordhaus ước tính thiệt hại của BĐKH vào khoảng 1% GDP toàn cầu. Ủng hộ quan điểm
của Nordhaus, nhà kinh tế học người Đan Mạch Bjorn Lomborg (2007) cho rằng mặc dù
BĐKH đã diễn ra, chi phí cho việc cắt giảm khí phát thải nhà kính lớn hơn nhiều so với
lợi ích đem lại, theo Lomborg, các ưu tiên khác nên cần đẩy mạnh cho các vấn đề toàn
cầu khác như AIDS, suy dinh dưỡng và thiếu nước ngọt. Theo Thắng (2009), tác giả đã
đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy sự ủng hộ của thế giới đối với quan điểm của Stern
nhiều hơn của Nordhaus cho đến nay, như các báo cáo cũng như nghiên cứu mới của
Ngân hàng thế giới (WB, 2008), IPCC (2007), của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB,
7
2007) về BĐKH, các nghiên cứu đã đưa ra những số liệu phân tích cho thấy tác động của
BĐKH là vô cùng to lớn, ảnh hưởng đến phát triển. Do vậy, nghiên cứu và phân tích của
Stern sẽ là tài liệu hữu ích cho việc tham khảo về tính quan trọng và cần thiết của vấn đề
nghiên cứu của đề tài.
Báo cáo Phát triển con người 2007/2008 (UNDP, 2008) đã dẫn ra rằng “BĐKH do
con người gây ra đang đẩy thế giới đến một thảm hoạ sinh thái cùng những tác động
nguy cơ trên thế giới. Quan trọng hơn, theo nghiên cứu của Dasgupta, Việt Nam nằm
trong nhóm các nước có nguy cơ cao nhất bị tác động bởi BĐKH trong nhóm các quốc
gia Đông Nam và Đông Á. Các số liệu của nghiên cứu là những bằng chứng cho thấy
Việt Nam không thể đứng ngoài vấn đề BĐKH và những nghiên cứu sâu hơn về tình hình
BĐKH ở Việt Nam, sự phối hợp hành động cũng như các chính sách cần được tìm hiểu
và triển khai nhằm tránh những thiệt hại về sau.
Yohe G. (1989)là một trong những nghiên cứu về hiện tượng mất đất do nước biển
dâng trong giai đoạn đầu tiên, những năm 80 của thế kỉ XX, khi BĐKH chưa phải là một
vấn đề nghiêm trọng nhất của toàn cầu. Nghiên cứu đã áp dụng các lý thuyết đo lường để
định lượng mức độ tổn thương về kinh tế của hiện tượng nước biển dâng bao gồm giá trị
của các cấu trúc hạ tầng bị đe doạ, các tài sản mất mát cũng như các dịch vụ xã hội dọc
bờ biển. Giá trị các cấu trúc hạ tầng và tài sản bị đe doạ được tham khảo từ hồ sơ thuế
cung cấp bởi văn phòng giám định của chính phủ và được tính là tổng của tất cả giá trị thị
trường của chúng.Giá trị xã hội của bờ biển được ước đoán bằng cách sử dụng phương
pháp tiếp cận Knetsch – David và giá trị này được tính bằng tổng của sự chênh lệch giữa
những giá trị tài sản gần bờ biển và xa bờ biển.Lý thuyết trên đã được áp dụng cho bờ
biển Long Beach Island (Hoa Kì) nơi được bao quanh bởi đường bờ biển trải dài 18 dặm.
Tham khảo theo lý thuyết của Yohe, Bayani K. et al (2009) đã áp dụng lý thuyết trên
trong một nghiên cứu cụ thể về sự xói mòn bờ biển tại Philippines. Ngoài việc đo lường
mức độ tác động của hiện tượng xói mòn bờ biển lên đất đai, dân số và các hoạt động
kinh tế - xã hội của cư dân cộng đồng ven bờ biển, nghiên cứu còn tính toán chi phí và lợi
ích của chiến lược thích nghi ( kế hoạch vẫn hoạt động sản xuất bình thường, kế hoạch
đối phó có sự can thiệp của chính phủ và kế hoạch tái định cư) cũng như tính khả thi của
9
các chính sách và luật pháp cho sự thích nghi đó. Các kết quả nghiên cứu trên có thể sử
dụng để tham khảo cho việc hoạch định các chính sách lâu dài về BĐKH cho cộng đồng
dân cư sinh sống tại một khu vực có vị trí và đặc điểm đặc thù, tương tự như hướng
nghiên cứu của đề tài.
Bên cạnh đó, chúng tôi muốn tìm hiểu rõ hơn về khái niệm “sinh kế bền vững” và
vấn đề sinh kế bền vững trong kế hoạch thích nghi với BĐKH.
Khung phân tích tính dễ bị tổn thương được dựa trên mô hình rủi ro. Phân tích
khám phá sự khác biệt của mức độ tổn thương thông qua nghiên cứu khả năng của hộ gia
đình trong việc phản ứng và thích nghi với những rủi ro thực và rủi ro dự đoán có thể làm
hạn chế những lựa chọn xây dựng sinh kế (Wisner et al., 2004). Mức vốn tạo ra và sử
dụng trong gia đình cần dược tìm hiểu để giúp làm rõ mối tương quan giữa những kế
hoạch tạo vốn cụ thể với những thay đổi khi tiếp xúc với những rủi ro tự nhiên và rủi ro
kinh tế xã hội.Cách tiếp cận sinh kế bền vững (SLA) cung cấp một khung nghiên cứu có
thể gói gọn những khái niệm liên quan đến mối quan hệ giữa tích lũy vốn hộ gia đình và
một số tính tổn thương. Mô hình tham khảo giới thiệu bởi Ủy ban Phát Triển Quốc Tế
(Anh Quốc) (DFID) (1999) được mô tả theo hình dưới đây.
Hình1.1: Khung tiếp cận sinh kế bền vững (Nguồn: DFID, 1999)
11
Khung phân tích sinh kế là một công cụ được sử dụng để áp dụng cách tiếp cận sinh
kế bền vững. Đây là cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm đồng thời cố gắng tìm
hiểu những vấn đề về kinh tế-xã hội và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ
góc nhìn thông qua con người. Nó giúp chúng ta nghiên cứu xem xét những yếu tố
khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặt biệt là các yếu tố gây khó khăn và
tạo cơ hội trong sinh kế. Đồng thời giúp tìm hiểu những yếu tố này liên quan với nhau
như thế nào.
Theo khung phân tích này, tiếp cận nghiên cứu sinh kế bắt đầu bằng việc phân tích
các chiến lược sinh kế của con người.Xem xét chiến lược đó thay đổi qua thời gian chịu
ảnh hưởng của bối cảnh tổn thương và chính sách, thể chế như thế nào.Phân tích sự khác
biệt về mức độ ảnh hưởng gữa các nhóm hộ khác nhau trong cộng đồng và xác định
những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của họ trong các chương trình của nhà
nước.Phương pháp tiếp cận này đặc biệt chú ý đến việc lôi cuốn người dân tham gia và
tôn trọng ý kiến của họ, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm hỗ trợ người dân đạt
được các mục đích sinh kế của họ.
Chiến lược sinh kế là các kế hoạch làm việc dài hạn của cộng đồng để kiếm sống.
Nó thể hiện sự đa dạng và kết hợp nhiều hoạt động và lựa chọn mà con người tiến hành
nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình.
ảnh hưởng đến tổng doanh thu và chi phí đánh bắt. Hệ quả là ngư dân phải bỏ ra chi phí
lớn hơn cho việc quản lý và tiếp cận những nguồn lực tự nhiên (Mahon 2002; Mahon and
Joseph 1997; Callaway et al. 1998; Knapp 1998; Lum Kong 2002; Roessig et al. 2004).
Ngoài ra, những nguồn lực tự nhiên khác, ví dụ như nước sinh hoạt, mà cộng đồng ngư
nghiệp dựa vào cũng chịu tác động bởi biến đổi khí hậu. Mực nước biển dâng và những
điều kiện khắc nghiệt như bão có thể làm giảm khối lượng và chất lượng của nguồn nước
sạch cho cộng đồng ngư nghiệp (Bridges and McClatchey 2009).
3.2.2.2. Hủy hoại nguồn lực vật chất, suy giảm nguồn lực tài chính
13
Khí hậu biến đổi thông qua việc mực nước biển dâng và sự gia tăng các cơn bão và
lũ lụt có thể tác động vào nguồn lực vật chất củahộ gia đình, hoặc của cả cộng đồng,
không chỉ dẫn đến giảm năng suất đánh bắt mà còn phá hủy cơ sở hạ tầng công cộng và
làm gián đoạn các dịch vụ vốn có tác dụng hỗ trợ sinh kế.Cụ thể hơn các cơn bão và
những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt có thể phá hủyhoặc gây ra tổn hại tài sản sản xuất
và cơ sở hạ tầng như các bãi đáp, tàu thuyền và ngư cụ (Jallow et al. 1999). Bên cạnh đó,
thiệt hại đối với tài sản vật chất phi sản xuất của ngư dân nhưnhà ở và cơ sở hạ tầng của
cộng đồng (bệnh viện, trường học, hệ thống nước thải ) cũng là những hậu quả nghiêm
trọng củacác hiện tượng khí hậu khắc nghiệt (Westlund et al. 2007).
Theo Badjeck et al. (2010), việc mất đi nguồn lực vật chất cùng với một cơ sở tài
sản tài chính ngày một xấu đi cũng có thể có những tác động đáng kể đến sinh kế. Những
người bị ảnh hưởng nhiều nhất không thể vay vốn ngân hàng chính thức do thiếu tài sản
thế chấp (thường bị mất trong thiên tai) và không có bảo hiểm (De Silvaand Yamao
2007). Ngoài ra, như quan sát thấy trongnhiều cộng đồng ngư dân, các nguồn tín dụng
không chính thức thường là những nguồn duy nhất cho ngư dân, thường có lãi suất cao
và các điều khoản không thuận lợi(Tietze and Villareal 2003). Nhìn chung, việc thiếuhỗ
trợ tài chính cho ngư dân trong cuộc khủng hoảng thủy sản là một vấn đề then chốtở các
nước đang phát triển, trong khi ở các nước như Canadavà Na Uy, mạng lưới an sinh xã
hội và các chương trình công cộng có thể cung cấp những hỗ trợquan trọng (Perry et al.
2009).
3.2.2.3. Tác động đến nguồn lực con người và nguồn lực xã hội
sản xuất nông nghiệp sẽ là thách thức lớn cho ngành nông nghiệp. Thiên tai gia tăng sẽ
làm tăng hiện tượng xói mòn, rửa trôi, sạt lở bờ sông, bờ biển, bồi lắng lòng dẫn ảnh
hưởng nghiêm trọng tới tài nguyên đất. Hiện tượng thiếu nước và hạn hán sẽ dẫn tới
hoang mạc hóa, đặc biệt là các tỉnh miền Trung (Trương Quang Học, 2009).
BĐKH sẽ làm thay đổi cấu trúc mùa, quy hoạch vùng, kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh
gia tăng, sẽ làm giảm năng suất cây trồng và vật nuôi. Nguồn cung cấp thức ăn chăn
nuôi giảm hạn chế phát triển ngành chăn nuôi. Nhiệt độ tăng cùng với biến động về các
yếu tố khí hậu và thời tiết khác có thể làm giảm sức đề kháng của vật nuôi, đồng thời tạo
15
môi trường thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh phát triển bùng phát, gây ra những đại
dịch trên gia súc, gia cầm. Trong thời gian qua, ở nhiều địa phương, mùa màng đã bị mất
trắng do lũ lụt và hạn hán.
Tác động đến lâm nghiệp
BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến thảm thực vật, làm thay đổi hệ sinh thái rừng,
đa dạng sinh học, tăng nguy cơ cháy rừng, giảm điều tiết nguồn nước, điều hòa khí hậu,
chống xói mòn, … Phân bố ranh giới các kiểu rừng nguyên sinh, thứ sinh có thể dịch
chuyển.
Nước biển dâng lên làm thu hẹp 25.000 ha diện tích rừng ngập mặn ven biển, tác
động xấu đến 13.000 ha rừng tràm và rừng trồng trên các đất bị nhiễm phèn làm tăng
nguy cơ tuyệt chủng các loài động thực vật. Hơn nữa, nhiệt độ và mức độ khô hạn tăng
lên sẽ làm tăng nguy cơ cháy rừng và sâu bệnh phá hoại cây rừng.
Tác động đến ngư nghiệp
Kinh tế thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm và cải thiện sinh kế
cho các cộng đồng dân cư sống ở các vùng nông thôn ven biển và hải đảo. Hiện nay, các
hiện tượng cực đoan của thời tiết như áp thấp nhiệt đới, bão, lũ lụt không ngừng gia tăng
ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển của ngành đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản ở
các vùng ven biển Việt Nam.
Theo số liệu thống kê của Bộ Thuỷ sản từ năm 2001- 2006: “Tình hình thiên tai
ngày càng có diễn biến phức tạp, tần suất ngày một tăng, tính ác liệt ngày một lớn trên tất
cả các loại hình: bão, nước biển dâng, triều cường, lũ lụt, lũ quét, … xảy ra dồn dập và
chảy về mùa khô dẫn đến giao thông thủy bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Công nghiệp và xây dựng: Các khu công nghiệp phải đối diện nhiều hơn với nguy
cơ ngập lụt và thách thức trong thoát nước do nước lũ từ sông và mực nước biển tăng.
BĐKH làm tăng khó khăn trong việc cung cấp nước và nguyên vật liệu cho các ngành
công nghiệp và xây dựng như dệt may, chế tạo, khai thác và chế biến khoáng sản, nông,
lâm, hải sản, xây dựng công nghiệp và dân dụng, công nghệ hạt nhân, …
3.3.2.Tác động của BĐKH đối với đời sống xã hội của Việt Nam
17
Tác động đến tài nguyên nước
Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia thiếu nước với tổng bình quân đầu
người cả nước mặt và nước ngầm là 4.400 m
3
/người/năm (so với bình quân thế giới là
7.400 m
3
/người/năm). Sự suy thoái tài nguyên nước ngày một tăng về cả số lượng và chất
lượng do nhu cầu về nước ngày một lớn, khai thác, sử dụng bừa bãi, thiếu quy hoạch và
đặc biệt là sự suy giảm đến mức báo động của rừng đầu nguồn.
Dưới tác động của BĐKH, khi nhiệt độ trung bình tăng, độ bất thường của thời tiết,
khí hậu và thiên tai gia tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tài nguyên nước ngọt ở các khía
cạnh sau:
- Nhu cầu nước sinh hoạt cho con người, nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp,
công nghiệp, năng lượng, giao thông, đều tăng. Bên cạnh đó, lượng bốc hơi nước của
các thủy vực cũng tăng.Hậu quả dẫn đến là sự suy thoái tài nguyên nước cả về số lượng
và chất lượng sẽ trở nên trầm trọng hơn.
- Những thay đổi về mưa, sẽ dẫn tới những thay đổi về dòng chảy của các con sông
và cường độ các trận lũ, tần suất và đặc điểm của hạn hán, lượng nước ngầm.
- Khi rừng đầu nguồn bị mất sẽ làm tăng dòng chảy đột ngột ở các sông vào mùa
mưa gây ra lũ lụt, sạt lở, xói mòn. Nhưng vào mùa khô không còn rừng để giữ nước nên
các dòng chảy cũng giảm dần dẫn đến nạn thiếu nước sẽ trầm trọng hơn.
các vùng kém phát triển, đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao (Theo IPCC, 2007).
Đặc biệt, ở Việt Nam, trong thời gian qua cũng xuất hiện một số bệnh mới ở người
và động vật (tả, cúm gia cầm, bệnh tai xanh ) nhiều bệnh có diễn biến phức tạp và bất
thường hơn (sốt xuất huyết) và gây ra những thiệt hại đáng kể.
Tác động đến văn hóa và du lịch
Với địa hình trải dài từ bắc đến Nam, nước ta được đánh giá là có tiềm năng rất lớn
trong phát triển du lịch biển.Hiện cả nước có hơn 125 bãi tắm lớn nhỏ, trong đó có 20 bãi
biển đạt tiêu chuẩn quốc tế. Các bãi biển của Việt Nam nhìn chung khá bằng phẳng, nước
trong, sóng gió vừa phải, không có các ổ xoáy và cá dữ, rất thích hợp cho tắm biển và các
19
hoạt động vui chơi giải trí trên biển. Tuy nhiên, BĐKH làm nhiệt độ tăng và nước biển
dâng đe dọa tương lai của ngành du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng tại Việt Nam.
Dưới tác động của BĐKH sẽ làm gia tăng dịch bệnh. Thực tế cho thấy, dịch bệnh
liên tục xuất hiện từ 2003 đến nay như SARS, cúm gia cầm, tiêu chảy… đã ảnh hưởng
không nhỏ tới hoạt động du lịch tại Việt Nam.
Nước biển dâng sẽ làm cho tài nguyên du lịch bị suy thoái, mất mát về lượng (quỹ
đất phát triển các khu du lịch và tổ chức các hoạt động du lịch bị thu hẹp. Đặc biệt là các
khu du lịch duyên hải miền Trung sẽ đứng trước nguy cơ sạt lở các dải đất ven biển, …)
cũng như về giá trị phục vụ. Điều này sẽ dẫn đến suy giảm các tiền đề phát triển du lịch
biển đảo nói riêng và cả nước nói chung (Lê Trọng Bình, 2009).
Tác động đến cơ sở hạ tầng
Theo đánh giá của IPCC, do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, có khả năng
mực nước biển sẽ dâng cao 1m vào cuối thế kỷ 21, nếu Việt Nam không nhanh chóng
xây dựng và nâng cấp hoàn chỉnh hệ thống đê biển để ứng phó, thì hàng năm có đến
40.000km
2
vùng ven biển sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề, trong đó 90% diện tích đồng bằng
sông Cửu Long bị ngập hoàn toàn, thiệt hại về tài sản lên tới 17 tỷ USD.
Đến năm 2007, hầu hết các tuyến đê sông ở Bắc và Trung Bộ căn bản đã đủ sức
chống được lũ, tuy nhiên, hệ thống đê biển vẫn còn rất nhiều vấn đề bất cập, nhất là trước
Mong đợi – khuyến nghị
+ Các nguyện vọng của người dân về các giải pháp thích nghi với biến đổi khí hậu.
Phương pháp này được hỗ trợ bởi các công cụ nghiên cứu: bảng phỏng vấn sâu, kết
quả đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA).
5.2. Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu thuộc phạm vi đề tài là cộng đồng dân cư nông thôn miền
biển thuộc vùng chịu ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu theo các tiêu chí chọn mẫu nghiên
cứu.
Đại diện cơ quan chính quyền cùng các ban ngành đoàn thể tại địa phương điển cứu
là những đơn vị chịu trách nhiệm chính trong việc đề ra kế hoạch, triển khai các chính
sách về biến đổi khí hậu.
Đại diện các nhà chuyên môn thuộc các cơ quan, ban ngành: Sở tài nguyên – môi
trường tỉnh, Phòng Phát triển nông thôn - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh,
phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hội nông dân, Hội khuyến nông v.v…
5.3. Về địa bàn nghiên cứu
Dựa vào tiêu chí điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội, địa lý và lịch sử khai thác địa
bàn để chọn khu vực nghiên cứu, khu vực được chọn là huyện Đất Đỏ và huyện Long
Điền với các cộng đồng dân cư sống ở khu vực ven biển, với nghề nghiệp phụ thuộc vào
nguồn tài nguyên của biển, nơi đã từng chịu tác động và thiệt hại lớn bởi biến đổi khí hậu
trong những năm gần đây.
5.4. Về phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu
Nguồn tài liệu thứ cấp:
Tham khảo tài liệu từ 3 nguồn chính:
- Tài liệu trong Trường: các Đề tài nghiên cứu khoa học.
- Các đề tài nghiên cứu, các báo cáo của Tỉnh và các ban ngành chức năng trực
thuộc và có liên quan (Sở tài nguyên – môi trường tỉnh, Phòng Phát triển nông thôn - Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tỉnh, Phòng Nông nghiệp - Phòng Thống kê và
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của huyện…)
- Sách báo và các phương tiện truyền thông.
Nguồn tài liệu sơ cấp
tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế biển như: khai thác dầu khí trên biển, khai thác
cảng biển và vận tải biển, khai thác và chế biến hải sản, phát triển du lịch nghỉ dưỡng và
tắm biển. Ở vị trí này, Bà Rịa-Vũng Tàu có điều kiện phát triển tất cả các tuyến giao
thông đường bộ, đường không, đường thủy, đường sắt và là một địa điểm trung chuyển đi
các nơi trong nước và thế giới.
I.1.1.2. Điều kiện tự nhiên
- Diện tích tự nhiên: 1989,5 km
2
bao gồm 02 thành phố ( Vũng Tàu, Bà Rịa), 06
huyện ( Tân Thành, Châu Đức, Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Côn Đảo) trong đó chỉ
có 01 huyện ( Châu Đức) là không có biển và 01 huyên đảo (Côn Đảo).
I.1.2. Đặc điểm khí hậu
24
Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa; một năm chia hai
mùa rõ rệt.Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, thời gian này có gió mùa Tây Nam.
Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời gian này có gió mùa Đông Bắc.
Nhiệt độ trung bình hang năm là 27 dộ C, tháng thấp nhất khoảng 24,8 độ C, tháng cao
nhất khoảng 28,6 độ C. Số giờ nắng rất cao, trung bình hàng năm khoảng 2400 giờ.
Lượng mưa trung bình 1500 mm. Bà Rịa-Vũng Tàu nằm trong vùng ít có bão.
I.1.3. Đặc điểm thủy văn-hải dương
- Tỉnh có đường bờ biển dài 305 km, trong đó Côn Đảo là 115km. Diện tích vùng
thềm lục địa khoảng 100.000km
2
.
I.1.4. Tài nguyên khoáng sản
Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bà Rịa-Vũng Tàu được
Trung ương xác định là cửa ngõ của vùng với nhiều tiềm năng phong phú. Trữ lượng dầu
khí đã xác định ở vùng biển Bà Rịa-Vũng Tàu cho phép khai thác công nghiệp, hiện đang
khai thác bình quân hang năm 16-17 triệu tấn dầu và 1,5-2 tỷ m
3