BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TP. HỒ CHÍ MINH
****************
KHẢO SÁT NHẬN THỨC VÀ MỨC SẴN LÒNG TRẢ ĐỐI VỚI
THỰC PHẨM BIẾN ĐỔI GEN: TRƯỜNG HỢP
GẠO VÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
LUẬN VĂN THẠC SĨ MÔI TRƯỜNG
Thành Phố Hồ Chí Minh
Tháng 2/ 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TP. HỒ CHÍ MINH
****************
PHAN XUÂN VIỆT
KHẢO SÁT NHẬN THỨC VÀ MỨC SẴN LÒNG TRẢ ĐỐI VỚI
THỰC PHẨM BIẾN ĐỔI GEN: TRƯỜNG HỢP
GẠO VÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
Mã số: 60 85 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ MÔI TRƯỜNG
Hướng dẫn khoa học: TS. PHAN THỊ GIÁC TÂM
Thành Phố Hồ Chí Minh
Tháng 2/ 2014
2
LỜI CẢM TẠ
Hoàn thành bài luận văn là một dấu mốc rất quan trọng đối với tôi, bởi nó giúp
tôi hiểu thế nào là hoạt động nghiên cứu khoa học thật sự. Điều đó khiến tôi thấy càng
phẩm(VSATTP), thực phẩm biến đổi gen và mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng đối với
gạo Vàng – một loại gạo biến đổi gen tại một số quận huyện trên địa bàn thành TP.HCM.
Phương pháp được sử dụng trong đề là phương pháp định giá ngẫu nhiên(Contingent
Valuation Method - CVM). Đề tài tiến hành phỏng vấn và điều tra thống kê ngẫu nhiên
232 người tại quận 6, quận 9, quận Thủ Đức, quận Gò Vấp và huyện Củ Chi.
Kết quả thống kê cho thấy có đến 83,7% người được khảo sát cho rằng thực phẩm
hiện nay trên thị trường là ít hoặc không an toàn. Điều đó dẫn đến việc người dân tại
TP.HCM rất quan tâm đến cách thức bảo đảm VSATTP như chọn mua các thực phẩm an
toàn, rõ nguồn gốc (48,6%), bảo quản và chế biến thực phẩm hợp vệ sinh(38,5%), đồng
thời tìm mua thực phẩm an toàn tại những nơi đáng tin cậy( trong siêu thị: 49,1%, nơi
quen biết, có uy tín: 37,9%). Phản ứng của người dân đối với thực phẩm biến đổi gen
(TPBĐG) khá tích cực. Kết quả khảo sát cho thấy 47,4% người được phỏng vấn ủng hộ
việc phổ biến TPBĐG, 16,8% phản đối và 35,8% không có ý kiến. Một vấn đề quan trọng
khác là có đến 90,9% người được khảo sát cho rằng cần dán nhãn cho các TPBĐG. Cụ thể
trong trường hợp gạo Vàng – một loại gạo biến đổi gen thì kết quả điều tra cho thấy có
94,3% số người đồng ý mua gạo Vàng, 5,7% không đồng ý. Trong số những người đồng ý
mua gạo Vàng có 37% trả giá cao hơn gạo thông thường vì họ cho rằng loại gạo này tốt
cho sức khỏe, 30,6% trả giá thấp hơn gạo thường vì những lợi ích của GV là chưa chắc
chắn. WTP trung bình cho sản phẩm GV là 16957 đồng/kg. Các nhân tố có ảnh hưởng đến
WTP đối với GV là trình độ học vấn, thu nhập, việc ủng hộ phổ biến TPBĐG và độ tuổi
người được phỏng vấn. Qua nghiên cứu cho thấy có thể phổ biến gạo Vàng tại Tp. HCM.
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
CNBĐG Công Nghệ Biến Đổi Gen
TPBĐG Thực Phẩm Biến Đổi Gen
GMC Cây trồng biến đổi gen (Genetically Modified Crop)
GMO Sinh Vật Biến Đổi Gen (Genetically Modified Organism)
GV Gạo Vàng (Golden Rice)
Hình 3.2. Các phương pháp định giá tài nguyên môi trường 29
7
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ 3
Hoàn thành bài luận văn là một dấu mốc rất quan trọng đối với tôi, bởi nó giúp
tôi hiểu thế nào là hoạt động nghiên cứu khoa học thật sự. Điều đó khiến tôi thấy
càng trân trọng hơn những đóng góp của những người làm khoa học. Tôi xin gởi
lời cảm ơn chân thành đến Quý thầy cô trong khoa Địa Lý- trường Đại Học
KHXH&NV TP. Hồ Chí Minh cùng các thầy cô đã tham gia giảng dạy tại chương
trình cao học của Quý Khoa đã nhiệt tâm truyền thụ những kiến thức hết sức quý
báu và những kinh nghiệm rất thực tế cho tôi trong suốt thời gian học tập 3
Trên tất cả, tôi xin tỏ lòng tri ân và cảm tạ sâu sắc đến TS. Phan Thị Giác Tâm,
một người thầy luôn luôn tâm huyết với nghề và sẵn lòng nhiệt tâm để giúp đỡ
học trò trên con đường nghiên cứu khoa học. Cô đã không quản thời gian, công
sức để hướng dẫn, theo sát và động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận
văn 3
Tôi cũng xin trân trọng cám ơn sự hợp tác và lòng nhiệt thành của cư dân tại các
quận, huyện trên địa bàn thành phố. Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tôi trong quá trình
khảo sát thực tế 3
Xin gởi cảm tạ đến bạn bè thân hữu thuộc lớp cao học khóa 2010-2012, đã luôn
động viên chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và luôn tận tình giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu đề tài luận văn này 3
Kết lời, tôi xin cảm ơn gia đình đã luôn đồng hành cùng tôi 3
Trân trọng cảm ơn 3
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 2 năm 2014 3
Học viên cao học 3
Phan Xuân Việt 3
TÓM TẮT 4
PHAN XUÂN VIỆT, tháng 1 năm 2013. “KHẢO SÁT NHẬN THỨC VÀ MỨC
việc ủng hộ phổ biến TPBĐG và độ tuổi người được phỏng vấn. Qua nghiên cứu
cho thấy có thể phổ biến gạo Vàng tại Tp. HCM 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
CHỮ VIẾT TẮT 5
9
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ 5
CNBĐG 5
Công Nghệ Biến Đổi Gen 5
TPBĐG 5
Thực Phẩm Biến Đổi Gen 5
GMC 5
Cây trồng biến đổi gen (Genetically Modified Crop) 5
GMO 5
Sinh Vật Biến Đổi Gen (Genetically Modified Organism) 5
GV 5
Gạo Vàng (Golden Rice) 5
CVM 5
Phương Pháp Định Giá Ngẫu Nhiên (Contingent Valuation Method ) 5
Willingness To Pay (Mức Sẵn Lòng Trả) 5
Willingness To Accept (Mức Sẵn Lòng Chấp Nhận) 5
EU 5
European Union (Liên minh châu Âu) 5
TP.HCM 5
Thành Phố Hồ Chí Minh 5
VSATTP 5
Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm 5
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU 6
DANH MỤC HÌNH ẢNH 7
MỤC LỤC 8
Tiến hành xây dựng phòng thí nghiệm chuyên trách kiểm định thành phần biến
đổi gen trong thực phẩm với máy móc thiết bị đạt chuẩn quốc tế ; thường xuyên
thanh tra các cơ sở sản xuất; tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ
di truyền trong nông nghiệp và cho việc tiêu thụ mặt hàng biến đổi gen phổ biến
hơn 66
Cần đầu tư nhiều hơn cho hoạt động nghiên cứu và ứng dụng GMO ở Việt Nam
vì nước ta là nước nông nghiệp, các hoạt động kinh tế dựa trên ngành này rất
11
nhiều và có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế. Đồng thời cũng gia tăng
khả năng kiểm soát những loại TPBĐG được nhập ngoại vào nước ta 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Việt Nam 67
PHỤ LỤC 70
Phụ lục 1: thống kê mô tả mức sẵn lòng trả đối với gạo Vàng 70
Phụ lục 2: kết xuất mô hình hồi quy tuyến tính về mức sẵn lòng trả 70
Phụ lục 2: Phiếu điều tra phỏng vấn về WTP 7312
Chương 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngày 31 tháng 10 năm 2011, là một dấu mốc quan trọng khi dân số thế giới đạt
mức bảy tỉ người. Ngành nông nghiệp thế giới đứng trước những khó khăn và thách
thức ngày càng lớn nhằm đảm bảo nguồn lương thực cho thế giới khi mà diện tích đất
canh tác ngày càng giảm và các vùng đất nông nghiệp chịu ảnh hưởng ngày càng rõ rệt
hơn của biến đổi khí hậu toàn cầu. Trước tình hình đó, những giải pháp liên quan đến
công nghệ sinh học nhằm tăng năng xuất và phẩm chất cây trồng, vật nuôi được xem
xét phát triển. Một trong số đó là công nghệ biến đổi gen (CNBĐG). Thực phẩm biến
đổi gen (Genetically Modified - GM) chứa đựng những phẩm chất vượt trội so với thực
có chứa Beta-Caroten và một lượng lớn chất sắt. Vì thế khi sử dụng loại gạo này sẽ làm
tăng hàm lượng vitamin và sắt trong cơ thể, giúp tránh được các bệnh liên quan đến
việc thiếu hụt dinh dưỡng (Trần Văn Đạt, 2011). Tuy nhiên loại gạo này mới được
trồng thử nghiệm ở Philippin và còn rất xa lạ ở Việt Nam. Thêm vào đó, hiện có rất
nhiều thông tin trái chiều về những ảnh hưởng của thực phẩm GM. Những thực nghiệm
về tác dụng của GV vẫn chưa được xác thực rõ ràng.
TPBĐG đã xuất hiện rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới và tạo ra những phản
ứng trái chiều khác nhau về việc có nên chấp nhận và phổ biến loại thực phẩm này hay
không. Tại Việt Nam mặc dù TPBĐG đã xuất hiện trên thị trường nhưng phản ứng của
người tiêu dùng về loại thực phẩm này là chưa rõ ràng, mức độ nhận thức của họ như
thế nào, những yếu tố nào có ảnh hưởng đến nhận thức và WTP của họ cho gạo Vàng –
một loại gạo biến đổi gen.
Trên cơ sở đó tôi thực hiện đề tài: “Khảo Sát Nhận Thức Và Mức Sẵn Lòng Trả Đối
Với Thực Phẩm Biến Đổi Gene: Trường Hợp Gạo Vàng Tại Thành Phố Hồ Chí
Minh” để tìm hiểu nhận thức của người tiêu dùng tại TP.HCM về TPBĐG nói chung,
GV nói riêng và mức sẵn sàng trả để được sử dụng loại gạo biến đổi gene. Qua nghiên
cứu có thể đóng góp cho việc hoàn thiện chính sách đối với phổ biến TPBĐG tại Việt
Nam.
14
1.2. Mục Tiêu nghiên Cứu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Khảo sát nhận thức của người dân về thực phẩm GM, cụ thể ở đây là loại gạo
Vàng, qua đó có thể đánh giá mức độ tin cậy và chấp nhận của người dân khi loại gạo
này xuất hiện trên thị trường. Dựa trên việc khảo sát nhận thức có thể tiếp cận mức sẵn
lòng chi trả cho thực phẩm GM.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
– Khảo sát nhận thức của người dân đối với vấn đề an toàn thực phẩm.
– Khảo sát nhận thức của người dân đối với gạo Vàng.
– Xác định mức sẵn lòng trả và những yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của
cứu. Đây là phần khá quan trọng của bài nghiên cứu, nó cho thấy những phương pháp
và nghiên cứu trước đây về thực phẩm GM. Từ đó tôi đưa ra hướng nghiên cứu và phát
triển đề tài. Bất kì nghiên cứu thực tiễn nào cũng đều phải dựa trên cơ sở lý thuyết và
những phương pháp nghiên cứu phù hợp. Nội dung của chương 3 sẽ trình bày những
luận điểm quan trọng nhất của phương pháp phổ biến hiện nay trong nghiên cứu về an
toàn thực phẩm. Tiếp đến là chương 4 – chương quan trọng nhất của đề tài, sẽ trình bày
những kết quả đạt được trong suốt quá trình nghiên cứu. Nhận thức của người tiêu
dùng đối với thực phẩm GM nói chung và gạo Vàng nói riêng hiện nay như thế nào,
đồng thời tôi cũng khảo sát mức sẵn lòng trả của họ đối với loại gạo biến đổi gen này.
Trên cơ sở đó tiến hành phân tích những yếu tố tác động đến mức sẵn lòng trả. Sau hết,
từ kết quả đạt được, đề tài đi đến kết luận và kiến nghị với mong muốn đóng góp cho
việc phát triển và phổ biến thực phẩm GM tại Việt Nam.
16
Chương 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Lịch sử phát triển TPBĐG trên thế giới
2.1.1. Khái quát về thực phẩm biến đổi gen
Sinh vật biến đổi gen (Genetically Modified Organism - GMO) là những sinh vật
được thay đổi vật liệu di truyền (ADN) bằng công nghệ sinh học hiện đại, hay còn gọi
là công nghệ gen ( trích dẫn bởi Huỳnh Thị Mai, 2011). GMO đã xuất hiện hơn 2 thập
kỷ nay. GMO là sinh vật mà vật liệu di truyền của nó đã bị biến đổi theo ý muốn chủ
quan của con người. Ngoài ra cũng có thể có những sinh vật được tạo ra do quá trình
lan truyền, biến đổi của gen trong tự nhiên. GMO có nhiều loại khác nhau. Nó có thể là
các sinh vật có gen bị biến đổi do tác nhân đột biến nhân tạo như các tia bức xạ hay
hoá chất. Nó cũng có thể là các sinh vật chuyển gen bao gồm động vật, thực vật hay vi
sinh vật, thậm chí là con người. Tuy nhiên, khi nói đến GMO người ta thường đề cập
đến các cơ thể sinh vật mang các gen của một loài khác để tạo ra một dạng chưa hề tồn
tại trong tự nhiên.
Trên 98% số lượng GMO đã được đưa vào môi trường là thực vật biến đổi gen-
GMC ( trích dẫn bởi Huỳnh Thị Mai, 2011). Vi sinh vật biến đổi gene và động vật biến
rừng và khu bảo tồn trên khắp thế giới. Theo ước tính, hàng năm các nước đang phát
triển mất khoảng 13 triệu ha rừng vì các hoạt động nông nghiệp(Clive James, 2008).
2.1.3.1. Góp phần xoá đói giảm nghèo
Thống kê cho thấy 50% những người nghèo nhất trên thế giới là người nông dân ở
các nước đang phát triển, nghèo tài nguyên, 20% còn lại là những người nông dân
không có đất trồng, phụ thuộc hoàn toàn vào nghề nông.Vì thế, tăng thu nhập cho
người nông dân nghèo sẽ đóng góp trực tiếp vào quá trình xoá đói giảm nghèo trên thế
giới, tác động trực tiếp đến 70% người nghèo trên toàn thế giới (Clive James, 2008).
18
Tính đến thời điểm hiện tại, các giống bông và ngô biến đổi gen đã mang lại lợi
nhuận cho hơn 12 triệu nông dân nghèo ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi,
Philippin và số người hưởng lợi sẽ cao hơn trong thập niên thứ hai này. Trong đó việc
tập trung phát triển các giống gạo biến đổi gen có thể mang lại lợi nhuận cho khoảng
250 triệu hộ nông dân nghèo canh tác lúa ở châu Á.
2.1.4.1. Giảm tác hại của các hoạt động nông nghiệp đối với môi trường
Hoạt động nông nghiệp truyền thống của con người có tác động rất lớn với môi
trường. Sử dụng công nghệ sinh học, có thể giảm đáng kể các tác hại đó. Trong thập
niên đầu tiên ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ tiên tiến này đã giúp giảm
lượng lớn thuốc trừ sâu, giảm lượng xăng dầu cần sử dụng trong các hoạt động nông
nghiệp, giảm lượng khí CO2 thải ra môi trường do cày xới đất, bảo tồn đất và độ ẩm
nhờ phương pháp canh tác không cần cày xới, giúp đất trồng hấp thu được một lượng
lớn khí CO2 từ không khí.
2.1.5.1. Tăng hiệu quả sản xuất nhiên liệu sinh học
Công nghệ sinh học có thể giúp tối ưu hoá chi phí sản xuất nhiên liệu sinh học thế
hệ thứ nhất và thứ hai, nhờ tạo ra các giống cây chịu tác động của môi trường (khô hạn,
nhiễm mặn, nhiệt độ khắc nghiệt…) hoặc các tác động của sinh vật (sâu bệnh, cỏ
dại…), nâng cao năng suất thu hoạch của cây trồng, bằng việc thay đổi cơ chế trao đổi
chất của cây. Sử dụng công nghệ sinh học, các nhà khoa học cũng có thể tạo ra những
enzym đẩy nhanh quá trình chuyển hoá của nguyên liệu sản xuất thành nhiên liệu sinh
côn trùng do cây trồng tạo ra và gây thiệt hại cho cây trồng. Giải pháp GMC không bền
vững cho một số vấn đề như kháng sâu bệnh, vì các loại dịch hại này có thể tái xuất
hiện do bản chất di truyền thích ứng với môi trường của chúng.
Cây trồng kháng sâu có khả năng tiêu diệt các loại côn trùng hữu ích khác như
ong, bướm, v.v làm ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn tự nhiên, ảnh hưởng đến đa dạng
sinh học nói chung. Việc trồng GMC đại trà, tương tự như việc phổ biến rộng rãi một
20
số giống năng suất cao trên diện tích rộng lớn, sẽ làm mất đi bản chất đa dạng sinh học
của vùng sinh thái, ảnh hưởng đến chu trình nitơ và hệ sinh thái của vi sinh vật
đất(Clive James, 2008).
2.2.3.1. Đối với môi trường
Nguy cơ đầu tiên là việc GMC mang các yếu tố chọn lọc (chịu lạnh, hạn, mặn hay
kháng sâu bệnh…) phát triển tràn lan trong quần thể thực vật. Điều này làm mất cân
bằng hệ sinh thái và làm giảm tính đa dạng sinh học của loài cây được chuyển gen.
Nguy cơ thứ hai là việc GMC mang các gen kháng thuốc diệt cỏ có thể thụ phấn
với các cây dại cùng loài hay có họ hàng gần gũi, làm lây lan gen kháng thuốc diệt cỏ
trong quần thể thực vật. Việc gieo trồng GMC kháng sâu bệnh trên diện rộng, ví dụ,
kháng sâu đục thân, có thể làm phát sinh các loại sâu đục thân mới kháng các loại
GMC này. Việc sử dụng thuốc trừ sâu sinh học đã cho phép phòng trừ hiệu quả sâu
bệnh, nhưng sau 30 năm sử dụng, một số loại sâu bệnh đã trở nên lờn thuốc ở một vài
nơi.
Nguy cơ cuối cùng là việc chuyển gen từ cây trồng vào các vi khuẩn trong đất.
Tuy nhiên, khả năng xảy ra điều này là vô cùng nhỏ.
2.3. Phát triển cây trồng biến đổi gen tại các khu vực trên thế giới
2.3.1. Châu Mỹ
Hoa Kì
Hoa Kỳ là quốc gia đi đầu trên thế giới trong phát triển GMC và cũng là quốc gia
có diện tích trồng loại cây này lớn nhất thế giới với 62,5 triệu ha, chiếm hơn 50% tổng
diện tích GMC (Clive James, 2008). Các loại cây trồng chuyển gen được trồng ở Mỹ
Tây Ban Nha 0,1 ngô
Cộng hòa Séc <0,1
ngô
Rumania
<0,1 ngô
Bồ Đào Nha
<0,1 ngô
Đức
<0,1 ngô
Balan
<0,1 ngô
Lovakia
<0,1 ngô
Nguồn: Clive James, 2008
2.3.3. Châu Phi
Châu Phi là nơi sinh sống của 900 triệu người, chiếm 14 % (Clive James, 2008)
dân số thế giới. Do ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau làm cho châu lục này có
sản lượng lương thực ngày càng giảm. Điều này dẫn đến nạn đói và suy dinh dưỡng
xuất hiện ở nhiều quốc gia ảnh hưởng đến sức khỏe của một phần ba dân số châu Phi.
Dân số tăng nhanh cùng với việc sản xuất lương thực ngày càng trở nên khó khăn hơn
do biến đổi khí hậu, việc đảm bảo an ninh lương thực tại châu Phi ngày càng khó bảo
toàn hơn. Trong trường hợp này, phát triển công nghệ sinh học-đặc biệt là CNBĐG-có
ý nghĩa quan trọng để tăng năng suất và đảm bảo nguồn cung cấp lương thực ổn định
cho toàn châu lục. Tuy nhiên, đây cũng là châu lục khó ứng dụng công nghệ sinh học
vì những khó khăn về tài chính và khả năng tiếp cận công nghệ. Hiện châu Phi đã có ba
quốc gia chấp thuận và trồng các loại GMC là Nam Phi 1,8 triệu ha, Ai Cập 7000ha,
23
Burkina Faso 8500ha(Clive James, 2008). Điều đặc biệt là cả ba quốc gia này lại phân
bố khá đều trên toàn lục địa châu Phi-Nam Phi ở vùng Đông Nam, Ai Cập ở Bắc Phi,
môi trường và người sử dụng, làm tăng thu nhập của nông dân thêm 220USD/ha, có
khoảng 7,1 triệu người được hưởng lợi từ việc trồng bông biến đổi gen.
2.4. Hiện trạng phát triển thực phẩm biến đổi gen tại Việt Nam.
2.4.1. Tình hình sử dụng thực phẩm biến đổi gen tại Việt Nam
Theo báo cáo khoa học của Trung Tâm Kỹ Thuật Tiêu Chuẩn Đo Lường Chất
Lượng 3 năm 2010 về các loại thực phẩm bày bán trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh có
nhiều sản phẩm biến đổi gen. Cụ thể, trong 323 mẫu thực phẩm gồm: bắp, đậu nành,
khoai tây, cà chua…chọn ngẫu nhiên ở 17 chợ, siêu thị ở Thành Phố thì có đến 111
mẫu thử cho kết quả kiểm nghiệm là TPBĐG. Trong các sản phẩm được bày bán thì
phổ biến nhất là các sản phẩm chế biến từ bắp và đậu nành. Các sản phẩm này được
bày bán xen kẽ với các sản phẩm thông thường và bằng mắt thường người tiêu dùng
không thể nhận biết được. Hiện tại ở Việt Nam đã có một số chế tài quy định về các
loại TPBĐG chính thức cho phép các loại thực phẩm này được tiêu thụ trên thị trường,
tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau nên người tiêu dùng vẫn rất xa lạ. Cũng
theo một cuộc thăm dò nhỏ của phóng viên báo Đất Việt với 52 người tại siêu thị
Maximark ngày 23/10/2010. Đối tượng được thăm dò là sinh viên, người nội trợ, nhân
viên văn phòng, nhân viên kinh doanh trong độ tuổi từ 20-50. Kết quả cho thấy chỉ có
10 người có nghe nói đến TPBĐG chiếm 19,2%, 42 người còn lại-chiếm 80,8%-không
biết bất cứ thông tin gì về loại thực phẩm này. Khảo sát này cũng phản ánh tình hình
chung về nhận thức của người tiêu dùng trước các loại TPBĐG là còn hạn chế.
2.4.2. Hiện trạng phát triển chính sách đối với thực phẩm biến đổi gen tại
Việt Nam
Ngày 25 tháng 4 năm 2012, chính phủ đã ban hành nghị định 38/2012/NĐ-CP
quy định chi tiết một số điều của luật an toàn thực phẩm. Trong đó, lần đầu tiên chính
phủ có quy định rằng tất cả những sản phẩm có mức độ biến đổi gene trên 5% buộc
phải dán nhãn để phân biệt và cho người tiêu dùng tự do lựa chọn sản phẩm. Đồng
25