BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
***************
ĐINH HẢI HÀ
XÁC ĐỊNH MỨC SẴN LÒNG TRẢ VỀ GẠO BIẾN ĐỔI GENGẠO VÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
***************
ĐINH HẢI HÀ
XÁC ĐỊNH MỨC SẴN LÒNG TRẢ VỀ GẠO BIẾN ĐỔI GENGẠO VÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS. PHAN THỊ GIÁC TÂM
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2011
LỜI CẢM TẠ
Sau gần 4 tháng nỗ lực thực hiện, khóa luận tốt nghiệp “Xác Định Mức Sẵn
Lòng Trả Về Gạo Biến Đổi Gen – Gạo Vàng Tại Thành Phố Hồ Chí Minh” cuối
cùng cũng đã hoàn thành. Ngoài sự cố gắng hết mình của bản thân, tôi đã nhận được
sự khích lệ rất nhiều từ phía nhà trường, thầy cô, gia đình và bạn bè.
Trước hết con xin cảm ơn bố mẹ đã luôn động viên và tạo mọi điều kiện tốt
nhất để con học tập và hoàn thành khóa luận này. Thật may mắn và hạnh phúc biết bao
khi con được sinh ra và trưởng thành trong tình yêu thương và sự hy sinh vô bờ bến
của bố mẹ!
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Kinh Tế trường Đại Học Nông Lâm,
TP. Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu cho em
trong suốt quá trình học tập tại trường. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
đến cô Phan Thị Giác Tâm người đã hết lòng quan tâm giúp đỡ em trong suốt quá trình
thực hiện khóa luận này.
Cuối cùng, cho tôi gởi lời cảm ơn đến những bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập. Giờ đây, sắp phải chia tay bạn bè, chia tay thời sinh viên;
những ký ức dù vui, dù buồn...giờ là lúc khẽ xếp lại và đặt nó vào một góc nào đó
trong tim mình. Mong sao cho dòng đời vẫn giữ chúng ta mãi bên nhau!
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07/2011
Sinh Viên
Đinh Hải Hà
NỘI DUNG TÓM TẮT
ĐINH HẢI HÀ. Tháng 07 năm 2011. “XÁC ĐỊNH MỨC SẴN LÒNG TRẢ
VỀ GẠO BIẾN ĐỔI GEN- GẠO VÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”.
ĐINH HẢI HÀ. July 2011. “Willingness to Pay for Gentically Modified Rice
– Golden Rice in Ho Chi Minh City”.
Việc bổ sung vi chất bằng con đường uống, tiêm chưa thể giải quyết được vấn
Danh mục các bảng
viii
Danh mục các hình
ix
Danh mục phụ lục
x
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
1
1.1.
Đặt vấn đề
1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
2
1.2.1. Mục tiêu chung
2
10
2.2.3. Tình hình phát triển của gạo vàng trên thế giới
12
2.3. Tổng quan địa bàn nghiên cứu
12
CHƯƠNG 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
14
3.1. Cơ sở lý luận
14
3.1.1. Khái niệm về công nghệ sinh học và công nghệ biến đổi gen.
14
3.1.2. Sinh vật biến đổi gen, lợi ích và mối lo ngại của sinh vật biến đổi gen.
15
3.1.3. Khái niệm về thực phẩm biến đổi gen, lợi ích và mối lo ngại của thực phẩm
biến đổi gen
19
31
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
34
4.1. Đặc điểm chung về kinh tế xã hội của mẫu điều tra
34
4.2. Thực trạng sử dụng thực phẩm biến đổi gen ở thành phố Hồ Chí Minh
36
4.3. Đánh giá nhận thức và tình hình sử dụng của người tiêu dùng về thực phẩm biến
đổi gen và về gạo vàng
39
4.3.1. Quan điểm của người tiêu dùng về việc áp dụng công nghệ sinh học trong
sản xuất thực phẩm
39
4.3.2. Đánh giá hiểu biết của người tiêu dùng về thực phẩm biến đổi gen và gạo
vàng
41
4.3.3. Tình hình sử dụng thực phẩm biến đổi gen
4.5. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả
50
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
53
5.1. Kết luận
53
5.2. Kiến nghị
54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
55
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATTP
An Toàn Thực Phẩm
TPBĐG
Thực Phẩm Biến Đổi Gen (Gentically Modified Food)
TPHCM
Thành Phố Hồ Chí Minh
WTP
Mức sẵn lòng trả (Willingness To Pay)
VN
Việt Nam
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Quy Định của Một Số Quốc Gia Trên Thế Giới về TPBĐG
9
Bảng 4.1. Một Số Đặc Điểm Kinh Tế Xã Hội của Người Trả Lời
34
Bảng 4.2. Thống Kê Nghề Nghiệp của Người Được Phỏng Vấn
Bảng 4.11. Thống Kê Lý Do Không Sẵn Lòng Mua
47
Bảng 4.11. Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Logit
48
Bảng 4.12. Giá Trị Trung Bình của Các Biến Trong Mô Hình
50
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Diện Tích Cây Trồng Biến Đổi Gen Trên Thế Giới từ 1996-2008
Hình 3.1. Cơ Chế Tạo Beta – Caroten
7
21
Hình 4.1. Biểu Đồ Thể Hiện Tỷ Lệ Người Tiêu Dùng Khi Chọn Mua Hình Thức của
Sản Phẩm
37
Hình 4.2. Biểu Đồ Thể Hiện Sản Phẩm GMO Trong Các Mẫu Phân Tích của Trung
Tâm Đo Lường 3
của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trên thế giới có khoảng 3 triệu trẻ em bị khô mắt
(tổn thương mắt do thiếu Vitamin A dẫn đến mù lòa) và có tới 251 triệu trẻ bị thiếu
Vitamin A nhưng chưa tới mức bị khô mắt (thiếu Vitamin A cận lâm sàng). Tại Việt
Nam, hàng năm có khoảng 5000- 6000 trẻ em bị mù hoàn toàn do thiếu Vitamin A. Bổ
sung vi chất bằng đường uống, tiêm chưa thể giải quyết được vấn đề này. Ngày nay,
với những tiến bộ của khoa học công nghệ nhiều giống cây trồng với những tính năng
vượt trội được tạo ra cho năng suất cao hơn, có khả năng chống sâu bệnh, chống cỏ
dại, giảm thiểu việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp và đặc biệt có hàm lượng vi
chất dinh dưỡng cao. Các nhà khoa học tin rằng các loại cây trồng biến đổi gen có khả
năng giải quyết vấn đề này, đặc biệt gạo vàng hay “golden rice” có thể cung cấp lượng
vitamin A rất cao cho cơ thể.
Gạo vàng là sản phẩm của công nghệ biến đổi gen. Đó là khám phá lớn của
ngành nghiên cứu lúa gạo trên thế giới vào đầu thế kỷ 21. Hiện nay, các nước đang
phát triển không còn lo sợ vấn đề thiếu vi chất đặc biệt thiếu vitamin A ở trẻ em vì đã
có một sản phẩm có thể cung cấp lượng vitamin A dồi dào cho người sử dụng. Nhưng
gạo vàng lại chưa được sử dụng rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Có nhiều
nguyên nhân: thứ nhất do gạo vàng mới chỉ được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm,
mặt khác để tạo ra loại gạo này cần nhiều thời gian và chi phí cao hơn, thứ hai do
nhiều người còn lo sợ sử dụng các loại thực phẩm biến đổi gen sẽ gây đột biến và do
thói quen người tiêu dùng từ trước tới nay họ thường sử dụng gạo trắng. Như vậy để
xác định xem nhận thức của người tiêu dùng về thực phẩm biến đổi gen nói chung và
gạo vàng nói riêng như thế nào. Đồng thời xem thái độ người tiêu dùng đối với sản
phẩm gạo vàng ra sao. Đặc biệt mức sẵn lòng trả cho gạo vàng là bao nhiêu khi sản
phẩm này có mặt trên thị trường. Vì Vậy tác giả thực hiện đề tài “xác định mức sẵn
lòng trả về gạo biến đổi gen- gạo vàng tại thành phố Hồ Chí Minh”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Xác định mức sẵn lòng trả về gạo biến đổi gen – gạo vàng tại thành phố Hồ Chí
nghĩa của việc chọn lựa đề tài. Đồng thời cũng đề ra mục tiêu chính và mục tiêu cụ thể
mà khóa luận cần phải đạt được. Tiếp đến là phần tổng quan tài liệu. Đây là phần quan
2
trọng trong nghiên cứu, nó cho biết những phương pháp và những nghiên cứu đã được
thực hiện trước đây có liên quan đến đề tài mà tác giả đang nghiên cứu. Từ đó, tác giả
đưa ra cái mới và khác trong nghiên cứu của mình. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu,
người nghiên cứu phải có cơ sở lý thuyết, những phương pháp nghiên cứu phù hợp với
mục tiêu. Vì vậy, bài nghiên cứu sẽ trình bày đầy đủ những lý thuyết, và phương pháp
thực hiện ở chương 3. Tiếp đến, bài nghiên cứu sẽ trình bày nội dung quan trọng nhất,
đó là kết quả đạt được trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài. Phần này sẽ cho người
đọc biết được các loại thực phẩm biến đổi gen trên thị trường hiện nay như thế nào.
Xác định mức sẵn lòng trả cho gạo biến đổi gen- gạo vàng. Đồng thời xác định các
nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của người dân thành phố về sản phẩm này. Và
cuối cùng, từ kết quả đạt được khóa luận sẽ đi đến kết luận và kiến nghị.
3
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1. Tổng quan nghiên cứu liên quan mức sẵn lòng trả cho thực phẩm
Sự quan tâm của người tiêu dùng đối với tính an toàn của sản phẩm ảnh hưởng
đến mức giá của sản phẩm đó. Những nghiên cứu trên thế giới trong lĩnh vực thực
phẩm từ trước đến nay tập trung vào nghiên cứu các sản phẩm biến đổi gen. Vì các
loại thực phẩm này đang là một vấn đề nóng bỏng hiện nay. Một vài nghiên cứu về
vấn đề này như:
Việc ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) trong nông nghiệp đã có bước đột
Ngược lại, Quan Li và ctv (2002) đã nghiên cứu quan điểm của người tiêu dùng
đối với các thực phẩm biến đổi gen tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Đề tài phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng cho các sản phẩm biến đổi
gen và ước lượng mức sẵn lòng trả trung bình cho các sản phẩm gạo và dầu đậu nành
biến đổi gen. Tác giả sử dụng phương pháp CVM để đánh giá mức sẵn lòng trả hoặc
giảm giá khi mua các sản phẩm gạo và dầu đậu nành. Cụ thể sử dụng phương pháp
Double- bounded dichotomous choice để hỏi mức sẵn lòng trả. Các yếu tố ảnh hưởng
đến mức sẵn lòng trả gồm: số thành viên trong gia đình dưới 18 tuổi (Children), trình
độ học vấn (Education), mối quan tâm hiểu biết của người tiêu dùng về công nghệ sinh
học (Knowledge), thu nhập (Income), tuổi (Age), quan điểm của người được phỏng
vấn về áp dụng công nghệ sinh học để sản xuất thực phẩm (Opinion). Kết quả cho thấy
biến Opinion, Knowledge ảnh hưởng rất lớn đối với mức sẵn lòng trả đối với 2 sản
phẩm này. Biến Age cũng có ý nghĩa nhưng ít ảnh hưởng đến WTP. Biến Education,
Income, Children không có ý nghĩa trong mô hình vì họ cho rằng những hiểu biết và
kinh nghiệm của họ sẽ tốt hơn so với việc giải thích và vấn đề dân số xã hội. Kết quả
ước lượng WTP không giống như các nghiên cứu tương tự ở những nước khác. Mức
sẵn lòng trả trung bình của gạo biến đổi gen là tăng 38% so với sản phẩm gạo không
biến đổi gen, và đối với dầu đậu nành là 16,3%. Điều này không ngạc nhiên bởi vì có
61,6% người tiêu dùng cho rằng đồng ý sử dụng công nghệ sinh học trong thực phẩm
và 52,5% người tiêu dùng cảm thấy là ít hoặc không rủi ro khi sử dụng thực phẩm biến
5
đổi gen. Đồng thời chỉ có 9,3% người tiêu dùng không thích sử dụng thực phẩm có
biến đổi gen và 7,8% người tiêu dùng cho là rủi ro cao về thực phẩm này. Tác giả đã
đưa ra lý do vì sao kết quả nghiên cứu này lại khác biệt so với những nước khác như
vậy. Thứ nhất, do lịch sử nền văn hóa. Thứ hai, là do có sự khác biệt từ thực tế và tình
huống giả định của bảng câu hỏi đó là sản phẩm có biến đổi gen tăng thêm vitamin.
Thứ ba, Trung Quốc là một quốc gia ủng hộ mạnh mẽ về việc nghiên cứu công nghệ
sinh học. Thứ tư, đây cũng là nghiên cứu đầu tiên được tiến hành ở Trung Quốc và là
trồng cây biến đổi gen, góp phần vào sự tăng trưởng rộng khắp toàn cầu và gia tăng
đáng kể tổng diện tích trồng cây biến đổi gen trên toàn thế giới từ 1,7 triệu ha năm
1996 lên 125 triệu ha năm 2008 tăng gấp 73,5 lần. Đến năm 2008, tổng diện tích đất
trồng GMC (Gentically Modified Crop) trên toàn thế giới từ trước tới nay đã đạt 800
triệu ha (Huỳnh Thị Mai, 2009). Tính đến năm 2009, số nước trồng cây biến đổi gen là
29 nước. Đặc biệt trong năm 2010, diện tích cây trồng biến đổi gen tăng 14 triệu ha đạt
148.000.000 ha. Nếu tính theo tính trạng diện tích tăng từ 180 triệu ha năm 2009 đến
205 triệu ha trong năm 2010 (H.Đ, 2011).
Mỹ là quốc gia ủng hộ mạnh mẽ nhất việc trồng cây biến đổi gen và chiếm tỷ
trọng 68%, tiếp đó là Argentina, Canada và Trung Quốc lần lượt chiếm tỷ trọng 23%,
7% và 1%. Các nước mới bắt đầu tham gia vào lĩnh vực này là Australia, Bulgaria,
Pháp, Đức, Mexico, Rumani, Nam Phi, Tây Ban Nha và Uruguay. Trong các loại cây
trồng thì đỗ tương và ngô là hai loại cây được trồng nhiều nhất chiếm 82%, sau đó là
khoai tây và bông (Khánh Hà, 2004).
Hình 2.1. Diện Tích Cây Trồng Biến Đổi Gen Trên Thế Giới từ 1996-2008
Nguồn: Clive James, 2008
7
Mặc dù, diện tích đất trồng và số nước trồng GMC tăng lên dữ dội trên toàn
cầu, đặc biệt là các nước thuộc EU. Tuy nhiên, việc sử dụng GMO và sản phẩm của
chúng ở EU đang dè dặt và rất thận trọng ở các quốc gia này.
b) Vấn đề quản lý sản phẩm biến đổi gen trên thế giới
Hiện nay, việc quản lý các sinh vật biến đổi gen trên toàn cầu được quy định
bằng Nghị định thư An toàn sinh học Cartagena (Liên hiệp Quốc ban hành và có hiệu
lực từ ngày 11/9/2003). Đây là văn bản đầu tiên trên thế giới xác định các sinh vật biến
đổi gen là khác biệt so với các sinh vật thông thường khác, vì vậy cần có các biện pháp
quản lý riêng biệt. Một trong những điểm chính của Nghị định là việc quản lý sự lưu
chuyển gen trong thực phẩm
(%)
Châu Âu
Bắt buộc
0,9
Úc và New Zealand
Bắt buộc
1
Nhật Bản
Bắt buộc
5
Hàn Quốc
Bắt buộc
3
Mỹ
không bắt buộc
-
Chỉ thị 98/81/EC (Council Directive 98/81/EC)
-
Quy định 258/97 (EC) (Regulation (EC) No 258/97)
-
Quy định 1829/2003 (EC) (Regulation (EC) No 1829/2003)
-
Quy định 1830/2003 (EC) (Regulation (EC) No 1830/2003)
Các văn bản này quản lý và quy định việc thử nghiệm và cấp phép thương mại
các sinh vật biến đổi gen rất chặt chẽ, đặc biệt những mức ngưỡng mới, nhỏ hơn cho
việc dán nhãn đã được quy định trong thời gian gần đây. Mức ngưỡng 1% cũ cho tỷ lệ
gen chuyển nạp của những sản phẩm GMO đã được cấp phép đã giảm xuống ở mức
9
0,9%. Thêm vào đó, đối với những sản phẩm biến đổi gen chuẩn bị được cấp phép, tỷ
lệ gen chuyển nạp được quy định là 0,5%. Cộng đồng Châu Âu xác định người tiêu
dùng có quyền được thông tin và việc dán nhãn như là một công cụ để có sự lựa chọn
chính xác. Từ năm 1997, việc dán nhãn để thông báo sự hiện diện của GMO hay thực
phẩm biến đổi gen là bắt buộc. Vì những lý do đó, Châu Âu xác định sự cần thiết phải
phát triển các phương pháp phân tích. Chúng không chỉ phát hiện sự hiện diện có thể
xảy ra của GMO trong thực phẩm mà còn giúp xác định một sản phẩm biến đổi gen
Hoàng Hà và cộng sự (Phòng Công nghệ sinh học Tế bào Thực vật, Viện Công nghệ
sinh học) đã tạo được cây thuốc lá kháng bệnh; các nhà khoa học Viện Lúa ĐBSCL
cũng đã thu được kết quả bước đầu với giống đậu tương biến đổi gen có đặc tính
kháng sâu cao hơn giống thông thường… Nhưng tất cả vẫn còn ở trong phòng thí
nghiệm, trừ cây ngô kháng sâu vừa được quyết định đem trồng khảo nghiệm ngoài
đồng ruộng và được trồng trên nhiều tỉnh thành trong cả nước. Các giống ngô biến đổi
gen mang gen Bt được trồng lẫn với ngô bình thường tại TP.HCM, Đồng Nai, Bình
Dương. Nhiều người dân ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cũng trồng bông biến đổi
gen một cách tự phát. Ngoài ra tại đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh của miền
Bắc đã có tình trạng nhập giống lúa biến đổi gen từ biên giới về bán lại cho hộ nông
dân gieo trồng. Đến đầu năm 2011 các giống ngô biến đổi gen trên sẽ được trồng rộng
ở cả 2 miền Nam và Bắc. Và dự kiến sẽ thương mại hóa sản phẩm bắp biến đổi gen từ
cuối năm 2011, đầu năm 2012.
b) Vấn đề thương mại hóa và kiểm soát sinh vật biến đổi gen tại Việt Nam
Ở nước ta, các giống nông sản được trồng hiện nay như: bắp, đậu nành, bông
vải, đa phần là các giống nước ngoài. Hầu hết chúng đều có năng suất cao, chất lượng
tốt nhưng chúng cũng mang một số tính trạng nghi ngờ là chuyển gen như: kháng
thuốc diệt cỏ, hạt giống không sử dụng được cho vụ sau. Vấn đề là do chưa có một văn
bản pháp luật kiểm soát chính thức nên vấn đề quản lý gặp rất nhiều khó khăn. Mặt
khác, do không có sự thông tin đầy đủ dẫn đến hiện tượng người nông dân trồng tràn
lan các giống nông sản gây ra tình trạng lẫn lộn giữa các giống chuyển gen và không
chuyển gen. Đồng thời, việc thiếu một văn bản pháp lý hoàn chỉnh cũng gây ra không
ít khó khăn khi ta muốn xuất khẩu nông sản sang các nước khác, đặc biệt là thị trường
Châu Âu, vốn đòi hỏi rất khắt khe về vấn đề này.
Nhận thức được điều đó, nước ta đã tích cực hợp tác với quốc tế trong vấn đề
an toàn sinh học và xây dựng bộ luật riêng ở Việt Nam. Vào tháng 2/2002, nước ta là
một trong 10 nước tham gia vào dự án: “xây dựng năng lực an toàn sinh học cho các
giống cây trồng biến đổi di truyền (GM) tại Châu Á” do chính phủ Nhật Bản tài trợ
11
12
sản phẩm biến đổi gen. Các đầu mối chuyên nhập khẩu bắp, đậu nành hạt… vào thành
phố Hồ Chí Minh cho biết mỗi tháng có hàng tấn đậu nành và bắp được nhập về.
Ngoài việc phục vụ cho ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi, một số lượng lớn đậu
nành, khoai tây… nhập khẩu còn được dùng làm thực phẩm chế biến và sử dụng trực
tiếp. Ông Nguyễn Quốc Bình cho biết có đến 99% hạt đậu nành nhập khẩu từ Mỹ,
Argentina… là sản phẩm biến đổi gen. Và như vậy cũng có nghĩa rằng rất nhiều sản
phẩm chế biến khác như: sữa đậu nành, dầu thực vật, nước tương, đậu hũ…sử dụng
nguồn nguyên liệu nhập khẩu đều được chế biến từ công nghệ biến đổi gen. Theo khảo
sát từ trung tâm đo lường chất lượng 3 qua khảo sát 17 chợ và siêu thị tại thành phố thì
siêu thị metro cash có tỷ lệ thực phẩm biến đổi gen cao nhất trong nhóm các siêu thị
được lấy mẫu, chợ Bà Chiểu đứng đầu danh sách các chợ bán thực phẩm biến đổi gen.
Nằm trong top những sản phẩm biến đổi gen bày bán nhiều nhất tại TPHCM là bắp và
các sản phẩm chế biến từ bắp, đậu nành và những sản phẩm chế biến từ đậu nành,
ngoài ra còn có khoai tây, cà chua và gạo biến đổi gen.
Trong danh sách những mặt hàng bắp biến đổi gen, có cả bắp Mỹ, bắp trái non,
bắp non đóng hộp, bột bắp, bắp giống có nguồn gốc trong nước và nước ngoài (Hàn
Quốc, Mỹ, Thái Lan, Indonesia…). Đặc biệt, các sản phẩm sữa bắp cũng được làm từ
nguyên liệu là dòng bắp biến đổi gen. Các sản phẩm có nguồn gốc từ đậu nành như
sữa bột, sữa nước đóng chai, đậu hũ lụa cao cấp, dầu ăn đậu nành của một số công ty,
trong đó có cả những sản phẩm quảng cáo an toàn cho người tiêu dùng cho kết quả
kiểm nghiệm: được chế biến từ đậu nành biến đổi gen.
13
CHƯƠNG 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU