BÀI THẢO LUẬN:
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
MÔN: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 1
LỚP: NH49A
Thị trường chứng khoán - Công ty chứng khoán
Thị trường chứng khoán - Công ty chứng khoán
I/ KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.Khái niệm
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các
nghiệp vụ trên thi trường chứng khoán.
Ở Việt Nam, theo quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13 tháng 10 năm
1998 của UBCKNN, CTCK là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thành
lập hợp pháp tại Việt Nam, được UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một
số loại hình kinh doanh chứng khoán.
2.Phân loại công ty chứng khoán
Căn cứ vào mô hình hoạt động công ty chứng khoán có thể chia thành:
2.1.Công ty chuyên doanh chứng khoán
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc
lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận; các ngân hàng không
được trực tiếp tham gia kinh doanh chứng khoán.
Ưu điểm của mô hình này:
- Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng.
- Tạo điều kiện cho TTCK phát triển do tính chuyên môn hóa cao hơn.
Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước như Mỹ, Nhật, Canada…
2.2. Công ty đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ
thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ.
Mô hình này có ưu điểm là ngân hàng có thể đa dạng hóa, kết hợp nhiều lĩnh
vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung, khả năng
chịu đựng các biến động của TTCK là cao. Mặt khác, ngân hàng tận dụng được thế
c) Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam;
d) Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam.
Trường hợp CTCK xin cấp phép cho nhiều loại hình kinh doanh thì vốn
pháp định là tổng số vốn pháp định của từng loại hình riêng lẻ.
3
- Điều kiện vè nhân sự: những người quản lý hay nhân viên giao dịch cuẩ
công ty phải đáp ứng các yêu cầu về kiến thức, trình độ chuyên môn và kinh
nghiệm, cũng xnhư mứ độ tín nhiệm, tính trung thực.
- Điều kiện về cơ sở vật chất: các tổ chức và cá nhân sang lập CTCK phải
đảm bảo yêu cầu cơ sở vật chất tối thiểu cho CTCK.
- Ở Việt Nam các CTCK muốn được cấp giấy phép phải đáp ứng thêm các
điều kiện sau đây:
+) Có phương án hoạt động kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội và phát triển ngành chứng khoán.
+) Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho việc kinh doanh chứng
khoán.
+) Giám đốc (TGĐ), các nhân viên kinh doanh (không kể nhân viên kế toán,
văn thư hành chính, thủ quỹ) của CTCK phải có giấy phép hành nghề chứng khoán
do UBCKNN cấp.
3.2. Thủ tục thành lập
Hồ sơ xin cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán đối với công ty chứng
khoán 100% vốn trong nước bao gồm:
- Đơn xin cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán.
- Phương án kinh doanh dự kiến trong 3 năm đầu.
- Điều lệ công ty.
- Bản thuyết trình cơ sở vật chất, kỹ thuật và phương tiện phục vụ hoạt động
kinh doanh chứng khoán.
- Biên bản góp vốn của các cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần, của
thành viên sáng lập đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên
hoặc quyết định giao vốn của chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một
chấp thuận.
4. Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán
4.1. Môi giới chứng khoán
Là một hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán trong đó công ty
chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao
dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải
chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán phải mở tài khoản
giao dịch chứng khoán và tiền cho từng khách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa
khách hàng và công ty.
5
Trong trường hợp khách hàng của công ty chứng khoán mở tài khoản lưu ký
chứng khoán tại tổ chức lưu ký là ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, công ty chứng khoán có trách nhiệm hướng dẫn các thủ tục giao dịch,
mua bán cho khách hàng và phải ký hợp đồng bằng văn bản với tổ chức lưu ký.
Tiền hoa hồng môi giới thường được tính phần trăm trên tổng giá trị của một giao
dịch.
Tùy theo quy định cua mỗi nước, cách thức hoạt động của từng Sở giao dịch
chứng khoán mà người ta có thể phân chia thành nhiều loại nhà môi giới khác nhau
như sau:
4.1.1. Môi giới dịch vụ (Full Service Broker)
Là loại môi giới có thể cung cấp đầy đủ dịch vụ như mua bán chứng khoán,
giữ hộ cổ phiếu, thu cổ tức, cho khách hàng vay tiền, cho vay cổ phiếu để bán trước,
mua sau và nhất là có thể cung cấp tài liệu, cho ý kiến cố vấn trong việc đầu tư.
4.1.2. Môi giới chiết khấu ( Discount Broker)
Là loại môi giới chỉ cung cấp một số dịch vụ như mua bán hộ chứng khoán.
Đối với môi giới loại này thì khoản phí và hoa hồng nhẹ hơn môi giới toàn dịch vụ
vì không có tư vấn, nghiên cứ thị trường.
4.1.3. Môi giới ủy nhiệm hay môi giới thừa hành
Đây là những nhân viên của một công ty chứng khoán thành viên của một Sở
- Khi tiến hành nghiệp vụ tự doanh, công ty chứng khoán không được:
+ Đầu tư vào cổ phiếu của công ty có sở hữu trên 50% vốn điều lệ của công
ty chứng khoán.
+ Đầu tư vượt quá 20% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức
niêm yết.
+ Đầu tư quá 15% số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức không niêm
yết.
Hoạt động tự doanh hiện nay được xem là một trong những hoạt động quan
trọng nhất của các công ty chứng khoán tại Việt nam trong việc nâng cao lợi nhuân.
Tuy nhiên, do nghiệp vụ tự doanh và môi giới dễ nảy sinh xung đột lợi ích nên các
nước thường quy định các công ty chứng khoán phải tổ chức thực hiện 2 nghiệp vụ
ở 2 bộ phận riêng biệt nếu công ty chứng hoán đó được thực hiện cả 2 nghiệp vụ.
4.3. Nghiêp vụ quản lý danh mục đầu tư
- Là hoạt động quản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua, bán, và nắm
giữ các chứng khoán vì quyền lợi khách hàng theo hợp đồng được ký kết giữa công
ty chứng khoán và khách hàng.
7
- Nghiệp vụ này đươc thực hiện khi một số nhà đầu tư tổ chức hoặc cá nhân
muốn tham gia TTCK nhưng họ không có đủ điều kiện về thời gian hoặc kiến thức
chuyên môn để quyết định đầu tư, vì vậy, họ ủy thác cho công ty chứng khoán đầu
tư kèm theo thỏa thuận lãi, lỗ. Người ủy thác đầu tư thường không can dự vào việc
đầu tư của công ty chứng khoán và trả một khoản phí cho công ty chứng khoán theo
thỏa thuận.
- Các công ty chứng khoán khi thực hiệp nghiệp vụ này ngoài việc được
hưởng phí quản lý, họ còn có thể nhận được những khoản tiền thưởng nhất định khi
mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư.
- Khi thực hiện quản lý danh mục đầu tư, công ty chứng khoán phải quản lý
tiền và chứng khoán cho từng khách hàng ủy thác và sử dụng tiền trong tài khoản
theo đúng các điều kiện quy định trong hợp đồng đã ký kết. Hợp đồng phải xác định
rõ mức độ ủy quyền của khách hàng cho công ty chứng khoán và điều quan trọng
tư. Đây là phương thức bảo lãnh tương đối hiệu quả, vừa bảo vệ lợi ích cho tổ chức
phát hành, vừa hạn chế rủi ro cho tổ chức bảo lãnh.
Riêng tại Việt Nam hiện nay chỉ áp dụng hình thức bảo lãnh với cam kết
chắc chắn nhằm mục đích bảo vệ của nhà đầu tư và gắn kết trách nhiệm của các
công ty chứng khoán. Điều này gây ra một số khó khăn cho các công ty chứng
khoán trong việc triển khai nghiệp vụ này.
4.5. Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán
Là dịch vụ mà công ty chứng khoán cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực
tư vấn đầu tư chứng khoán; tư vấn tái cơ cấu tài chính, chia, tách, sáp nhập, hợp
nhất doanh nghiệp; tư vấn cho doanh nghiệp trong việc phát hành và niêm yết
chứng khoán.
Đây là nghiệp vụ mà vốn của nó chính là kiến thức chuyên môn, kinh
nghiệm nghề nghiệp của đội ngũ chuyên viên tư vấn của công ty chứng khoán.
· Tư vấn tài chính (Tư vấn cho người phát hành):
Đây là một mảng hoạt động quan trọng mang lại nguồn thu tương đối cao
cho công ty chứng khoán. Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán phải
ký hợp đồng với tổ chức được tư vấn và liên đới chịu trách nhiệm về nội dung trong
hồ sơ xin niêm yết. Hoạt động này tương đối đa dạng bao gồm:
+ Xác định giá trị doanh nghiệp: là việc định giá các tài sản hữu hình và vô
hình của doanh nghiệp trước khi chào bán chứng khoán.
9
+ Tư vấn về loại chứng khoán phát hành: tùy theo điều kiện cụ thể của từng
doanh nghiệp như tình hình tài chính, chiến lược phát triển của công ty… mà xác
định loại chứng khoán phát hành là cổ phiếu hay trái phiếu.
+ Tư vấn chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiêp…: khi một doanh
nghiệp muốn thâu tóm hay hợp nhất với một doanh nghiệp khác, họ tìm đến các
công ty chứng khoán để nhờ trợ giúp về các vấn đề kỹ thuật, phương pháp tiến hành
sao cho phù hợp và đỡ tốn chi phí…
+ Tư vấn đầu tư chứng khoán: là việc các chuyên viên tư vấn sử dụng kiến
thức chuyên môn của mình để tư vấn cho nhà đầu tư về thời điểm mua bán chứng
đươc diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, dễ dàng. Mặt khác, nó hạn chế rủi ro cho
người nắm giữ chứng khoán như rủi ro bị hỏng, rách, thất lạc chứng chỉ chứng
khoán…
- Cho vay cầm cố chứng khoán: là một hình thức tín dụng mà trong đó người
đi vay dùng số chứng khoán sở hữu hợp pháp của mình làm tài sản cầm cố để vay
kiếm tiền nhằm mục đích kinh doanh, tiêu dùng…
- Cho vay bảo chứng: là một hình thức tín dụng mà khách hàng vay tiền để
mua chứng khoán, sau đó dùng số chứng khoán mua được từ tiền vay để làm tài sản
cầm cố cho khoản vay.
- Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán: là việc công ty chứng khoán ứng
trước tiền bán chứng khoán của khách hàng được thực hiện tại TTGD
5. Vai trò của công ty chứng khoán
5.1. Vai trò làm cầu nối giữa cung - cầu chứng khoán
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian tham gia hầu hết
vào quá trình luân chuyển của chứng khoán: từ khâu phát hành trên thị trường sơ
cấp đến khâu giao dịch mua bán trên thị trường thứ cấp.
-Trên thị trường sơ cấp
+ Công ty chứng khoán là cầu nối giữa nhà phát hành và nhà đầu tư, giúp các
tổ chức phát hành huy động vốn một cách nhanh chóng thông qua nghiệp vụ bảo
lãnh phát hành.
+ Công ty chứng khoán với nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệp nghề nghiệp
và bộ máy tổ chức thích hợp, họ thực hiện tốt vai trò trung gian môi giới mua bán,
phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cả
người đầu tư và người phát hành. Với nghiệp vụ này, CTCK thực hiện vai trò làm
cầu nối và là kênh dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu.
-Trên thị trường thứ cấp
11
Công ty chứng khoán là cầu nối giữa các nhà đầu tư, là trung gian chuyển
các khoản đầu tư thành tiền và ngược lại. CTCK với nghiệp vụ môi giới, tư vấn đầu
tư đảm nhận tốt vai trò chuyển đổi này, giúp cho các nhà đầu tư giảm thiều thiệt hại