tiểu luận Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản thế kỉ XX - Pdf 26

Bài tiểu luận Chuyên đề: Chủ nghĩa tư bản thế kỷ
XX

PHẦN MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa tư bản là một hình thái ý thức xã hội ra đời và tồn tại sau
hình thái phong kiến. Bên cạnh những mặt hạn chế, tiêu cực chủ nghĩa tư bản
gõy ra cho con người thì chủ nghĩa tư bản cũng có những đóng góp nhất định
trên lĩnh vực kinh tế, thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng tiến bộ. Chủ
nghĩa tư bản ra đời từ thế kỉ XV cho đến nay đã trải qua ba thời kì phát triển :
chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, chủ nghĩa tư bản độc quyền tư nhõn, chủ
nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Thế kỉ XX là giai đoạn chủ nghĩa tư bản
thực hiện hai cuộc biến chuyển lớn từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang
chủ nghĩa tư bản độc quyền và độc quyền tư nhõn bắt đầu chuyển sang giai
đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.
Chủ nghĩa tư bản Nhật Bản thế kỉ XX cũng vừa mang những đặc điểm
chung của chủ nghĩa tư bản thế giới vừa mang những đặc điểm riêng biệt.
Thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản Nhật Bản trải qua bốn giai đoạn phát triển : cuối
thế kỉ XIX đến 1917, giai đoạn hai từ 1917 đến 1945, giai đoạn ba từ 1945
đến 1973, giai đoạn bốn từ 1973 đến cuối XX.
Vậy đặc điểm của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản như thế nào? thể hiện ra
sao trong từng giai đoạn? Đề tài “ Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản
thế kỉ XX” sẽ góp phần làm sáng rừ vấn đề này.
Trong những năm gần đõy, có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về lịch
sử Nhật Bản. Có rất nhiều cuốn sách như “ Lịch sử Nhật Bản” của Phan
Ngọc Liên ; “ Chớnh sách kinh tế Nhật Bản” của G.C. Ailen 2 tập, xuất bản
năm 1988; “ Kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh : Sự phát triển và cơ cấu” ba
tập, “ Kinh tế chớnh trị Nhật Bản”, “ Kinh tế chớnh trị Nhật Bản sau chiến
tranh thế giới” (Phạm Hưng Long, xb năm 1922)… Nhưng tất cả các cuốn
sách này chủ yếu chỉ đề cập đến tình hình kinh tế, chớnh trị, xã hội Nhật Bản
mà chưa có cuốn sách nào đề cập đến đặc điểm của chủ nghĩa tư bản Nhật
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Khoa

toàn diện. Cuộc cải cách này làm cho Nhật Bản từ một nước nông nghiệp lạc
hậu trở thành một nước tư bản có một nền công nghiệp phát triển và hiện đại.
Những thay đổi về cơ chế chớnh quyền và sự ra đời của hiến pháp đã
hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Từ những năm 70 đặc biệt là từ
giữa những năm 80 trở đi, nền kinh tế Nhật bản phát triển vượt bậc, với tốc
độ như Lênin nhận xét rằng sau 1874, Đức phát triển nhanh hơn Anh và Pháp
ba, bốn lần; Nhật Bản phát triển nhanh hơn Nga chín, mười lần.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông sản và lúa gạo tăng hơn trước rất
nhiều. Sở dĩ như vậy vì ruộng lúa được tự do mua bán, chủ đất được phát thẻ
ruộng, người canh tác được tự do gieo trồng những gì cần thiết phục vụ cho
nhu cầu sinh hoạt và trao đổi trên thị trường. Điều này đã kích thích nông dân
tăng diện tích gieo trồng, cải tiến công cụ, cải tiến kĩ thuật để tăng năng suất.
Tuy nhiên, nhiều nông dân chỉ có mảnh đất nhỏ mà vẫn đóng thuế nặng. Đó là
nguyên nhân làm cho nông nghiệp phát triển không kịp với công nghiệp.
Trong ngành công nghiệp, vào thời gian đầu, Nhật Bản thiếu vốn, kĩ
thuật, phải vay các nước tư bản và dựa vào nguồn thu nhập nông nghiệp, nên
sức mạnh không nhiều. Sau cuộc chiến tranh Trung - Nhật 1894, nước Nhật
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Khoa
Lịch sử
3
Bài tiểu luận Chuyên đề: Chủ nghĩa tư bản thế kỷ
XX

đã giành được thời cơ thuận lợi bởi Nhật để phát triển số tiền bồi thường
chiến tranh khoảng 345 triệu yên giúp Nhật có số vốn đầu tư cơ bản ban đầu
được ưu tiên dùng vào phát triển công nghiệp quõn sự. Năm 1896, Nhật xõy
dựng khu liên hợp sắt thép Yaita lớn nhất nước Nhật với số vốn 19 triệu yên.
Ở công xưởng pháo binh Ôsaka đã có lò luyện thép với kĩ thuật hiện đại,
xưởng thuốc nổ đac sản xuất loại thuốc nổ không có khói.
Ngành công nghiệp nhẹ cũng sớm phát triển đặc biệt là ngành xe sợi và

động cơ hơi nước tăng gấp đôi.
Về ngoại thương, ngạch xuất khẩu 1893 là 89 triệu yên, năm 1913 tăng
lên 632 triệu. Ngạch nhập khẩu năm 1893 là 88 triệu yên, năm 1923 là 729
triệu yên.
Do sự phát triển kinh tế như vậy, nên Nhật Bản trở thành một cường
quốc thê giới vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thu nhập quốc dõn tăng 3
lần từ 1890 đến 1912 và Nhật Bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ
nghĩa. Nhiều tổ chức độc quyền ra đời, các tổ chức liên hiệp giữa các ngành
xuất hiện. Năm 1885 ra đời tổ chức liên hiệp giữa các ngành đóng tàu với
nghành vận tải - Hội bưu thuyền Nhật Bản. Năm 1889, thành lập Hội dệt Đại
Nhật Bản. Những công ty này cạnh tranhy mạnh mẽ có hiệu quả với hàng
ngoại đang tràn vào Nhật Bản do thuế quan thấp. Năm 1907, ngành sản xuất
vải lụa có 66 công ty độc quyền. Trong ngành dệt cũng xuất hiện những
tơrơt. Riêng công ty “ đế quốc” đã chiếm 90 % số vốn. Trong các ngành sản
xuất đường, giấy, rượu, xà phòng… đều xuất hiện các công ty độc quyền.
Tư bản ngõn hàng ở Nhật cũng nhanh chóng tập trung. Vào đầu thế kỉ
XX tập trung ngõn hàng Mitsui, Mitsubisi lũng đoạn hơn 50% tổng số vốn.
Sự phát triển tập trung theo khuynh hướng dung hợp giữa tư bản ngõn hàng
với tư bản công nghiệp là đặc trưng trong quan hệ điều đình sản xuất và huy
động vốn của chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn lũng đoạn. Quyền lực kinh tế và
quyền lực chớnh trị đang có xu hướng hợp lại lũng đoạn cả nền kinh tế lẫn
chớnh trị Nhật Bản.
Việc xuất khẩu tư bản cũng được bắt đầu. Sau 1895, những tập đoàn tư
bản đã tăng cường xuất khẩu vốn ra bên ngoài, tiến hành khai thác tài
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Khoa
Lịch sử
5
Bài tiểu luận Chuyên đề: Chủ nghĩa tư bản thế kỷ
XX


6
Bài tiểu luận Chuyên đề: Chủ nghĩa tư bản thế kỷ
XX

Như vậy, trong giai đoạn này, đặc điểm nổi bật nhất của chủ nghĩa tư
bản là chủ nghĩa tư bản Nhật chuyển sang giai đoạn độc quyền.
2. Giai đoạn 1917-1945:
Trong thời kì giữa hai cuộc chiến tranh thế giới tình hình thế giới có
những biến động lớn : chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh xuất hiện,
chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, phong trào cách mạng lên cao sau cách
mạng tháng mười Nga… Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa tư bản ở Nhật Bản
cũng có những nét riêng, song cũng phản ánh nhiều nét chung của thế giới.
2.1. Từ 1917-1923:
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã gõy ra cho nhiều nước hậu quả to lớn,
tuy nhiên Nhật Bản ra khỏi chiến tranh không bị thiệt hại gì. Hoà ước Vecxai
đã chia cho Nhật làm chủ vùng bán đảo Sơn Đông của Trung Quốc, làm chủ
các đảo Thái Bình Dương phớa Bắc đường xích đạo, trở thành uỷ viên của
Hội Quốc Liên. Có thể nói đõy là cuộc chiến tranh “ tốt nhất” trong lịch sử
Nhật Bản, vì tham gia quõn sự thì ít mà được lợi lộc thì nhiều.
Do chõu Âu trở thành bói chiến trường nên Nhật Bản ra sức xuất khẩu
hàng hoá vào thị trường chõu Á. Xuất khẩu của Nhật Bản tăng lên 4 lần, từ
799 triệu yên năm 1914 lên 3243 triệu yên năm 1919. Từ chỗ nợ nước ngoài
1,1 tỷ yên năm 1920, dự trữ vàng và ngoại tệ đã đạt hơn 2 tỷ yên, tăng 6 lần
trong vòng 6 năm.
Sau chiến tranh, công nghiệp Nhật Bản ngày càng tập trung mạnh mẽ
hơn. Những công ty độc quyền xuất hiện ngày càng nhiều, trong đó tiêu biểu
là công ty Mitsui với tiền vốn 7 tỷ yên chỉ huy 214 xí nghiệp lớn, công ty
Mitsubixi vời tiền vốn 4 tỷ yên và chỉ huy 50 xí nghiệp lớn. Chớnh vì vậy,
quyền lực của giới tư bản độc quyền ngày càng được tăng cường và củng cố
trong bộ máy nhà nước vốn cũn mang nhiều tàn tích phong kiến Nhật Bản.

xuất hiện sớm hơn các quốc gia khác, hàng hoá Nhật Bản bị đẩy lựi ra khỏi
thị trường chõu Á, và trở thành một nước nhập khẩu quá mức, nhiều công ty
bị thua lỗ. Đến 1927, phần lớn các xí nghiệp Nhật chỉ cũn sử dụng 20-25%
công suất máy móc.Từ 1926-1928, số công nhõn công nghiệp giảm sút gần
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Khoa
Lịch sử
8
Bài tiểu luận Chuyên đề: Chủ nghĩa tư bản thế kỷ
XX

10%. Số người thất nghiệp là 1 triệu người. Nông dõn bị bần cùng hoá, sức
mua kém càng làm cho thị trường trong nước bị thu hẹp.
Như vậy, Nhật Bản đã phát triển vào những năm chiến tranh và thời
hậu chiến trở thành một quốc gia của thế giới. Tuy nhiên, sự ổn định của
Nhật Bản những năm sau đó lại diễn ra chậm chạp, ngắn ngủi và bấp bênh
hơn các nước tư bản chủ nghĩa khác. Chớnh sách đối nội, đối ngoại của
chớnh phủ Nhật Bản tỏ ra mềm dẻo hơn trong những năm đầu, nhưng lai tăng
tớnh chất phản động, hiếu chiến trong những năm cuối của thập niên 20.
2.3. Từ 1929-1939:
.Năm 1929, trong thế giới tư bản chủ nghĩa bùng nổ cuộc sản xuất
thừa. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 là cuộc khủng hoảng
nghiêm trọng và sõu sắc nhất trong lịch sử tồn tại của chủ nghĩa tư bản kể từ
khi ra đời cho đến những năm 30 của thế kỉ XX. Cuộc khủng hoảng đã giáng
những đũn nặng nề vào nền kinh tế Nhật Bản.
Khủng hoảng xảy ra trầm trọng nhất là trong nông nghiệp vì nông
nghiệp Nhật phụ thuộc vào thị trường ngoài nước. Sản xuất công nghiệp nặng
giảm sút nhanh chóng. Năm 1930, sản lượng gang sụt xuống 30%, thép sụt
47%. Các sản phẩm công nghiệp, tơ sống (chiếm gần 45% tổng số xuất khẩu
của Nhật) sụt xuống 84%. Mậu dịch đối ngoại năm 1930 so với 1925 giảm
30%, năm 1931 so với 1930 lại giảm tới 20% và đến 1933 càng giảm sút

tư bản mới, chủ trương đưa quõn xõm chiếm thuộc địa.
Đõy cũng là giai đoạn chủ nghĩa phát xít được hình thành ở Nhật Bản.
Chế độ phát xít của Nhật là do bọn quõn phiệt phản động thực hiện, cho nên
đặc điểm của chủ nghĩa phát xít Nhật Bản là ở chỗ nó lợi dụng rộng rói bộ
máy quõn sự và cảnh sát của chế độ quõn chủ Nhật Bản. Trong quá trình thiết
lập chế độ phát xít đã diễn ra cuộc đấu tranh trong nội bộ giũa hai tập đoàn có
bản chất giống nhau, nhưng đường lối xõm lược khác nhau. Qúa trình thiết
lập chủ nghĩa tư bản phát xít ở Nhật diễn ra tương đối chậm chạp, kéo dài từ
1929 đến 1939 và có thể chia làm hai giai đoạn : 1929-1936 và 1936-1939.
trong quá trình đó bọn phát xít đã vấp phải cuộc đấu tranh của nhõn dõn Nhật
Bản, đồng thời nhõn dõn Trung Quốc cũng đã giáng cho quõn xõm lược
những đũn thất bại nặng nề.
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Khoa
Lịch sử
10
Bài tiểu luận Chuyên đề: Chủ nghĩa tư bản thế kỷ
XX

2.4. Từ 1939-1945:
Trong những năm 1939-1945, hoạt động kinh tế của Nhật Bản chủ yếu
chú trọng các ngành công nghiệp quõn sự nhằm phục vụ cho chiến tranh. Khi
chiến tranh thế giới nổ ra, trong thời gian đầu lợi dụng các đế quốc khác đang
mắc bận chiến tranh ở chõu Âu, nhất là Pháp và Hà Lan bị phát xít Đức đánh
bại, để tiến quõn vào Đông Nam Ấ, nhằm chiếm những thuộc địa “ không có
người coi” của pháp và Hà Lan. Và chỉ trong vòng 6 tháng quõn đội Nhật đã
bành trướng và làm chủ một khu vực rộng lớn với diện tích 4 triệu km
2
gồm
những vùng đất đai trù phú, hơn 150 triệu dõn với những nguồn lợi lớn.
Nhưng giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, với sự tham chiến của Mĩ,

thông qua các đạo luật về lao động. Những cải cách này đóng vai trò chuẩn bị
cho sự tăng trưởng kinh tế sau này của Nhật Bản.
3.2.Từ 1951-1973.
Và từ 1951 trở đi, sau khi Mĩ phát động cuộc chiến tranh Triều Tiên,
công nghiệp Nhật phát triển hơn hẳn nhờ những lợi nhuận khổng lồ do thực
hiện những đơn dặt hàng của Mĩ, như chuyên chở quõn đội, cung cấp trang bị
cho quõn đội Triều Tiên… Bước sang những năm 60, khi Mĩ gõy ra cuộc
chiến tranh xõm lược Việt Nam, kinh tế Nhật Bản lại có cơ hội phát triển
nhanh chóng, đuổi kịp và vượt các nước Tõy Âu, vươn lên hàng tứ hai (sau
Mĩ) trong thế giới tư bản chủ nghĩa.
Về tổng sản phẩm quốc dân, trong những năm 1960-1969, Nhật Bản
tăng trung bình hàng năm 10,8% (trong đó Anh tăng 2,7%, Mĩ 4,8%, Pháp
5,2%, CHLB Đức 5,2%). Năm 1950, tổng sản phẩm quốc dân của Nhật mới
đạt 20 tỉ đụla, bằng 60 % CHLB Đức (33,7 tỉ đô la) bằng 1/3 của Anh (59 tỉ
đụla), bằng ẵ của Pháp (39 tỉ đô la) và bừng 1/17 của Mĩ (349,5 tỉ đô la),
nhưng đến năm 1966, Nhật Bản đã vượt Pháp, năm 1967 vượt Anh, và 1968
vượt CHLB Đức, vươn lên hàng thứ hai sau mĩ với 183 tỉ đô la. Đến 1971,
tổng sản phẩm quốc dân Nhật Bản tăng lên 224 tỉ đụla. Như thế, chỉ trong
khoảng hơn 20 năm (1950-1971), tổng sản phẩm quốc dân tăng lên hơn 11 lần.
Công nghiệp là lĩnh vực sản xuất then chốt, đồng thời cung là lĩnh vực
sản xuất mạnh nhất trong nền kinh tế Nhật. Tốc độ phát triển trung bình hàng
năm là 15,9% gầp khoảng 6 lần tốc độ phát triển của Mĩ, hơn 5 lần Anh, 3 lần
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Khoa
Lịch sử
12
Bài tiểu luận Chuyên đề: Chủ nghĩa tư bản thế kỷ
XX

của Pháp, gấp đôi CHLB Đức. Từ 1960, tốc độ phát triển của Nhật là 13,5%,
Mĩ là 5,7%, Anh là 2,7 %, Đức 6,4 %, Pháp 5,6%. Đến đầu những năm 70,

Lịch sử
13
Bài tiểu luận Chuyên đề: Chủ nghĩa tư bản thế kỷ
XX

cầu trong nước. Trong chăn nuôi, Nhật Bản cũng tự lực được 2/3 nhu cầu thịt
sữa, riêng ngành đỏnh cá của Nhật Bản rất phát triển, chỉ đứng sau Pờru.
Về ngoại thương, chỉ trong 21 năm (1950-1971), tổng ngạch ngoại
thương đã tăng 25 lần, xuất khẩu tăng 30 lần, nhập khẩu tăng 21 lần
Lúc này, quá trình tập trung tư bản không chỉ phát triển trong sản xuất
mà cũn phát triển trong lĩnh vực ngõn hàng. Đến cuối những năm 60, Nhật đã
trở thành một trong những nước tư bản phát triển, có nhiều công ty độc quyền
cỡ quốc tế trong nhiều lĩnh vực. Đầu những năm 60, Nhật mới có 8 trong
tổng số 200 công ty lớn nhất trong thế giới tư bản thì năm 1973 tăng lên 23.
Nếu năm 1968, Nhật mới chỉ có 1 công nghiệp doanh thu trên 2 tỉ đô la đứng
hàng thứ 10 trong số 10 công ty doanh nghiệp lớn nhất thế giới tư bản không
kể Mĩ thì cuối 1969 số công ty loại này tăng lên 4, trong đó công ty thếp
Nippon-Steel Cooproratino doanh thu trên 3 tỉ đôla, quy mô ngang với công
ty sản xuất thép lớn bậc nhất thế giới tư bản US Steel Cooproratino của Mĩ.
Sự thay đổi đó không những không kỡm hóm được sự phát trieenr của
tập đoàn tư bản tài chớnh, ngược lại nó cũn tạo điều kiện cho qúa trình dung
hợp giữa tư bản độc quyền ngõn hàng và tư bản độc quyền công nghiệp, hình
thành tư bản tài chớnh. Thống trị nền kinh tế Nhật Bản lúc này là 6 tập đoàn
tài chớnh lớn: Mitsubisi, Sumitômô, Mitsui, Fùi, Daichi, Sanwa. Trong đó
mạnh nhất là Mitsubisi, Sumitômô và Mitsui. Thế lực của các tập đoàn tư bản
tài chớnh này lớn hơn rất nhiều so với các tập đoàn tư bản tài phiệt của Nhật.
Riêng 3 tập đoàn tư bản đầu sỏ trên kiểm soát 206 công ty lớn, thu hút 1/3
tổng số công nhõn, công nghiệp chế biến, với tổng số vốn trên 10,7 ngàn tỉ
yên, chiếm 400% tổng số vốn của tất cả các công ty lớn trên 1 tỷ yên. Số tư
bản của mỗi tập đoàn này sẽ chi phối lớn gấp nhiều lần nếu tớnh cả vốn các

của nó. Đó là do Nhật Bản giải quyết được vấn đề về vốn và duy trì được vấn
đề tích luỹ về vốn, Nhật biết lợi dụng vốn của Mĩ để phát triển công nghiệp
then chốt và ít chi tiêu về công nghiệp quõn sự. Nhật biết “chen lách” để giải
quyết vấn đề thị trường, xõm nhập thị trường các nước khác. Nhật Bản biết
lợi dụng những thành tựu khoa học- kĩ thuật hiện đại để tăng năng suất, cải
tiến kĩ thuật và hạ giá thành hàng hoá. Trong khi các đế quốc khác dồn sức
vào việc nghiên cứu và sản xuất hàng quấn ự, thì Nhật Bản tập trung nghiên
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Khoa
Lịch sử
15
Bài tiểu luận Chuyên đề: Chủ nghĩa tư bản thế kỷ
XX

cứu và sản xuất hàng tiêu dùng, hướng vào mục . Tiền lương của công nhõn
Nhật thấp nhất trong các nước tư bản công nghiệp phát triển., trong khi đó
thuế khoá lại nặng nề.
Như vậy, đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn này là
tập trung phát triển kinh tế dõn dụng, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh
tế, và đã khắc phục được hậu quả chiến tranh, đưa nước Nhật thoát khỏi hậu
quả chiến tranh và được xếp vào mấy quốc gia đứng hàng đầu về trình độ
phát triển khoa học- kĩ thuật.
4. Giai đoạn 1973 - cuối XX:
Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản trong giai đoạn này là sự phát
triển kinh tế theo chiều sõu.
Khủng hoảng và phát triển kinh tế, hai điều này dường như là mõu
thuẫn song là những hiện tượng xảy ra xen kẽ nhau trong nền kinh tế Nhật
Bản từ hai thập kỉ gần đõy.
Cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới năm 1973 là đũn chí mạng
giáng vào nền kinh tế Nhật Bản, vì ở thời điểm đó, nước này phải nhập khẩu
90% nhu cầu năng lượng. Cuộc khủng hoảng này làm cho sản xuất trong

sau Mĩ. Nhờ các hướng phát triển khoa học kĩ thuật và những thành tựu đạt
được, từ cuối những năm 70, đầu những năm 80, trong nền kinh tế Nhật Bản
đã bắt đầu hình thành cơ cấu công nghệ mới mà điều chủ chốt không chỉ là
mở rộng quy mô áp dụng kĩ thuật điều khiển học và công nghệ tin học mà
cũn là hình thành tổ hợp các quá trình đang biến đổi nền kinh tế Nhật Bản
sang một mô hình tăng trưởng kinh tế mới.
Trong sản xuất, Nhật Bản đứng đầu thế giới về các ngành công nghiệp
đóng tàu, luyện thép, ôtô, ti vi màu, chất bán dẫn điện tử tiêu dùng, người
máy…và hiện đang tranh chấp vị trí hàng đầu với Mĩ trong các ngành công
nghiệp có hàm lượng kĩ thuật cao như tia lade, khai thác vũ trụ, khai thác đại
dương, công nghệ sinh học…
Từ nửa sau những năm 80, Nhật Bản trở thành “ siêu cường tài chớnh
số 1” thế giới. Nhật Bản đã thay thế cộng hoà Liên Bang Đức, trở thành nước
có dự trữ vàng và ngoại tệ lớn nhất thế giới, gấp 3 lần của Mĩ và 1,5 lần của
CHLB Đức. Tớnh đến tháng 6/1988, tài sản ở nước ngoài của Nhật Bản
chiếm 36% của thế giới, trong khi đó Mĩ chỉ chiếm 14%. Trong số 500 ngõn
hàng lớn nhất thế giới, Nhật Bản có tới 98 ngõn hàng với tổng số vốn là 3,95
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Khoa
Lịch sử
17
Bài tiểu luận Chuyên đề: Chủ nghĩa tư bản thế kỷ
XX

nghìn đôla, Mĩ có tới 115 ngõn hàng với số vốn dự trữ là 1,51 nghìn tỉ đô la.
Trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, chiến lược chủ yếu của của Nhật Bản trong
hoàn cảnh này là chuyến sang sản xuất nước ngoài, nhất là các nước đang
phát triển, và như thế Nhật Bản có thể tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp
mới có kĩ thuật cao, có đủ sức cạnh tranh với các nước khác. Và cho đến cuối
những năm 80, nhờ tốc độ phát triển cao và ổn định hơn các nước phát triển
công nghiệp khác. Nhật Bản tiếp tục tự khẳng định được là một siêu cường

Xô và Mĩ trong việc đưa người vào vũ trụ, tiến hành triển khai chương trình
đưa tàu con thoi của chớnh mình loên quỹ đạo vào đầu thế kỉ XXI.
Như vậy, đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản trong giai
đoạn này là sự phát triển kinh tế theo chiều sõu. Chớnh vì sự chuyển đổi này
mà nền kinh tế Nhật Bản đã có những thay đổi lớn, và trở thành một trong
những nước đứng hàng đầu thế giới. Trong tương lai, Nhật Bản cũn tiến xa
hơn nữa, Việt Nam chúng ta muốn vươn lên sáng vai cùng các quốc gia khác
thì cần phải học hỏi kinh nghiệm của quốc gia “ mặt trời mọc này”

PHẦN KẾT LUẬN
Như vậy, trong thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản Nhật Bản đã trải qua bốn giai
đoạn phát triển với những bước thăng trầm khác nhau, những bước phát triển đó
đã tạo nên đặc điểm riêng, phong cách riêng của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản.
Ngày nay, Nhật Bản là quốc gia phát triển mạnh về kinh tế, đời sống
văn hoá ở mức cao trong khu vực cũng như trên thế giới. Với xu thế toàn cầu
hoá đang diễn ra mạnh mẽ, ta cần học tập kinh nghiệm của các nước ngoài để
giảm thời gian phát triển kinh tế, đuổi kịp các nước phát triển. Và trong quá
trình đó, Nhật Bản là một quốc gia gần gũi về địa lí lại gần gũi về văn hoá thì
chúng ta không thể bỏ qua.
Học tập kinh nghiệm thì ta phải lựi về quá khứ của Nhật Bản, xem họ
làm được gì, chưa làm được gì để từ đó vận dụng một cách sáng tạo, linh
hoạt vào điều kiện cụ thể của nước ta. Và thế kỉ XX là thế kỉ Nhật Bản có
nhiều biến đổi và phát triển mạnh mẽ, là giai đoạn thần kìg nên ta cần phải
phõn tích và tỡm hiểu rừ.
Lịch sử Nhật Bản thế kỉ XX đã ghi nhận những đóng góp to lớn của
nhõn dõn Nhật Bản vào sự phát triển trên mọi lĩnh vực của nhõn loại: kinh tế,
văn hoá, giáo dục, khoa học, nghệ thuật…đồng thời cũng lên án những hành
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Khoa
Lịch sử
19

1950-1970, Bản dịch của VNTTX, tháng 4/1971.
8. Phạm Gia Hải (chủ biên), Phạm Hữu Lư, Đặng Thanh Tịnh, Nguyễn Hồng
Liên, Lịch sử thế giới cận đại (1871-1918), NXBGD, Hà Nội 1992.
9. Takasupa Nakurura, Kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh, sự phát triển và
cơ cấu, Viện kinh tế thế giới, Hà Nội, 1988.
10. Vì sao kinh tế Nhật Phát triển nhanh và những mặt hạn chế của nó, NXB
Sự thật, Hà Nội, 1977.
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Khoa
Lịch sử
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status