MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn hoá vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ trong
quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi
trường tự nhiên và xã hội của mình. Văn hoá là nét đặc trưng riêng mà chỉ con
người mới có được, nhờ đó, thế giới con người khác với phần còn lại của thế
giới. Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo ra và có vị trí, vai trò to lớn
trong cuộc sống của con người đối với sự tồn tại của mỗi quốc gia, dân tộc.
Hoà Bình là một tỉnh miền núi phía Bắc, là cửa ngõ của khu vực Tây
Bắc. Vị trí này khiến Hoà Bình trở thành đầu mối giao thông quan trọng nối
liền các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc với vùng châu thổ sông Hồng. Do những
thuận lợi về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, cách đây hàng vạn năm, đất
Hoà Bình được con người cổ xưa chọn làm nơi sinh sống. Cho tới hiện nay,
nhiều bằng chứng khảo cổ học về dấu tích cư trú của loài người trong thời kỳ
cổ đại, với nhiều di chỉ thuộc “văn hoá Hoà Bỡnh”, tồn tại từ cuối Pleistocene
đến giữa Holocene, từ khoảng 30.000 năm đến 4.000 năm cách ngày nay.
Tỉnh Hoà Bình là một trong các tỉnh ở miền núi phía Bắc có nhiều dân tộc
thiểu số sinh sống, với 15 dân tộc sinh sống. Chính sự đa dạng về tộc người
này đã tạo nên nền văn hoá Hoà Bình phong phú, đa dạng và mang bản sắc
riêng, cùng với các di sản văn hoá vật thể ở trên, tạo nên sắc thái đa dạng và
phong phú của các di sản văn hoá phi vật thể
Tháng 11/1979 công trình thuỷ điện Hoà Bỡnh đã được khởi công và
sau 15 năm xây dựng, tháng 12/1994 công trình cơ bản hoàn thành. Công
trình thuỷ điện Hoà Bình không chỉ đem lại lợi ích to lớn cho quốc gia nói
chung và tỉnh Hoà Bình nói riêng; mà nó cũn cũn thổi vào nền văn hoá Hoà
Bình một sức sống mới; đó là văn hoá vùng hồ, với sự kết hợp giữa các di sản
truyền thống và đương đại, tạo nên một quần thể di tích có sức thu hút du
1
khách, mang lại những giá trị sinh thái, xã hội và văn hoá cho du khách thông
qua những điểm nhấn vô cùng đặc biệt và thú vị, với sự kết hợp hoạt động
bảo tồn di sản với khai thác, sử dụng chúng trong quá trình phát triển du lịch
Hoà Bình.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
3.1 Tìm hiểu thực trạng bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá vùng hồ
thuỷ điện Hoà Bỡnh trên cơ sở điều tra, khảo sát các di tích vật thể và phi vật
thể thuộc vùng hồ thuỷ điện Hoà Bình.
3.2 Đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng các di sản văn hoá vùng hồ
Hoà Bình cho phát triển du lịch.
3.3 Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động bảo tồn và phát
huy di sản vùng hồ thuỷ điện Hoà Bình phục vụ phát triển du lịch.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Các vấn đề về bảo tồn di sản văn hoá vùng hồ Hoà Bình, bao gồm
các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể và nghệ nhân.
4.2 Các vấn đề về sử dụng và phát huy di sản phục vụ công tác phát
triển du lịch thuộc trung tâm du lịch nhà mỏy… và của người dân
4.3 Các quan điểm, tầm nhìn, định hướng cho bảo tồn và phát huy di
sản văn hoá vùng hồ thuỷ điện Hoà Bình phục vụ cho phát triển du lịch
4.4 Phạm vi nghiên cứu
4.4.1 Phạm vi về không gian: nghiên cứu các di sản văn hoá và di sản
thiên nhiên thuộc vùng hồ thuỷ điện hiện nay, trong đó tập trung vào các di
sản văn hoá truyền thống, di sản văn hoá tộc người, di sản văn hoá mới trong
khu vực vùng hồ thuỷ điện Hoà Bình.
3
4.4.2 Phạm vi về thời gian: Đề tài xin giới hạn vào việc nghiên cứu
trong thời gian từ năm 2003 đến 2008, với thời gian là 5 năm, vừa phù hợp
với mục tiêu nghiên cứu của đề tài, vừa phù hợp với nguồn dữ liệu hiện có.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong luận văn này sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp quan sát - thâm nhập
- Phương pháp mô tả dân tộc học
nhân loại, có vai trò to lớn trong sù nghiệp dựng nước và giữ nước của
nhõn dân ta”[24,tr.5].
Để tìm hiểu khái niệm di sản văn hoá trước hết cần phải hiểu thừ nào là
văn hoá. Đa số học giả hiện nay cho rằng, văn hoá là tổng thó những giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển của
mình còng được xem là di sản văn hoá và “Giá trị tinh thần và vật chất của
văn hoá thừ giới hay mét quốc gia, một dân téc để lại: di sản văn hoỏ”; tuy
nhiờn phải những gì có giá trị mới được công nhận là di sản [52,tr.254].
Luật sè 214 ngày 1/7/1975 của Nhật Bản vò bảo vệ di sản văn hoá là
mét minh chứng. Khái niệm di sản văn hoá ở đây được hiểu là: Những nhà
cửa, các tác phẩm nghệ thuật, điêu khắc, những tác phẩm nghệ thuật thực
dụng, những công trình có khắc chữ, các kho sách cổ điển, những tài liệu cổ
và những sản phẩm văn hoá vật thể khác đều có giá trị lịch sử và nghệ thuật
cao của đất nước; bao gồm những khu vực đất đai và những vật liệu khác, gắn
bó với nhau chặt chẽ và được đóng góp một giá trị tương đương, những mẫu
vật khảo cổ và những hiện vật lịch sử khác có giá trị khoa học được gọi là di
5
sản văn hoá vật chất. Nghệ thuật và kỹ thuật sử dụng trong sân khấu, âm
nhạc, nghệ thuật ứng dụng và những sản phẩm văn hoá phi vật chất khác, đều
cho đất nước một giỏ trị lịch sử, nghệ thuật được gọi là di sản văn hoá phi vật
chất.
Những phong tục tập quán về ăn, mặc, ở, sinh hoạt, những tín ngưỡng,
lòng tin tôn giáo, hội hè , những cuộc trình diễn dân gian, cùng y phục, dụng
cụ, nhà ở và những đồ dùng khác, trong phạm vi này đều cần thiết cho việc
tìm hiểu những thay đổi về đời sống của nhân dân Nhật, gọi là các di sản văn
hoá dân gian.
Những đồi mộ cổ, vỏ sò, vỏ hến, những mộ cổ, những phong cảnh cung
điện, những pháo đài, lâu đài, những ngôi nhà lớn và những cảnh quan khác
đều có một giá trị lịch sử khoa học lớn. Những vườn, cầu, cống, bãi biển, đồi
núi và các cảnh quan đẹp khác; những động vật, những cây cỏ và những
nghiên cứu những những đặc tính riêng của từng di sản, còn trang thực tế yếu
tố vật thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau cùng tồn tại để làm nên giá
trị của một di sản. Khi đó di sản văn hoá phi vật thể là linh hồn, là cốt lõi, là
biểu hiện tinh thần của di sản văn hoá vật thể; cũn cỏi hiện hữu, cái làm nên
di sản văn hoá vật thể thì tồn tại như là biểu hiện vật chất của di sản văn hoá
phi vật thể Êy.
Cũng vì thế người ta cũn cú cỏch phân loại thứ hai là căn cứ trên giá trị
của di sản để phân chóng thành những nhóm di sản có giá trị đặc biệt quan
trọng cấp quốc gia và nhóm di sản có tầm quan trọng cấp địa phương.
7
Những di sản có tầm quan trọng cấp quốc tế là những di sản văn hoá
thế giới hoặc là những di sản được nhà nước lập hồ sơ gửi UNESCO xem xét
công nhận là di sản văn hoá thế giới.
Nhúm các di sản thuộc cấp quốc gia bao gồm những di sản được xếp
hạng di tích quốc gia quan trọng, một sè làng nghề truyền thống nổi tiếng,
những lễ hội lớn mà tầm ảnh hưởng của nó vượt khỏi phạm vi một tỉnh hay
một vùng.
Nhúm các di sản thuộc cấp địa phương bao gồm những di tích văn hoá
lịch sử được xếp hạng cấp địa phương mà tầm ảnh hưởng và thu hót của
chúng không vượt qua khỏi giới hạn tỉnh hoặc huyện, thị xã.
Dù phân loại thế nào chăng nữa, các di sản văn hoá có những điểm
chung đó là:
- Tính biểu trưng đại diện cho mỗi nền văn hoá của mét quốc gia, một
dõn tộc.
- Tính lịch sử với những đặc trưng của thời đại và đại diện cho thời đại
sinh ra chúng, nền văn minh và kỹ thuật tái tạo chúng.
- TÝnh truyền thống lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Không
chỉ bản thân di sản mà cả những giá trị phi vật thể đi cùng với chóng cũng
được truyền sang thế hệ sau bằng mô phỏng, phát triển và sáng tạo mới trên
nền của di sản cũ.
Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm quản lý nh sau:
9
“Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý để đạt được mục tiêu nhất định thông qua hệ thống luật pháp
và các quy định có tính pháp lý ”
Nội dung cơ bản của quản quản lý hiện nay cũng có nhiều học giả, nhà
nghiên cứu đưa ra nhiều nội dung song tập trung nhất vẫn là nội dung cơ bản
sau: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo (điều khiển), kiểm tra.
Cấp độ quản lý cũng có hai cấp độ cơ bản sau:
- Quản lý cấp vĩ mô - dưới góc độ văn hoá: Quản lý văn hoá vĩ mô.
- Quản lý cấp vi mô (chuyên ngành) - Dưới góc độ văn hoá: Quản lý
các cấp nh: Thư viện, bảo tàng, nghệ thuật, di tích, danh thắng…
Nh vậy quản lý di sản nhìn dưới góc độ văn hoá cũng chính là bảo tồn
và phát huy di sản.
1.1.3 Cân bằng giữa bảo tồn và phát huy di sản.
Nh trờn đã trình bày, quản lý là quá trình hoạt động có mục đích của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để đạt được mục địch nhất định.
Mục đích ở đây chính là thông qua quản lý để bảo tồn và phát huy giá
trị của di sản văn hoỏ. Bảo tồn không có nghĩa là “hoài cổ, hoài niệm” có
tính chiêm ngưỡng đơn thuần mà bảo tồn để phát triển, phát huy. Trong phát
triển, phát huy có phát huy về giá trị tinh thần (giáo dục giá trị truyền thống
cội nguồn, bản sắc) và một điều hết sức quan trọng chớnh là phát triển và phát
huy về giá trị kinh tế (tăng trưởng kinh tế trong tỉ trọng nền kinh tế).
Sự tăng trưởng và phát triển Êy không tự di sản làm nên mà phải thông
qua yếu tố du lịch. Thông qua hoạt động du lịch trên cơ sở những giá trị của
di sản (về tham quan, dịch vụ du lịch, dịch vụ lưu trú, sản phẩm du lịch…) để
tăng cường nguồn thu, phát triển kinh tế. Sự phát triển và tăng trưởng Êy
10
muốn bền vững phải thông quan hoạt động quản lý. Đó là sự tác động của chủ
thể (hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra) đến đối tượng quản lý (di sản
lịch. Các lễ hội lớn tại các địa điểm di tích, danh thắng thường thu hót lượng
khách lớn tham quan, thưởng ngoạn, lễ bái, cầu phóc, cầu tài, cầu léc, cầu
tự… Bởi lẽ di sản văn hoá vật thể luôn luôn chứa đựng trong mình những giá
trị vô hình, nơi con người gửi gắm được đức tin và tôn thờ một đáng thiêng
liêng nào đó, là không gian văn hoá cho nhân dân trong những ngày lễ hội
truyền thống, lễ hội tôn giáo. Những di tích lịch sử cách mạng là nơi hướng
mọi người tìm về cội nguồn, tìm về quá khứ hào hùng của dõn tộc. Đõy cũng
là nơi giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Đối với di sản văn hoá phi vật thể
thì tự thân nú cũng đã mang trong mình thông điệp của quá khứ và khi tham
gia vào đời sống văn hoá hiện tại sẽ làm cho văn hoá của mỗi dõn tộc không
bị tách rời khái truyÒn thống. Nó giữ lại những giá trị tự thân đồng thời tạo
nên những giá trị bên trong của cốt cách, bản lĩnh, năng lực của mỗi dõn tộc.
Những hệ giá trị này có tính ổn định và bền vững tương đối, có sức mạnh to
lớn đối với cộng đồng… và cũng vì thế các di sản văn hoỏ đặc biệt là (các di
tích, danh thắng) luôn được xem là nguồn tài nguyên du lịch.
Nh trờn đã trình bày, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát
triển du lịch. Thực tế cho thấy tài nguyên du lịch càng phong phú càng đặc
sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả du lịch càng cao bấy nhiêu.
Di sản văn hoá ở nước ta nhiều về số lượng, đa dạng về loại hỡnh nờn
đó tạo sức hấp dẫn đối với rất nhiều du khách trong và ngoài nước. Đi đầu
trong sự hấp dẫn du lịch là các di sản thế giới. Những tiêu chí này đáp ứng
các tiêu chí di sản thế giới theo quy định tại công ước về bảo vệ Di sản văn
12
hoá và thiên nhiên thế giới của UNESCO là những di sản phân bố trên những
không gian rộng lớn, bao gồm nhiều hạng mục công trình. Do giá trị nổi bật
toàn cầu các di sản thế giới hàng năm đón từ hàng vạn cho đến hàng triệu lượt
khách tham quan, nghiên cứu, học tập. Quan sát sự phát triển du lịch tại các
khu di sản thời gian qua chóng ta thấy rằng danh hiệu di tích cấp quốc gia
hoặc di sản thế giới đã tạo cho di sản có một sức hót mạnh mẽ đối với khách
tham quan du lịch trong và ngoài nước. Lễ đón bằng di tích quốc gia và di sản
quản lý tồi và sự phát triển tuỳ tiện tuỳ thuộc vào du lịch có thể đe doạ tính
toàn vẹn của hình thể tự nhiên và ý nghĩa của di sản. Sự viếng thăm liên tục
của khách du lịch cũng có thể làm cho hệ sinh thái, văn hoá và lối sống cộng
đồng chủ nhà bị xuống cấp.
Đại hội đồng ICOMOS họp lần thứ 12 ở Mexico, tháng 10 - 1999 đã
thông qua công ước quốc tế về du lịch văn hoá trong đó nhấn mạnh:
Du lịch phải đem lại lợi Ých cho cộng đồng chủ nhà và tạo cho họ một
phương thức quan trọng và một động lực để chăm nom và duy trì di sản và
các tập tục văn hoá của họ. Sự tham gia và hợp tác giữa các cộng đồng địa
phương hoặc bản địa đại diện, các nhà bảo tồn, các điều hành viên du lịch,
chủ sở hữu tài sản, các nhà hoạch định chính sách, các nhà làm kế hoạch phát
triển quốc gia và các nhà quản lý di tích là cần thiết để thực hiện được một
ngành kinh doanh du lịch bền vững và nâng cao việc bảo vệ các nguồn lực
của di sản cho các thế hệ tương lai [26,tr.8].
Theo luật du lịch Việt Nam, “du lịch là hình thức du lịch dùa vào bản
sắc và văn hoá dõn téc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hoá truyền thống”. Du lịch không chỉ dùa vào văn hoá để
14
phát huy mà còn mang sứ mệnh tôn vinh văn hoỏ, bảo vệ những giá trị văn
hoá tốt đẹp của nhân loại. Đồng thời làm giàu thêm văn hoá chính bằng các
hoạt động của mình thông qua sù giao lưu văn hoá làm cầu nối cho sự tiếp
xúc, tiếp nhận những tinh hoa văn hoá của dõn tộc. Phát triển du lịch văn hoá
không chỉ đơn thuần thu được những lợi Ých kinh tế như một hoạt động kinh
doanh mà còn nhằm những mục tiêu cao cả như góp phần thực hiện những
mục tiêu phát triễn xã hội, bảo tồn và phát huy những giá trị các di sản văn
hoá dõn téc truyền thống, góp phần giáo dục, nâng cao nhận thức về nền văn
hoá dõn téc. Tất cả các giá trị tốt đẹp của văn hoá thông qua hoạt động du lịch
có thể tạo nên sự phát triển tích cực nhất đối với con người và xã hội nhưng di
sản văn hoá tinh thần phải được khai thác tốt nhất trong hoạt động du lịch.
Kinh tế du lịch phát triển đem lại nhiều cơ hội cho sự nghiệp bảo tồn và phát
Công trình đã trở thành một địa điểm du lịch đặc biệt không thể thiếu trong
quần thể kiến tróc văn hoá- xã hội trên Sông Đà. Ngược lòng hồ là một quần
thể di tích gồm (Bia Lê Lợi - Đền Thác Bờ), một vùng non nước mênh mang
đan xen những di tích danh thắng tạo nên một quần thể văn hoá làm say đắm
lòng người.
1.2.2 Di tích Thỏc Bờ - Bia Lê Lợi.
Trước khi xây dựng đập thuỷ điện Hoà Bình, đền Thác Bờ vị trí ở đoạn
ngang giữa của thác Bờ. Nhân dân địa phương đã chuyển đền lên cao nhường
chỗ cho khu vực lòng hồ Sông Đà.
Ở bên trái Sông Đà, đền Thác Bờ được dựng lại trên đỉnh đồi hang
Thầu thuộc xã Vầy Nưa - huyện Đà Bắc.
Ở bên bê trỏi Sông Đà, Đền Thác Bờ được dựng lại tại quả đồi thuộc xã
Thung Nai - Huyện Kỳ Sơn.
16
Tương truyền năm 1431 - 1432, vua Lê Lợi đi dẹp giặc ở Mường Lễ -
Sơn La qua đoạn Thác Bờ hiểm trở đã được nhân dân địa phương giúp đỡ tận
tình, trong đó có hai bà: bà Đinh Thị Vân - người ở xã Hào Tráng và một bà
người Dao ở Mó Nẻ, xã Vầy Nưa giúp nhà vua về quân lương, phương tiện,
thuyền bè vượt thác. Khi hai bà mất vua Lê Lợi đã truy phong công trạng của
hai bà và ban chiếu cho lập đền thờ. Tuy nhiên đây cũng chỉ là tương truyền
mà thôi chứ thực tế cho đến nay chưa tìm được một tài liệu lịch sử nào ghi
chép về việc này.
Ngày lễ hội chính thức của đền Thác Bờ là ngày mùng 07 tháng giêng
âm lịch hàng năm. Trong đền hiện có 38 pho tượng lớn nhỏ trong đó có 02
pho tượng đồng. Các pho tượng này hiện đã được sửa chữa, bổ sung làm mới
một phần.
Đến với đền Thác Bờ du khách đi bằng đường thuỷ từ bến Cảng lên
đập thuỷ điện Hoà Bình, khoảng 01h đồng hồ ngồi trên thuyền thưởng ngoạn
phong cảnh làng hồ Sông Đà mênh mông, kỳ thó, thuyền sẽ đưa du khách đến
hai ngôi đền “Chỳa Thỏc Bờ” nói trên.
nói “Phải biến thuỷ tặc thành thuỷ lợi”. Mục đích cuối cùng là phải chinh
phục dòng sông có lợi Ých lâu dài cho toàn dân. Tác giả Nguyễn Vũ An -
Giảng viên Trường ĐH Kiến Trúc Hà Nội đã thực hiện hình tượng Bác Hồ
theo ý tưởng đó. Tượng cao 18 m (kể cả bệ) ở tư thế đứng trên cao (đỉnh đồi
ông Tượng cao 182 m so với mực nước biển) nhìn xuống, bàn tay phải chỉ về
18
vùng đất mọc lên công trình thế kỷ. Phía dưới chân tượng đài là bệ đứng được
ghi bốn câu thơ nổi tiếng của Bác:
“”Không có việc gỡ khú
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nờn”
Ở phần dưới bệ tượng, dưới bài thơ nhiều hoa võn cỏch điệu tượng
trưng cho sóng nước Sông Đà, phía trên sau chõn Bỏc là hình ảnh đám mây
hồng bồng bềnh hoà quyện với những đám mây của thiên nhiên thường xuyên
xuất hiện ở đây làm cho hình tượng Bác nổi lên hoành tráng, nên thơ giữa
vùng sông nước mây trời hùng vĩ.
Toàn bộ khối tượng được làm bằng chất liệu bê tông granite (siêu cao)
không bị ố mốc, không bị phong hoá, mài mòn với thời gian. Tượng có trọng
lượng hơn 400 tấn, móng lớn của tượng được khoan trụ sâu xuống đỉnh núi
10m, đường kính 2,5m. Khi khoan gặp đá gốc mới dừng lại.
Tác giả phần kết cấu công trình là kỹ sưu Ngô Thanh Cẩn (Bộ xây
Dựng), phần tổng thể kiến trúc do kiến trúc sư trưởng người Nga V.M
SERBRIANS - KI đảm nhiệm. Để đảm bảo công trình ở trên cao, một phương
pháp chống sét độc đáo do khoa Hệ Thống Điện - Trường ĐHH Bách Khoa
Hà Nội đưa ra. Đó là giải pháp sử dông ba điểm tiếp diện trước đặt ở đỉnh
tượng và vai tạo ra sù an toàn mà không ảnh hưởng tới tính thẩm mỹ của tác
phẩm.
Phối hợp với trường ĐH Bách Khoa là đơn vị cú các tác giả của hệ
thống chống sét đường dây 500 KV Bắc Nam. Phần chiếu sáng mà bằng cả
20
xung quanh đồi ông Tượng, toàn bộ đồi Ba Vành, khu vườn hoa bờ trỏi Sụng
Đà, khu lõm viờn dọc đường lờn Bớch Hạ, Cảng Hoà Bỡnh trờn hồ Sông Đà,
có như vậy công trình thuỷ điện Hoà Bình mới thật sự là địa danh văn hoá-
Kinh Tế của thế kỷ XXI.
1.2.4 Các di sản văn hoá của cỏc téc người thiểu số: Mường, Thỏi,
H’Mụng, Tày, Dao.
Hoà Bình là một tỉnh miền núi nằm trong vùng Tây Bắc Việt Nam.
Phía Bắc và Tõy giỏp tỉnh Phú Thọ và Sơn La, Phía Đông và Đông Nam giáp
tỉnh Hà Tây và Hà Nam, phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình Và Thanh Hoá. Vị trí
này khiến cho Hoà Bình trở thành đầu mối giao thông quan trọng, nối liền các
tỉnh thuộc vùng Tây Bắc với vùng Đồng Bằng Sông Hồng Đông Bắc và Bắc
Trung Bộ. Hiện nay Tỉnh hoà Bỡnh có 11 huyện thị trong đó có 02 huyện
vùng cao còn lại đều là những huyện thị miền núi.
Hoà Bỡnh cú 832.543 dõn (thỏng 7/2009). Theo kết quả chính thức
điều tra dân số ngày 01/04/2009 dân số tỉnh Hoà Bình chỉ có 786.964 người.
Theo thống kê dân số toàn quốc năm 1999, trên địa bàn tỉnh có 6 dõn
tộc sinh sống, đông nhất là người Mường chiếm 63,3%; người Việt (Kinh)
chiếm 27,73%; người Thái chiếm 3,9%; người Dao chiếm 1,7%; người tày
chiếm 2,7%; người Mông chiếm 0,52%; ngoài ra có người Hoa sống rải rác ở
các địa phương trong tỉnh. Người Hoa trước đây sống ở Ngọc Lương, Yên
Thuỷ; nhưng năm 1979 còn lại một số gia đình và hiện sống phân tán ở cỏc
xó Yờn Trị, Ngọc Lương và Phú Lai, huyện Yên Thuỷ. Ngoài ra, cũn cú một
số người thuộc cỏc dõn tộc khỏc chủ yếu do kết hôn với người Hoà Bình công
tác ở các tỉnh miền núi khác
Nhắc tới các di sản văn hoỏ các téc người thiểu số Hoà Bình người ta
thường nói đến bộ sử thi đồ sộ của người Mường “Đẻ đất đẻ nước” tiếp đến
21
là Mo Mường. Mo Mường có những giá trị to lớn cả về văn hoá nghệ thuật
lấn giá trị nhân văn. Cùng với Mo Mường nhiều giá trị văn hoỏ khác như: Lễ
quá khứ.
1.2.5. Các di sản khảo cổ học.
Trống đồng là một thứ tài sản quý giá được coi là báu vật mà cha ông
để lại cho chóng ta hôm nay, là biểu tượng của nền văn minh văn hoá việt
Nam thời dựng nước. Hoà Bình là một trong những tỉnh phát hiện và lưu giữ
nhiều trống đồng nhất trong cả nước. Tại Hoà Bình, trống Đồng Sông Đà là
chiếc trống được phát hiện sớm nhất do phó sứ Muliờ tỉnh Hoà Bình lấy được
tại nhà người vợ goá của viên quan lang Mường vựng Sụng Đà vào năm
1887. Sau đó trống đồng sông Đà được đưa về Pháp trưng bày tại hội chợ
quốc tế Pari năm 1889.
Hiện nay trống đồng sông Đà được lưu giữ tại bảo tàng Ghimờ thuộc
cộng hoà Pháp. Trống có đường kính mặt trống 78cm, cao 61cm và cũn khỏ
nguyên vẹn. Đây là trống loại I theo phân loại của Heger và là trống Đông Sơn
nhóm A kiểu I, theo sự phân loại của các tác giả nghiên cứu về trống Đông
Sơn.
Cho đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945, kể cả trống Sông Đà
tại Hoà Bỉnh đó cú tới 20 chiếc trống đồng được người Pháp phát hiện. Bên
cạnh ý nghĩa nghiên cứu khoa học không thể không kể đến chủ tâm vơ vét
báu vật từ thời thuộc địa đưa về chính quốc của nhiều quan chức thực dân.
23
Từ sau năm 1945, đặc biệt là từ sau năm 1960 tại Hoà Bỡnh đó phát
hiện và lưu giữ khoảng 66 chiếc trống đồng. Theo sự phân loại của Heger -
mét học giả người Áo đưa ra từ năm 1902 trống đồng Hoà Bình được xếp
vào loại trống Heger II. Heger đó dựa vào tài liệu nghiên cứu hàng trăm trống
đồng của các khu vực và quốc gia khác nhau trên thế giới để làm căn cứ phân
loại. Cỏch phõnloại này của ụng đó được số đông học giả trên thế giới còng
nh các nhà khoa học Việt Nam chấp nhận trong việc nghiên cứu về trống
đồng Việt Nam nói chung, trống đồng Hoà Bình nói riêng.
Trống loại Heger II ở Hoà Bình chiếm số lượng lớn (trên 100 chiếc).
Những trống thuộc nhóm A, B (xuất hiện sớm nhất) là trống lớn, hoa văn trang
một bộ phận cấu thành dòng chảy lịch sử - văn hoá Việt Nam không thể chia
tách.
Tìm hiểu trống đồng Việt - Mường là nhằm vén lên bức màn thời gian
soi rọi thêm lịch sử dân téc và các công việc bền bỉ, lâu dài, tâm huyết, thận
trong, vô tư… để có thể thêm một cái nhìn đầy đủ hơn, toàn diện hơn, logic
hơn về nền văn minh Việt cổ.
Tổ hợp di vật tại Hoà Bình, đa số các địa danh khảo cổ là hang động
hoặc núi đá phân bố trong vùng núi đá vụi. Cỏc hang động này cao, rộng, khô
và thoáng. Là địa điểm cư trú lý tưởng cho cư dân tiền sử Hoà Bình. Tại các
hang động người ta phát hiện ra vết tích của bếp, dấu tích của nghệ thuật
(những vết khắc hình lá cây, hình động vật trên xương, trờn đỏ…) và đặc biệt
nhất, đặc trưng nhất của văn hoá Hoà Bình là tổ hợp các di vật bao gồm đá,
đồ xương và đồ gốm, trong đó chủ yếu là di vật đá. Di vật đá có số lượng lớn
và là đối tượng nghiên cứu chủ yếu để từ đó tìm hiểu đặc trưng, kỹ nghệ của
văn hoá Hoà Bình. Đó là việc sử dụng đá quậy sông, suối để chế tỏc cụng cụ.
Tổ hợp công cụ đá Hoà Bình phong phú và ổn định trong một số loại hình
25