LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO Ở TỈNH HÀ TĨNH - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Trần Thị Diệu Thúy

QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO
Ở TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Hà Nội - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Trần Thị Diệu Thúy

QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO
Ở TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 9319042

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Tiểu kết ......................................................................................................................36
Chƣơng 2: DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO Ở HÀ TĨNH ...................................37
2.1. Khái quát chung về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh ......................................37
2.2. Những ngôi chùa được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ............39
2.3. Những ngôi chùa được xếp hạng di tích cấp tỉnh ..............................................68
2.4. Những ngôi chùa chưa xếp hạng di tích.............................................................79
Tiểu kết ......................................................................................................................80
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA
PHẬT GIÁO Ở HÀ TĨNH ......................................................................................82
3.1. Hệ thống văn bản pháp luật về quản lý di sản văn hóa ......................................82
3.2. Phân tích mô hình quản lý di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh ...........................92
3.3. Thành quả và hạn chế của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
Phật giáo ..................................................................................................................108
Tiểu kết ....................................................................................................................130
Chƣơng 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
DI SẢN VĂN HOÁ PHẬT GIÁO Ở HÀ TĨNH HIỆN NAY ............................132
4.1. Những giải pháp chung đối với di sản văn hóa vật thể và di sản phi vật thể ...132
4.2. Giải pháp bảo tồn giá trị di sản văn hóa vật thể tại các di sản văn hóa Phật giáo
Hà Tĩnh ....................................................................................................................145
Tiểu kết ....................................................................................................................154
KẾT LUẬN ............................................................................................................156
DANH MỤC BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ .................................160
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................161
PHỤ LỤC ...............................................................................................................168


3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Chữ viết tắt


Di tích lịch sử - văn hóa

GS

Giáo sư

HĐBT

Hội đồng Bộ trưởng

Nxb

Nhà xuất bản

PGS

Phó giáo sư

SVHTTDL

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

tk

Thế kỷ

TP HCM

Thành phố Hồ Chí Minh


Danh mục các ngôi ở chùa Hà Tĩnh được xếp hạng di tích cấp

41

Quốc gia
Bảng 2:

Danh mục tượng cổ trong các ngôi Chùa được xếp hạng di

72

tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh ở Hà Tĩnh
Bảng 3:

Danh mục cổ vật trong các ngôi chùa xếp hạng di tích lịch

73

sử - văn hóa cấp tỉnh ở Hà Tĩnh
Bảng 4:

Danh sách các sư trụ trì tại các ngôi chùa đã được xếp hạng

96

di tích
Bảng 5:

Danh mục các nghi lễ, trò diễn, trò chơi cần nghiên cứu để khôi

là vô cùng quan trọng và cấp thiết.
Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh thực hiện Nghị Quyết của Hội nghị Trung
Ương 5 (khóa VIII) về việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,
một trong những nội dung đó là bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị di sản văn
hóa dân tộc, trong đó có di sản văn hóa Phật giáo. Bên cạnh những thành tựu đạt
được, công tác này vẫn còn những hạn chế nhất định. Để có thể sử dụng một cách


6

tốt nhất những giá trị của di sản văn hóa Phật giáo vào quá trình phát triển kinh tế,
xã hội của địa phương, ngoài việc nghiên cứu, đánh giá các giá trị của di sản văn
hóa, cần thiết phải nhìn nhận những khiếm khuyết trong việc quản lý, bảo vệ, khai
thác và phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo để rút ra những bài học kinh nghiệm.
Đã có nhiều công trình viết về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh. Nhưng
những công trình này, chủ yếu dừng ở mức giới thiệu các giá trị vật thể và phi vật
thể của một số ngôi chùa cụ thể, đó là sưu tầm, mô tả một số chùa cổ xưa trên đất
Hà Tĩnh. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về hiện
trạng của những di sản văn hóa Phật giáo, cũng chưa có công trình nào đánh giá
toàn diện những khó khăn, bất cập và thành tựu của công tác quản lý di sản văn hóa
Phật giáo Hà Tĩnh kể từ khi luật về di sản văn hóa ban hành năm 2001.
Đó là lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài Quản lý Di sản văn hóa Phật giáo ở
tỉnh Hà Tĩnh cho luận án tiến sĩ, chuyên ngành Quản lý văn hóa. Tiến hành nghiên
cứu đề tài này, chúng tôi muốn khẳng định: Di sản văn hóa Phật giáo, tiêu biểu là di
tích lịch sử - văn hóa Phật giáo, được nhìn nhận như một bộ phận hữu cơ trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra động lực cho sự phát triển (xét dưới góc độ
tác động tới việc hình thành nhân cách con người) và đào tạo nguồn nhân lực có
chất lượng, phục vụ trực tiếp cho phát triển. Không những thế, chúng tôi muốn
chứng minh rằng, di sản văn hóa Phật giáo chính là một nguồn lực trực tiếp tham
gia vào sự phát triển kinh tế-xã hội nếu như các giá trị ấy được đưa vào quỹ đạo của

quản lý, đội ngũ nhân sự và các hoạt động thực thi pháp luật trong việc bảo tồn và
phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh.
Phạm vi không gian: Các di tích lịch sử văn hóa Phật giáo trên địa bàn Hà
Tĩnh, tập trung vào các di tích đã được xếp hạng.
Về mặt thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu công tác quản lý di sản văn
hoá Phật giáo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ sau khi Luật Di sản văn hóa được ban
hành (2001) đến năm 2016.
4. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
4.1. Câu hỏi nghiên cứu
1. Hiện trạng các di tích lịch sử - văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh như thế nào?
Các di sản này đã chịu những hậu quả gì dưới tác động của thực tiễn lịch sử?


8

2. Việc thực thi quy phạm Pháp luật trong quản lý di sản văn hóa phật giáo ở
Hà Tĩnh có thuận lợi, khó khăn gì? Thực trạng công tác quản lý di sản văn hóa Phật
giáo ở Hà Tĩnh từ năm 2001 đến năm 2016, thành tựu và hạn chế?
3. Cần phải có những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả, khắc phục những
bất cập trong quản lý các di sản văn hóa Phật giáo?
4.2. Giả thuyết nghiên cứu
Công tác quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh (kể từ năm 2001) đã đạt
được nhiều thành tựu. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số bất cập, cần đề xuất giải
pháp nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa Phật giáo.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành, phương pháp mô hình hóa, khảo
sát thực địa, phỏng vấn sâu, nghiên cứu tài liệu… để đánh giá thực trạng quản lý,
bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa Phật giáo trên địa bàn Hà Tĩnh.
- Sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích kết hợp với phương pháp tiếp
cận văn hóa - lịch sử đánh giá toàn bộ di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh.

sản văn hóa Phật giáo (27 trang)
Chương 2: Di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh (43 trang)
Chương 3: Thực trạng quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh (48 trang)
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở
Hà Tĩnh hiện nay (23 trang).


10

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, còn thiếu vắng những công trình chuyên khảo hoặc chuyên
luận nghiên cứu về quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh. Tuy nhiên, liên
quan đến vấn đề này có nhiều công trình có thể tham khảo ở những khía cạnh và
mức độ nhất định:
1.1.1. Nhóm công trình mang tính lý luận
Trong số các công trình thuộc vấn đề lý luận cơ sở cho luận án, phải kể đến
nhóm các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa nói chung, các công trình nghiên
cứu công tác bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa Hà Tĩnh nói riêng.
Tiêu biểu cho hướng tiếp cận này, có thể kể đến các công trình Bảo tồn di tích lịch
sử văn hoá của tác giả Nguyễn Đăng Duy và Trịnh Minh Đức [50], Giáo trình Quản
lý di sản văn hoá, Nguyễn Thị Kim Loan (chủ biên) và Nguyễn Trường Tân biên
soạn [78], công trình Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long Hà Nội, do GS.TS. Nguyễn Chí Bền (chủ biên) [28]. Giáo trình Quản lý di sản văn
hoá với phát triển du lịch do tác giả Lê Hồng Lý (chủ biên), Dương Văn Sáu, Đặng
Hoài Thu biên soạn [84], Đề tài cấp Nhà nước Bảo tồn và phát huy các giá trị Di
sản văn hoá Phật giáo Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội và hội
nhập quốc tế do tác giả Đặng Văn Bài làm chủ nhiệm năm 2012 [6].
Tùy theo mục đích nghiên cứu cụ thể mà các tác giả này đã tiếp cận với di

luận án tham khảo và vận dụng.
Văn bản Hướng dẫn thực hiện công ước di sản thế giới [133], UNESCO đặt
ra vấn đề xây dựng kế hoạch quản lý các khu di sản thế giới, với các mục tiêu:
1/Muốn quản lý di sản phải nhận diện chính xác giá trị nổi bật toàn cầu của khu di
sản. 2/Phải xác định rõ những áp lực từ tự nhiên và các hoạt động kinh tế - xã hội
tới khả năng bảo tồn và phát huy di sản. 3/Cơ chế, chính sách phù hợp để thực thi
việc quản lý di sản. 4/Chương trình hành động cụ thể nhằm hạn chế, ngăn ngừa
những yếu tố ảnh hưởng tới di sản. 5/Thu hút các nguồn lực xã hội cho hoạt động
bảo tồn DSVH. Và quan trọng là cơ chế kiểm soát việc triển khai kế hoạch quản lý


12

DSVH của các quốc gia thành viên. Tài liệu này là một trong những cơ sở lý luận
quan trọng để tác giả luận án áp dụng nhận diện đối tượng nghiên cứu.
Bên cạnh những công trình mang tính lý luận chung về quản lý di sản, còn có
các công trình nghiên cứu trực tiếp đến di sản văn hóa Phật giáo. Tác giả Trần Lâm
Biền với nghiên cứu Chùa Việt [14], đã giới thiệu khái quát về Lịch sử hình thành
chùa Việt và quá trình lịch sử hình thành Phật giáo ở Việt Nam. Tác giả đã trình bày
rõ đặc điểm văn hoá, nghệ thuật, kiểu kiến trúc và phong cách tượng phật giáo tại
các chùa Việt, từ thế kỷ XI, XII đến thế kỷ XIX.
Chùa Việt Nam [109] của Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long
giới thiệu, là bộ sách ảnh các chùa Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và trong đời
sống văn hoá cộng đồng. Tác giả đã khảo sát những ngôi chùa, nói lên đặc điểm của
Phật giáo Việt Nam. Nhóm tác giả đã cung cấp các bức ảnh đẹp về ngôi chùa, về
tượng Phật, về đồ thờ tự, khái quát về lịch sử chùa, bản sắc chùa Việt so với các
chùa nước khác. Đây là cẩm nang cho tác giả luận án khi tiến hành nghiên cứu,
khảo sát, nhận diện những giá trị của các ngôi chùa ở Hà Tĩnh. Còn cuốn Giá trị
nghệ thuật tượng thờ thế kỷ XVII trong chùa Việt ở Bắc Bộ của tác giả Triệu Thế
Việt, đã xác định các khái niệm mỹ thuật liên quan đến nhận dạng tượng, đặc điểm

ký”, của Trần Danh Lâm, bản dịch Ngô Đức Thọ) [47, tr.167].
Một trong những công trình cổ, có giá trị nghiên cứu chùa của Hà Tĩnh, phải
kể đến An Tĩnh cổ lục, nguyên văn chữ Pháp là Le Vieux An Tinh, là tác phẩm địa
chí của học giả người Pháp Hipolyte Le Breton, ghi chép lại những chuyện xưa ở
vùng Nghệ An - Hà Tĩnh. Cuốn sách được Tập san “Đô thành hiếu cổ”, xuất bản
năm 1936, bằng tiếng Pháp. Năm 2005, tác phẩm này được nhóm dịch giả Nguyễn
Đình Khang và Nguyễn Văn Phú dịch ra tiếng Việt, nhà xuất bản Nghệ An kết hợp
với Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản (Hà Nội, 2005).
Với sự gắn bó và yêu mến vùng đất Nghệ Tĩnh, mà thời đó, gọi là An Tĩnh,
Le Breton khi đó là giáo viên Trường Quốc học Vinh, đã luôn tìm hiểu về vùng đất
này qua học trò, qua các bậc phụ huynh là những nhà nho giàu kiến thức trong
vùng. Không chỉ nghiên cứu, tìm hiểu qua sách vở, qua lời kể của cư dân địa
phương, ông còn tổ chức cho học viên đến tham quan từng di tích. Đặc biệt đến
nghiên cứu di tích, danh thắng nào, Breton đều có chụp ảnh. Ông đã để lại một bộ
ảnh di tích, danh thắng xứ Nghệ, chụp từ những năm 1920- 1930 rất quý giá


14

(khoảng 120 tấm ảnh). Trong số di tích ông đưa sinh viên đến nghiên cứu và chụp
ảnh có nhiều ngôi chùa cổ và các bức tượng. Theo Breton, chùa Hương Tích có từ
thời Cao Biền cai trị (vào thế kỷ 9) và chính Cao Biền là người có công xây dựng
chùa này [30].
Cuốn sách Chùa cổ Hà Tĩnh của Thái Kim Đỉnh [46], đã giới thiệu khái quát
tình hình Phật giáo ở Hà Tĩnh, chủ yếu ở vùng trung tâm núi Hồng, giới thiệu đặc
điểm về chùa ở vùng này (vùng Nam sông Lam). Tác giả cũng đã khảo tả được 417
ngôi chùa, có các phụ lục, một số hình ảnh, thơ ca về các chùa ở Hà Tĩnh, đồng thời
liệt kê 26 ngôi chùa hiện chỉ còn những tên gọi. Cuốn sách là nguồn tài liệu vô cùng
quý giá để tác giả luận án thấy được sự ra đời và phát triển văn hoá Phật giáo ở một
thời kỳ của xứ Nghệ nói chung, của Hà Tĩnh nói riêng. Sách cũng khiến cho tác giả

Thực tế, Phật giáo ở Hà Tĩnh có một quá trình phát triển, có nhiều công trình
kiến trúc nghệ thuật lưu danh, nhiều hiện vật cổ có giá trị đặc biệt, hàng trăm ngôi
chùa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá của nhân dân địa phương. Công tác quản
lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo, từ lâu đã được chính quyền
quan tâm. Nghiên cứu bản Hương ước Hà Tĩnh [70], cho thấy cha ông ta xưa rất coi
trọng việc bảo vệ chùa, giữ gìn cổ vật, quan tâm các sư trụ trì.
Chẳng hạn hương ước xã Phù Lưu Thượng, tổng Phù Lưu huyện Can Lộc
(bản hương ước viết năm Tự Đức thứ 7 (1854), điều 17 về quản lý văn hóa chùa thờ
Phật), ghi rõ: “Các thôn trong xã đều có chùa đều giao cho người trong thôn biết
Phật giáo cày cấy ruộng chùa, để các ngày sóc, vọng đèn nhang kính lễ và quét dọn
sạch sẽ, không được giao cho các sư phải chi phí, làm việc mệt nhọc”.
Hương ước thôn Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Thọ
“Các đền chùa giao cho nhà sư ở chùa quét dọn sạch sẽ, nếu có gió mưa dột nát thì
trình rõ với bản thôn để tu sửa, nếu có gì sai sót thì nhà đền và nhà sư đều phải chịu
trách phạt”.
Hương ước thôn Thượng Thạch, tổng Chu Lễ, huyện Hương Khê ghi Bảo
Đại 6 (1931), Điều 14: Việc tế lễ, ngày lễ Phật hằng năm, chỉ dùng đèn nhang hoa
quả, oản, trà nước mà thôi không được mượn cớ sách nhiễu lễ vật.
Làng nào cũng có ruộng tự (ruộng chùa) giao cho các sư các chùa trông nom,
để nuôi sư và chi phí việc dầu đèn thờ Phật...


16

Đơn cử một vài ví dụ như trên cũng có thể thấy rằng, từ xa xưa, ông cha ta
đã rất quan tâm bảo tồn, giữ gìn các giá trị văn hóa Phật giáo.
Ngoài ra, có 05 công trình nghiên cứu tiêu biểu: Báo cáo tổng kết khoa học
Nghiên cứu định hướng bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di tích trên địa bàn
tỉnh Hà Tĩnh [8]; đề tài Nghiên cứu các giá trị di sản văn hoá chùa Hương Tích vào
khai thác phát triển du lịch [34]; Hà Tĩnh di tích Quốc gia và di tích Quốc gia đặc

dừng lại ở việc nêu hiện trạng bảo quản di tích. Việc đề xuất các phương án bảo vệ
di tích còn chung chung, không có tính phân loại, hơn nữa, hồ sơ chưa quy hoạch
được các phương án bảo tồn, trùng tu, tôn tạo di tích, đặc biệt là chưa đặt ra vấn đề
bảo tồn gắn với phát triển.
Đề tài Nghiên cứu các giá trị di sản văn hoá chùa Hương Tích vào khai thác
phát triển du lịch [9], đã có một cái nhìn tổng thể về di sản văn hoá chùa Hương
Tích. Bên cạnh đó, nhóm tác giả đề tài cũng đã đề ra được tám giải pháp cơ bản, cụ
thể, khoa học, để bảo tồn, phát huy các giá trị di sản vào khai thác phát triển du lịch.
Các quan điểm về di sản và quan điểm bảo tồn được nhóm tác giả thể hiện trong
công trình là cơ sở lý thuyết và thực tiễn để tác giả luận án kế thừa và phát triển. Từ
đó đề ra các biện pháp bảo tồn, phát huy di sản, cụ thể khai thác, phát triển du lịch
bền vững, đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân, phục vụ cho mục tiêu chiến
lược phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Hà Tĩnh trong cơ chế thị trường và hội nhập
quốc tế. Nội dung này sẽ được thực hiện trong luận án.
Công trình Hà Tĩnh di tích Quốc Gia và di tích Quốc Gia đặc biệt [12],
nhóm tác giả đã tập trung giới thiệu những nét cơ bản nhất về địa điểm phân bố, giá
trị kiến trúc nghệ thuật, giá trị lịch sử văn hoá của 02 di tích cấp quốc gia đặc biệt
và 70 di tích cấp quốc gia, trong đó có 07 ngôi chùa - di sản văn hoá Phật giáo được
xếp hạng di tích quốc gia, nhằm giới thiệu, tuyên truyền, quảng bá rộng rãi, giúp
cho mọi người (trong và ngoài nước, bạn bè quốc tế) có thêm những hiểu biết về
miền đất và con người Hà Tĩnh... Tuyên truyền, quảng bá những giá trị của di sản là
một trong những biện pháp bảo tồn mà tác giả luận án sẽ kế thừa, nghiên cứu, đề
cập trong luận án của mình. Nhóm các nhà nghiên cứu Phạm Đức Ban, Hồ Bách
Khoa, Nguyễn Thị Vân, Trần Hồng Dần đã khảo tả chi tiết một số di tích Phật giáo
trên địa bàn tỉnh, vấn đề bảo tồn, trùng tu, tôn tạo, xây dựng và phát huy giá trị của
di tích đã được nhóm tác giả đặt ra, nhưng chưa có giải pháp cụ thể. “Bảo tồn và


18



19

nghiên cứu quản lý di sản văn hoá Phật giáo ở Hà Tĩnh cần phải vận dụng một số
lý thuyết đặc trưng cho việc nghiên cứu này, đó là lý thuyết vùng văn hóa. Các di
tích được hình thành và phát triển trong một không gian nhất định, không gian của
Hà Tĩnh. Vì vậy, dưới lý thuyết của vùng văn hóa, sẽ cho ta thấy vai trò nhất định
của các di tích Phật giáo trong việc đóng góp vào quá trình tạo ra những nét tương
đồng và khác biệt về văn hóa của vùng lãnh thổ này, làm cơ sở để xác định những
nét đặc thù cần thiết phải có trong chính sách quản lý cho phù hợp và khoa học.
Mặt khác, Phật giáo là một tôn giáo có mặt lâu đời trong văn hóa Việt Nam.
Nghiên cứu các di sản văn hóa Phật giáo từ khía cạnh quản lý, nhất thiết phải được
đặt trong mối quan hệ tổng thể với các yếu tố, các hiện tượng văn hóa khác. Đồng
thời, phải đặt trong mối tương tác với môi trường sinh thái nhân văn là điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội của Hà Tĩnh. Nói cách khác, phải tiếp cận chúng dưới ánh
sáng của lý luận về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa.
Để phục vụ cho mục đích chính là đánh giá thực trạng quản lý, và đề ra
những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa Phật giáo, ngoài việc vận
dụng các lý thuyết vùng văn hó, lý thuyết về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa,
luận án cũng cần nghiên cứu nền tảng lý luận về quản lý di sản văn hóa, bao gồm
các khái niệm, quan điểm và nội dung quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của di sản
văn hóa theo các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa nói chung, về di sản
văn hóa Phật giáo nói riêng.
1.2.1. Mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa
1.2.1.1. Khái lược về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa
Văn hóa và tôn giáo là khái niệm khá phức tạp, làm tốn nhiều giấy mực của
các nhà nghiên cứu. Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về hai khái niệm
này. Các định nghĩa khác nhau, chủ yếu xuất phát từ các góc độ tiếp cận khác nhau.
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu cho rằng, giữa văn hóa và tôn giáo có mối quan hệ
chặt chẽ, tương tác biện chứng lẫn nhau, tôn giáo là một bộ phận của văn hóa. Hiện

giáo, văn hoá Nho giáo… Ở một quốc gia, có thể chia thành các tiểu vùng văn hoá
chịu ảnh hưởng của các tôn giáo. Tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử, tôn giáo có ít nhiều
ảnh hưởng, tác động đến toàn bộ văn hoá xã hội, cũng như các lĩnh vực riêng biệt


21

của văn hoá. Tôn giáo là một thành tố của văn hoá, được sinh ra từ văn hoá và sau
đó nó góp phần thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển văn hoá.
Chúng tôi tán thành quan điểm của tác giả Hoàng Minh Thiện khi ông kết
luận rằng:
Mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hoá là mối quan hệ bộ phận và tổng
thể không thể tách rời. Tôn giáo là một hiện tượng của văn hoá hay là
một bộ phận của văn hoá nên có mối quan hệ phổ biến, cơ bản và quan
trọng trong từng giai đoạn lịch sử. Văn hóa là toàn bộ những hoạt động
của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Nền
văn hoá bao trùm cả lĩnh vực tôn giáo [153].
1.2.1.2. Vận dụng lý thuyết về mối quan hệ giữa Tôn giáo và văn hóa trong
nghiên cứu quản lý di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Xuất phát từ những lý luận trên đây về mối quan hệ giữa tôn giáo đối với văn
hóa dân tộc và địa phương, chúng tôi nhận thấy rằng:
Thứ nhất, Phật giáo đã từng đóng vai trò là nền tảng tinh thần chủ đạo trong
nền văn hóa Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh nói riêng. Chính vì thế di sản văn hóa
Phật giáo là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa Hà Tĩnh, nó góp phần tạo
nên đặc trưng riêng của Hà Tĩnh;
Thứ hai, Phật giáo đã từng có tác động mạnh mẽ, toàn diện lên đời sống xã
hội thời Lý, Trần và còn tác động nhiều lên thành tố văn hóa khác vào các thời điểm
lịch sử khác nhau. Ngược lại, Phật giáo cũng chịu sự tác động của các thành tố văn
hóa khác. Vì thế, khi nghiên cứu công tác quản lý di sản văn hóa Phật giáo (giới hạn
trong các di tích lịch sử chùa, tháp, thiền viện), không chỉ nghiên cứu việc quản lý,

thuyết “vùng văn hóa” trong nhân chủng học Mỹ, như một bước đột phá ở cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trên cơ sở nghiên cứu khá tường tận về người da đỏ châu
Mỹ, các nhà nhân chủng học Mỹ đã đưa ra lý thuyết “vùng văn hóa”, “loại hình văn
hóa” và "trung tâm văn hóa", mà đại diện tiêu biểu là C.L.Wisler. Ông cho rằng,
nghiên cứu các vùng văn hóa, nhất thiết phải bắt đầu từ việc phân tích một tổ hợp các
yếu tố văn hóa, rằng không thể nhìn nhận riêng lẻ từng yếu tố một, chúng hợp thành
một thể thống nhất không thể chia cắt, và đó chính là kết quả của quá trình lâu dài
nhóm dân cư ấy thích ứng với những điều kiện của môi trường sinh thái.
Trên cơ sở những quan điểm lý thuyết của các nhà nhân chủng học Mỹ, các


23

nhà nghiên cứu dân tộc học Xô Viết đã kế thừa trên bình diện rộng lớn hơn, đã bàn
tới vấn đề nghiên cứu liên văn hoá. Từ những năm 30 của thế kỷ này, trong một số
công trình của S.P.Tônxtop và A.M.Dôlôrarep, đã đề cập đến vấn đề không gian địa
lý của các hiện tượng văn hoá. Vấn đề này là tiền đề cho sự xuất hiện lý thuyết về
“Loại hình kinh tế-văn hoá” và “khu vực văn hoá-lịch sử” (còn gọi là khu vực lịch
sử-dân tộc học hay vùng văn hóa - lịch sử).
Với việc đưa ra khái niệm loại hình kinh tế-văn hóa (loại hình kinh tế-xã hội)
của các nhà dân tộc học Xô Viết là để giải thích hiện tượng tương đồng và khác biệt
văn hóa kể trên: Đó là một tổng thể các đặc điểm kinh tế và văn hóa, hình thành
trong quá trình lịch sử của các dân tộc khác nhau, cùng ở một trình độ phát triển
kinh tế-xã hội và sinh sống trong môi trường địa lý tự nhiên như nhau [150, tr.28].
Để bao quát việc nhận thức các hiện tượng tương đồng và khác biệt văn hóa
giữa các vùng và các dân tộc, các nhà dân tộc học Xô Viết, không chỉ sử dụng khái
niệm loại hình kinh tế-văn hóa, mà còn dùng cả khái niệm vùng văn hóa-lịch sử
(vùng lịch sử-văn hóa). Vùng văn hóa-lịch sử (vùng lịch sử-dân tộc học hay gọi tắt
là vùng văn hóa) là một vùng mà ở đó sinh sống những tộc người. Trong quá trình
lịch sử lâu dài, giữa họ có những giao lưu, ảnh hưởng khăng khít với nhau, từ đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status