MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG KHOÁ LUẬN
Chương 1 : Vài nét về Ngự chế Việt sử tổng vịnh
1.1. Thời gian và mục đích sáng tác Ngự chế Việt sử tổng vịnh
1.2. Vài nét về diện mạo Ngự chế Việt sử tổng vịnh
Chương 2 : Sử quan của Tự Đức với lịch sử dân téc trong
Ngự chế Việt sử tổng vịnh
2.1. Tiêu chí “chia môn định loại”; lựa chọn nhân vật đề vịnh và
nội dung khen chê trong từng môn loại của Ngự chế Việt sử tổng vịnh
2.2. Sử quan của Tự Đức với lịch sử dân téc qua việc sử dụng
một số phương thức và thủ pháp đề vịnh trong Ngự chế Việt sử tổng
vịnh
2.3. Vài đánh giá về sử quan của Tự Đức với lịch sử dân téc
trong Ngự chế Việt sử tổng vịnh
Chương 3 : Vài nét về mối quan hệ giữa Ngự chế Việt sử tổng
vịnh với công việc trị vì của Tự Đức
3.1. Vài nét về công việc trị vì của Tự Đức
3.2. Mối quan hệ giữa Ngự chế Việt sử tổng vịnh với công việc trị
vì của Tù Đức
3.3. Vài kiến nghị trong việc tìm hiểu, đánh giá về Dực tông Anh
hoàng đế Tự Đức
PHẦN KẾT LUẬN
PHẦN THƯ MỤC THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC
PHN M U
Th k XIX phong tro tỡm kim cỏc vựng t mi ca cỏc nc
phng Tõy phỏt trin mnh ó lm cho nhiu nc kộm phỏt trin chõu
, chõu Phi cỏc mc khỏc nhau dn dn u ph thuc vo cỏc
nc phng Tõy. Nc Vit Nam tuy nh bộ, nhng li nm v trớ chin
lc, nhiu sn vt ó c cỏc nh thỏm him, nh truyn o phng
Tự Đức. Khiêm cung ký (Trần Đại Vinh dịch). Dẫn theo Mai Khắc ứng. Khiêm Lăng và vua Tự Đức,
NXB Thuận Hoá, Huế, 2004, tr. 174.
khi đã chết vị hoàng đế này còn phải gánh chịu những lời phê phán mạnh
mẽ của hậu thế, đặc biệt là những sử gia hiện đại. “Mặc cảm” về việc Tự
Đức để đất nước rơi vào tay thực dân Pháp khiến cho các sử gia hiện đại
coi Tự Đức là tội đồ số một của lịch sử.
Nếu nh “mặc cảm” trong giới sử học về Tự Đức thể hiện ở việc thiếu
khách quan trong đánh giá, thì “mặc cảm” đó còn nặng nề hơn trong giới
nghiên cứu văn học. Người ta quên mất rằng Tự Đức không chỉ là một
nhân vật của lịch sử, mà còn là một nhân vật của lịch sử văn học. Chỉ xét
riêng về mặt số lượng (600 bài văn, 4000 bài thơ chữ Hán, và hàng trăm bài
thơ Nôm) Tự Đức cũng xứng đáng là một danh gia của lịch sử văn học dân
téc giai đoạn nay. Về mặt nội dung và nghệ thuật, do chưa được chú tâm
nghiên cứu, tìm hiểu nên người ta cũng chưa nhận thức đầy đủ các giá trị
của khối lượng thơ văn này. Cũng do đó mà một bộ phận quan trong không
thể bỏ qua trong việc tìm hiểu, đánh giá về Tự Đức lâu nay đã bị bỏ qua.
Việc tìm hiểu thơ văn Tự Đức được đặt ra cấp bách, nó không những cho
phép tìm ra những đóng góp của Tự Đức cho lịch sử văn hoá, văn học dân
téc, mà còn tránh được những đánh giá thiếu khách quan về vị hoàng đế
được coi là “hay chữ và học vấn hàm súc nhất đời” này. Đây là lÝ do
chúng tôi chọn thơ văn Tự Đức là đối tượng để tìm hiều.
Tình hình dịch thuật, phiên âm, chú giải thơ văn Tự Đức hiện nay là
trở ngại cho tham vọng muốn tìm hiểu toàn bộ sự nghiệp thơ văn Tù Đức
của chúng tôi. Trong điều kiện về tư liệu, và cũng phù hợp với khuôn khổ
của một khoá luận tốt nghiệp bậc đại học chúng tôi chọn và khảo sát tập
thơ Ngự chế Việt sử tổng vịnh.
Tuy là một tập thơ nhỏ trong khối lượng tác phẩm đồ sộ của thơ văn
Tự Đức, nhưng Ngự chế Việt sử tổng vịnh là mét bộ phận quan trọng trong
sự nghiệp thơ văn Tự Đức. Tập thơ không chỉ là tập thơ hay về mặt nghệ
thuật, Tự Đức có nhiều đóng góp cho sự phát triển của thể tài vịnh sử, mà
giai đoạn khó khăn nhất của hoàng đế Tự Đức cũng như của đất nước, vì
thế thông qua đề vịnh các nhân vật, sự tích lịch sử trong Ngự chế Việt sử
tổng vịnh Tự Đức muốn tìm ra điều hay lẽ phải để theo, những cái xấu
đáng lên án để tránh, tìm ra những kinh nghiệm, bài học lịch sử cho bản
thân và cho các quần thần trong hoàn cảch khó khăn của vương triều. Làm
rõ mối quan hệ giữa những kinh nghiệm, bài học lịch sử trong Ngự chế
Việt sử tổng vịnh với công việc trị vì của Tự Đức là mục đích thứ hai của
chúng tôi.
3. Trên lịch trình hình thành, vận động phát triển của thể tài thơ vịnh
sử, đặc biệt là thơ chữ Hán vịnh Nam sử, Ngự chế Việt sử tổng vịnh của Tự
Đức không chỉ có địa vị trang trọng về mặt số lượng (212 bài), mà nó còn
có nhiều đóng góp cho sự phát triển của thơ vịnh sử, đặc biệt là thơ chữ
Hán vịnh Nam sử. Làm rõ một vài đóng góp của Ngự chế Việt sử tổng vịnh
cho sự phát triển của thể tài thơ vịnh sử là mục đích thứ ba của chúng tôi
trong đề tài.
Để đạt được những mục đích trên, công việc của chúng tôi được triển
khai theo các bước sau:
1. Trước khi đi sâu vào tìm hiểu nội dung Ngự chế Việt sử tổng vịnh,
cần làm rõ một số vấn đề liên quan nh: thời điểm sáng tác tập thơ; mục đích
sáng tác tập thơ; vài nét về diện mạo tập thơ…
2. Xác định tiêu chí “chia môn định loại”; lùa chọn nhân vật đề vịnh
và nội dung khen chê, lấy bá trong từng mục của Ngự chế Việt sử tổng vịnh
- đây sẽ là những nét chính trong việc làm rõ sử quan của Tự Đức với lịch
sử dân téc.
3. Sử quan của Tự Đức trong Ngự chế Việt sử tổng vịnh còn được thể
hiện ở việc sử dụng một số phương thức và thủ pháp đề vịnh đồng thời đây
cũng là đặc sắc của Ngự chế Việt sử tổng vịnh – xét về phương diện nghệ
thuật.
4. Từ những tiêu chí chia môn loại; lùa chọn nhân vật đề vịnh và nội
dung khen chê, lấy bá; thái độ tiếp cận, đánh giá qua sử dụng các phương
sỏch Ng ch Vit s tng vnh cỏc tiu truyn ó c Tựng Thin Cụng
cựng mt s b tụi phng kim v sa cha, cn c theo Bc s v bộ
Khõm Tu Vit s Chng Mc
(5)
, nhng theo chỳng tụi nhng ghi chộp h
(4)
Tự Đức. Ngự chế Việt sử tổng vịnh, NXB Thuận Hoá, Huế, 1996, tr. 26.
(5)
Tự Đức . Ngự chế Việt sử tổng vịnh , Sđd, tr. 25.
thống về sử Việt này chỉ có được sau khi Tự Đức đã xuống chỉ dụ ngày 15
tháng 12 năm Tự Đức thứ 8 (22 – 1 – 1856) sai các nho thần biên tập bé
Khâm định Việt sử thông giám cương mục – cũng chính là bé Khâm Tu
Việt sử Chương Mục. Nh vậy, thì khoảng thời gian sáng tác tập thơ là
khoảng từ năm 1856 đến năm 1873.
Về mục đích sáng tác Ngự chế Việt sử tổng vịnh của Tự Đức. Xác
định mục đích sáng tác Ngự chế Việt sử tổng vịnh thì trước hết phải dùa
vào Bài tựa sách Ngự chế Việt sử tổng vịnh do chính Tự Đức ngự chế ngày
mồng 5 tháng 6 năm Tự Đức thứ 27. Nhưng để hiểu rõ hơn mục đÝch đó,
việc đặt Ngự chế Việt sử tổng vịnh trong sù quan tâm tới sử học của bốn vị
vua đầu triều Nguyễn (Gia Long; Minh Mệnh; Thiệu Trị; Tự Đức), đặc biệt
bản thân Tự Đức là cần thiết.
Trước triều Nguyễn, các triều Lí, Trần, Hậu Lê đã chú ý biên soạn
một số bộ sử dân téc, trong đó đáng chú ý nhất là bé Đại Việt sử kí toàn
thư. Bé sử này là thành quả biên soạn, tu chỉnh của các triều đại, được mở
đầu từ Lê Văn Hưu đời Trấn soạn Đại Việt sử kí hoàn thành năm 1272, và
sử gia Ngô Sĩ Liên đời Lê Thánh Tông hoàn chỉnh với bé Đại Việt sử kí
toàn thư… Các đời kế tiếp nhau biên soạn các bộ sử của dân téc, nhờ đó
mà lịch sử của dân téc được ghi chép tương đối đầy đủ. Điều đó chứng tỏ
trước triều Nguyễn, việc ghi chép lịch sử dân téc đã được các triều đại chú
ý. Nhưng đến triều Nguyễn sau hai trăm năm nội chiến liên miên việc biên
bị ngoại bang cai trị, từ đó đi đến kết luận nguyên nhân trọng sử dưới triều
Nguyễn nói chung, đặc biệt là cuối thế kỉ XIX: “dưới triều Nguyễn, nhất là
cuối thế kỉ XIX, nước đã bị ngoại bang cai trị. Những con người có học lúc
Êy- các nhà khoa bảng - đã đi với nhân dân trong các phong trào Cần
vương kháng Pháp rồi duy tân để làm nhiện vụ yêu nước của mình. Còn có
bao nhiêu người khác, hoặc phải ra làm việc với triều đình đã đầu hàng,
hoặc Èn thân nơi thôn xóm, mượn thơ văn thời thế hay trào phúng để vơi
bt ni au bun, song trong tõm thc sõu kớn ca h vn khụng th quờn
c t tiờn, ging nũi. H ó tỡm cỏch ụn li nhng trang s c sng
vi tỡnh cm sõu sc i vi dõn tộc. Khụng bo v c c lp chớnh tr
ca dõn tộc, thỡ phi c gng duy trỡ ly truyn thng ca quc gia. Cú l ú
mi l chõn tỡnh kớn ỏo ca cỏc nh hc gi. Phi tỡm n cỏi nguyờn nhõn
tim ẩn ấy, mi ct ngha c vỡ sao m di triu Nguyn, nht l
nhng nm cui th k XIX, sang nhng nm u th k XX, cỏc tỏc phm
lch s li c biờn son mt cỏch di do nh vy
(6)
. Cỏch gii thớch ú
cú th ỳng cho giai on cui th k XIX - khi nc ta ó b ngoi bang
cai tr - nhng khụng th ph quỏt cho tinh thn trng s u triu Nguyn
núi chung. Ngay c tp Ng ch Vit s tng vnh ca T c c ng
ch vo thi kỡ thc dõn Phỏp ang tng bc thit lp nn cai tr trờn nc
ta, triu ỡnh T c liờn tip tht bi phi ln lt kớ cỏc ho c i t
nhng b ny n nhng bộ khỏc, nhng chúng ta khụng th coi vic T
c sỏng tỏc tp th ny tỡm cỏch ụn li nhng trang s cũ sng vi
tỡnh cm sõu sc i vi dõn tộc, l c gng duy trỡ ly truyn thng ca
quc gia khi khụng bo v c lp chớnh tr ca dõn tộc c. Tinh thn
trng s ca giai on u triu Nguyn v ca riờng bn thõn T c liờn
quan ti mt vn khỏc.
Trong cỏc ch d sai b tụi son cỏc b s, hay bi ta cho cỏc sỏch
c ấn hnh nh Bi ta sỏch Ng ch Vit s tng vnh, cỏc vua u triu
l ly vic i xa ể khuyn iu lnh, rn iu ỏc. Nhng li chõu phờ
ca T c trong Khõm nh Vit s thụng giỏm cng mc cú mt vi
ch l cn ỏn(xem xột vn mt cỏch thn trng), cũn li phn ln l
rút ra nhng bi hc cho ngi i hc tp. Cũn vic biờn son cỏc b
quc s v triu i mỡnh cũng l truyn li kinh nghim cho i sau.
Trong ch d cho cỏc quan son Quc s thc lc hong Minh Mnh
vit: Trm mun dng S quỏn, sai cỏc bc nho thn son bộ Quc s
thc lc, nờu nờn nhng cụng cuc xõy dng nn tng thnh vng
cho i sau bt chc vy
(9)
.
Tinh thn trng s, tớch cc kờ cu in tớch ca T c: trm ờm
no cng xem sỏch n trng canh hai, dc lũng kờ cu s vic i c, ó
(7)
Quốc sử quán triêu Nguyễn. Khâm định Việt sử thông giám cơng mục (tập 1) (Bản dịch Viện sử học),
NXB Giáo dục, 1998, tr. 17.
(8)
Tự Đức. Ngự chế Việt sử tổng vịnh , Sđd, tr. 15.
(9)
Quôc sử quàn triều Nguyễn. Minh Mệnh chính yếu,
cung cấp cho Tự Đức những kinh nghiệm trong công việc trị vì đất nước.
Đặc biệt là từ năm 1858 trở đi khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, hàng
loạt các vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải có những quyết sách để ứng phó thì
những kinh nghiệm của lịch sử đó lại càng được vận dụng nhiều hơn.
Trong giai đoạn nay Tự Đức luôn lấy lịch sử làm kinh nghiệm trong trị vì,
đưa ra những kế sách để ứng phó với Pháp, điều đó được thể hiện rõ trong
bài chế sách thi đình khoa Nhâm Tuất. Trong hoàn cảnh năm Nhâm Tuất
(1862), khi triều đình và bản thân Tự Đức đang tá ra lúng túng trong kế
sách đối phó với thực dân Pháp, để tìm ra trong sử sách những kế sách hay
có thể đối phó với Pháp, Tù Đức đã ra bài chế sách để hỏi các sĩ tử, trong
gương răn dạy mà thôi! Ngày sau, những quan, thần, sĩ, nữ, ai là kẻ hữu
chí, cùng chung quan cảm với ta qua bộ sách này, thì làm vua phải trọn đạo
làm vua, làm tôi cho trọn đạo tôi, kẻ sĩ dốc lòng trau dồi phẩm hạnh, phụ
nữ lo giữ gìn tiết trinh”
(11)
. Nhưng đọc kĩ bài tựa này thì thấy Tự Đức sáng
tác tập Ngự chế Việt sử tổng vịnh ban đầu không phải là để Ên hành ban bố
rộng rãi: “Ta tự nghĩ: công việc đã nhiều, kiến thức lại cạn, không có thì
giê rảnh rỗi suy nghĩ kĩ càng, mà chỉ thoảng thốt đặt để nên chương, sao đủ
để trưng bầy cho người đời xem. Phương chi đối với loại thơ vịnh sử có
tiếng nh Thoát Hiên ta chỉ nghe nói đến mà chưa từng thấy; thật tình không
phải ta muốn bắt chước lối nhăn mày để tranh cái đẹp, hòng noi theo dấu
vết Tao Đàn của người xưa. Gần đây ta lại gặp phải nhiều nỗi gian nan,
mối ưu phiền càng thêm chồng chất; cho nên đã từ lâu ta sống Èn mặt,
không muốn thấy, không muốn nghe. Nhưng lại cứ nghĩ đến một vài kẻ
nho thần thân cận có lòng hâm mộ, cứ tấu xin ta cho in thành sách để phát
hành, hầu làm mòi tên dẫn đầu cho Việt sử, thứ nữa là lời an ủi kẻ chưa
từng nghe. Và cũng nghĩ mình đã tốn bao nhiêu khổ tâm, nay bỏ đi cũng
tiếc…”
(12)
. Khác với các bộ sử biên soạn là để công bố rộng rãi để chấn
hưng nền cổ học, tập Ngự chế Việt sử tổng vịnh ban đầu Tự Đức không có
dự định Ên hành để giáo hoá rộng rãi. Sau vì các nho thần tấu xin và Tự
Đức thấy “bỏ đi còng tiếc” nên ông mới cho Ên hành rộng rãi để nêu gương
(11)
Tù §øc . Ngù chÕ ViÖt sö tæng vÞnh , S®d, tr. 18.
(12)
Tù §øc . Ngù chÕ ViÖt sö tæng vÞnh , S®d, tr.17.
cho đời. Nh thế ta có thể khẳng định Tự Đức làm Ngự chế Việt sử tổng
vịnh trước là cho mình, vào các bề tôi trong triều, sau đó ông mới cho Ên
vịnh chủ yếu vịnh Đế vương và các bề tôi (tổng cộng hai loại có 171 bài),
hai loại Hậu phi và Liệt nữ chỉ có 11 bài. Trong phần khảo sát nội dung
Ngự chế Việt sử tổng vịnh chóng tôi không tìm hiểu 11 bài này (do số
lượng Ýt), nhưng vẫn đặt trong tổng thể tập thơ để khảo sát những đóng
góp của Ngự chế Việt sử tổng vịnh cho sự phát triển của thể tài.
Trong 171 bài thơ vịnh các Đế vương và bề tôi từ Hùng Vương đến
nhà Hậu Lê, theo tiêu chí lịch đại có thể chia thành các thời đại lớn sau
đây: Thời đại trước độc lập và tự chủ (gồm thời Sơ sử và Bắc thuộc), và
thời đại độc lập và tự chủ. Trong thời đại độc lập và tự chủ theo thế thứ các
triều chia thành các giai đoạn nh sau: triều nhà Ngô; triều nhà Đinh; TriÒu
nhà Tiền Lê; triều nhà Lý; triều nhà Trần; và triều nhà Hậu Lê. Số năm tồn
tại của từng triều đại: nhà Ngô (938 - 965) tồn tai 27 năm; nhà Đinh (968 -
979) tồn tại 11 năm; nhà Tiền Lê (980 - 1009) tồn tại 29 năm; nhà Lý (1009
- 1225) tồn tại 216 năm; nhà Trần (1225 - 1400) tồn tại 175 năm; nhà Hậu
Lê (1428 - 1789) tồn tại 361 năm. Theo sự phân chia giai đoạn này, chúng
tôi đi khảo sát sè lương từng bài trong từng giai đoạn. Trước khi phân chia
có vài điểm chú ý sau: do thời nhà Hồ (1400- 1407) Tự Đức không coi là
một triều đại chính thống, nên những bài vịnh các nhân vật trong giai đoạn
này chúng tôi xếp vào triều đại nhà Trần. Tương tự những bài vịnh các
nhân vật giai đoạn Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê được xếp triều Hậu
Lê. Trong giai đoạn từ năm 1400 đến 1413 có nhiều cuộc khởi nghĩa của
những trung thần nhà Trần khởi nghĩa chống Minh khôi phục lại vương
triều chính thống nhà Trần, những bài vịnh các nhân vật giai đoạn này
chúng tôi xếp vào triều đại nhà Trần. Cũng có những nhân vật trước khi
theo Lê Lợi khởi nghĩa đã từng làm quan cho nhà Hồ, trong trường hợp này
chúng tôi dùa vào những hành vi, sự tích được Tự Đức chọn thuật sử, nghị
luận để xếp loại, ví dụ như Nguyễn Trãi từng làm bề tôi của nhà Hồ, nhưng
những hành vi được nghị luận là khi làm bề tôi của nhà Hậu Lê nên xếp
vào triều đại nhà Hậu Lê…
Trong mục Đế vương thời trươc độc lập và tự chủ có 7 bài, vịnh các
12 năm); Trần Thuận Tông (lên ngôi năm 1388, trị vì 9 năm); Trần Giản
Định Đế (lên ngôi năm 1407); Trùng Quang Đế (lên ngôi năm 1409, tại vị
9 năm). Triều Trần không vịnh 3 nhân vật: Trần Hiến Tông (lên ngôi năm
1329, trị vì 13 năm); Dương Nhất Lễ (tại vị một năm thì bị phế truất); Trần
Thiếu Đế (lên ngôi năm 1398, tại vị 2 năm bị Lê Quý Ly phế truất cướp
ngôi). Triều nhà Hậu Lê có 18 bài, vịnh các nhân vật: Lê Thái Tổ (lên ngôi
năm 1428, trị vì 6 năm); Lê Thái Tông (lên ngôi năm 1434, trị vì 9 năm);
Lê Nhân Tông (lên ngôi năm 1443, trị vì 17 năm); Lê Thánh Tông (lên
ngôi năm 1460, trị vì 38 năm); Lê Hiến Tông (lên ngôi năm 1498, trị vì 7
năm); Uy Mục Đế (lên ngôi năn 1505, trị vì 5 năm); Tương Dực Đế (lên
ngôi năm 1509, trị vì 7 năm); Lê Chiêu Tông (lên ngôi năm 1516, trị vì 9
năm); Lê Cung Đế (lên ngôi năm 1527, trị vì 5 năm); Lê Trang Tông (lên
ngôi năm 1533, trị vì 16 năm); Lê Kính Tông (lên ngôi năm 1600, trị vì 20
năm); Lê Thần Tông (lên ngôi năm 1619, trị vì 25 năm); Lê Hy Tông (lên
ngôi năm 1676, trị vì 30 năm); Lê Dụ Tông (lên ngôi năm 1705, trị vì 26
năm); Lê Hiển Tông (lên ngôi năm 1740, trị vì 47 năm); Lê Xuất Đế (lên
ngôi năm 1784, trị vì 4 năm). Triều Hâu Lê không vịnh 7 nhân vật: Lê Túc
Tông (lên ngôi năm 1504, trị vì chưa đầy một năm); Lê Chân Tông (lên
ngôi năm 1643, trị vì 7 năm); Lê Huyền Tông (lên ngôi năm 1663, trị vì 9
năm); Lê Gia Tông (lên ngôi năm 1672, trị vì 4 năm); Lê Phế Đế (lên ngôi
năm 1729, trị vì 4 năm); Lê Thuần Tông (lên ngôi năm 1732, trị vì 4 năm);
Lê Y Tông (lên ngôi năm 1735, trị vì 6 năm). Từ sự khảo sát các bài thơ
vịnh Đế vương ở trên, chung tôi có mấy nhận xét sau: thứ nhất, Đế vương
thời đại trước độc lập và tự chủ Tự Đức chỉ chọn và vịnh 7 nhân vật, còn
lại “bỏ qua”, trong đó có những Đế vương tại vị khá lâu như: Triệu Văn Đế
tại vị 12 năm; Triệu Minh Vương tại vị 12 năm… Thứ hai, ba triều Ngô,
Đinh, Tiền Lê thời gian tồn tại của vương triều ngắn, số lượng bài vịnh các
nhân vật ba triều đại này Ýt, còn triều Lý, Trần, Hậu Lê thời gian tồn tại
của vương triều dài, số lượng nhân vật được vịnh nhiều, ba triều đại này Tự
Đức “bỏ qua” Ýt (không vịnh: triều Lý một; Trần hai; Lê ba). Trong những
Quang Châu; Trần Phương Bình; Nguyễn Viết Triệu.
Mục Văn thần có 18 bài, trong đó: triều Lý có 1 bài, vịnh Lê Bá
Ngọc. Triều Trần có 8 bài, vịnh các nhân vật: Lê Phụ Trần; Phạm ứng
Mộng; Hàn Thuyên; Đỗ Thiên Thư; Đoàn Nhữ Hải; Trương Hán Siêu; Lê
Quát; Bùi Bá Ký. Triều Hậu Lê có 9 bài, vịnh các nhân vật: Đổng Hành
Phát; Nguyễn Trực; Võ Tụ; Thân Nhân Chung và Đỗ Nhuận; Quách Hữu
Nhiệm và Phạm Khiêm Ých; Nguyễn Bỉnh Khiêm; Võ Công Đạo; Đoàn
Nguyên Thúc; Ngô Sĩ).
Mục Võ tướng có 26 bài, trong đó: triều Đinh có 1 bài, vịnh Phạm
Cự Lượng. Triều Lý có 4 bài, vịnh các nhân vật: Lê Phụng Hiếu; Lý
Thường Kiệt; Dương Tự Minh; Võ Đới. Triều Trần có 4 bài, vịnh các nhân
vật: Trần Khánh Dư; Phạm Ngò Lão; Thiều Thốn; Trần Ngô Lang. Triều
Lê có 17 bài, vịnh các nhân vật: Đinh Liệt; Trịnh Khả; Trần Nguyên Hãn;
Lê Sát; Lê Chính; Nguyễn Văn Lang; Trần Chân; Trịnh Kiểm; Hoàng Đình
ái; Võ Văn Uyên và Võ Văn Mật; Lê Cập Đệ; Lê Bá Ly; Phạm Đốc;
Nguyễn Hữu Liêu; Văn Đình Dẫn; Nguyễn Pha; Nguyễn Trọng Khang.
Mục Gian thần có 10 bài, trong đó: triều Đinh có 1 bài, vịnh Đỗ
Thích. Triều Lí có 3 bài, vịnh các nhân vật: Lê Văn Thịnh; Đỗ Anh Võ;
Trần Thủ Độ. Triều Trần có 2 bài, vịnh các nhân vật: Trần Ých Tắc; Trần
Khắc Chung. Triều Hậu Lê có 4 bài, vịnh các nhân vật: Trịnh Duy Sản;
Trịnh Tùng; Nguyễn Công Hãng; Nguyễn Hữu Chỉnh.
Nhận xét về phần vịnh các bề tôi: nếu trong phần vịnh các Đế vương
Tự Đức có 7 bài vịnh các Đế vương thời trước độc lập và tự chủ, thì trong
phần vịnh các bề tôi không có một bài nào vịnh bề tôi thời này. Các bề tôi
được vịnh từ triều Ngô đên triều Hâu Lê, nhưng cũng chỉ tập trung vào
triều Trần và triều Hậu Lê (mục Tôn thần có 9 bài thì hai triều này có 8 bài;
mục Hiền thần có 19 bài thì hai triều này có 18 bài; mục Trung nghĩa có 35
bài thì hai triêu có 31 bài…), trong đó Tự Đức chó ý vịnh nhiều nhân vật và
sự tích triều Trần. Mặc dù thời gian tồn tại của triều Trần ngắn hơn triều
Lý, và chỉ bằng một nữa thời gian tồn tại của triều Hậu Lê, nhưng thời
vừa ca ngợi, vừa phê phán; thứ tư những bài thơ không bộc lé thái độ khen
chê của tác giả, đó là những bài thơ mà qua phần thuật sử của Tự Đức ta
không thể xác định được là chính hay tà, tốt hay xấu, còn phần đánh giá có
thể câu hái bỏ ngỏ tỏ thái độ lưỡng lự của Tự Đức (ví dụ như bài vịnh Lý
Thái Tổ), có thể là trường hợp cả bài thơ là những lời cảm khái trữ tình của
Tự Đức với nhân vật lịch sử (ví dụ bài vịnh Lê Xuất Đế)…Sự phân loại cụ
thể trong từng mục như sau:
Mục Đế vương, những bài có sắc thái ca ngợi là 7 bài, đó là các bài
vịnh: Lý Nam Đế; Trần Thánh Tông; TrÇn Nhân Tông; Trần Anh Tông;
Trùng Quang Đế; Lê Trang Tông; Lê Kính Tông. Những bài có sắc thái
phê phán là 26 bài, vịnh các nhân vật: Hùng Vương; Thục An Dương
Vương; Triệu Võ Đế; Hậu Lý Nam Đế; Lê Ngoạ Triều Đế; Lý Thái Tông;
Lý Thân Tông; Lý Anh Tông; Lý Cao Tông; Lý Huệ Tông; Trần Minh
Tông; Trần Dụ Tông; Trần Nghệ Tông; Trần Duệ Tông; Trần Phế Đế; Trần
Thuận Tông; Lê Nhân Tông; Uy Mục Đế; Tương Dực Đế; Lê Chiêu Tôn;
Lê Cung Đế; Lê Anh Tông; Lê Thế Tông; Lê Thần Tông; Lê Dụ Tông; Lê
Hiển Tông. Những bài thơ vừa có sắc thái ca ngợi, vừa có sắc thái phê phán
là 15 bài, đó là các bài vịnh các nhân vật: Sĩ Vương; Triệu Việt Vương;
Ngô Tiên Chóa; Ngô Hậu Chóa; Đinh Tiên Hoàng; Lê Đại Hành; Lý Thánh
Tông; Lý Nhân Tông; Trần Thái Tông; Trần Giản Định Đế; Lê Thái Tổ; Lê
Thái Tông; Lê Thánh Tông; Lê Hiến Tông; Lê Hy Tông. Những bài thơ
không bộc lé rõ thái độ khen, chê là 2 bài, đó là các bài vịnh: Lý Thái Tổ;
Lê Xuất Đế.
Trong phần vịnh các bề tôi: mục Tôn thần, những bài có sắc thái ca
ngợi là 5 bài, đó là các bài vịnh: Trần Quang Khải; Trần Quốc Tuấn; Trần
Nhật Duật; Trần Quốc Toản; Lê Khôi. Những bài có sắc thái phê phán là 2
bài, vịnh các nhân vật: Ngô Xương Ngập; Trần Ngạc. Những bài vừa ca
ngợi, vừa phê phán là 2 bài, vịnh các nhân vật: Trần Quốc Chân; Trần
Nguyên Đán. Mục Hiền thần: sắc thái phê phán có 1 bài, vịnh Nguyễn Mại;
những vừa ca ngợi, vừa phê phán là 4 bài, vịnh các nhân vật: Nguyễn Trãi;
đến các nho thần ở viện Tập Hiền khảo cứu sử cũ, chép lại sự tích. Dùa vào
sự uyên bác của bản thân và sử cũ do các nho thần khảo cứu để có nguồn
sử liệu hệ thống, nhưng làm thơ vịnh sử khác với các trước tác lịch sử, nêu
như trước tác lịch sử từ nguồn sử liệu phong phó, đồ sộ đòi hỏi người làm
sử phải tổng hợp sử liệu, trình bày càng chi tiết càng tốt, thì sự hạn chế về
câu chữ đòi hỏi tác giả làm thơ vịnh sử phải lùa chọn những nhân vật lịch
sử “khả dĩ có thể đề vịmh” để vịnh, và trong từng nhân vật được đề vịnh đó
cũng phải lùa chọn một số hành vi, sự tích để thuật sử, nghị luận. Những
thao tác này mỗi tác giả vịnh sử có một cách nhìn khác nhau. Còng nh thế
trong Ngự chế Việt sử tổng vịnh, từ nguồn sử liệu đồ sộ của chiều dài lịch
sử dân téc, Tự Đức chia môn loại nh thế nào? Trong từng môn loại đó Tự
Đức lùa chọn những nhân vật nào nào để đề vịnh? Trong từng nhân vật
được chọn để vịnh đó, những hành vi nào được Tự Đức chọn để thuật sử,
bình luận, đánh giá, tỏ thái độ khen chê, lấy bá? (Đây chính là nội dung
khen chê trong từng mục). Làm rõ những vấn đề này chính là nội dung
quan trọng trong cách nhìn của Tự Đức với lịch sử dân téc. Nhưng chúng ta
không được quên rằng Ngự chế Việt sử tổng vịnh là một tập thơ, vì thế so
với các trước tác lịch sử nó có những cách riêng của mình trong tiếp cận,
đánh giá nhân vật lịch sử. Tìm hiều cái nhìn của Tự Đức với lịch sử dân téc
không thể bỏ qua phương diện này. Tổng hợp lại, để tìm hiểu sử quan của
Tự Đức với lịch sử dân téc trong Ngự chế Việt sử tổng vịnh chóng tôi đi tìm
hiểu một số phương diện sau: thư nhất, làm rõ tiêu chí “chia môn định
loại”; Tiêu chí lựa chọn nhân vật để đề vịnh để đề vịnh trong từng mục;
Nội dung khen chê, lấy bá trong từng môn loại - đây chính là nội dung
quan trọng nhất của sử quan Tự Đức với lịch sử dân téc. Thứ hai, một số
phương thức và thủ pháp nghệ thuật được Tự Đức sử dụng trong đề vịnh
không những thể hiện tài năng thi ca của Tự Đức xét về mặt nghệ thuật -
đây cũng là nét đặc sắc của Ngự chế Việt sử tổng vịnh trong lịch trình phát
triển của thể tài - mà nó còn thể hiện sự tinh tế trong việc tiếp cận, đánh
giá, bình luận nhân vật lịch sử của một sử gia.