1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=========== TRƢƠNG THỊ NGỌC LAN
MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƢỚC VIỆT NAM VÀ
GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TỪ 1975 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Hà Nội - 2013
Hà Nội - 2013
3
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Tình hình nghiên cứu: 6
3. Mục đích nghiên cứu: 8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu: 9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 9
5. Cơ sở lý luận và phương pháp luận: 9
6. Đóng góp của luận văn 9
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 10
8. Kết cấu của luận văn: 10
CHƢƠNG I. MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƢỚC VÀ GIÁO HỘI, VÀI
NÉT VỀ TÌNH HÌNH, ĐẶC ĐIỂM CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY 11
1.1. Cơ sở lý luận chung của mối quan hệ giữa nhà nước và Giáo hội 11
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo 18
1.3. Mối quan hệ giữa nhà nước và Giáo hội ở Việt Nam trong lịch sử 21
1.3.1. Mối quan hệ giữa nhà nước phong kiến và tôn giáo trước khi Công giáo
được truyền vào Việt Nam 21
1.3.2. Mối quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo từ sau khi Công giáo được
truyền vào Việt Nam cho đến trước năm 1975 25
1.4. Vài nét về tình hình, đặc điểm Giáo hội Công giáo ở Việt Nam hiện nay . 34
KẾT LUẬN CHƢƠNG I 39
giáo phẩm. Là một tôn giáo có hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến
địa phương, Giáo hội Công giáo Việt Nam không chỉ đóng khung trong dân
tộc mà còn nằm trong mối liên hệ mật thiết với giáo hội hoàn vũ. Đây là một
thế mạnh của Giáo hội Công giáo nhưng nó cũng đặt ra nhiều vấn đề về mối
quan hệ giữa Giáo hội Công giáo với nhà nước thế tục.
Từ khi Công giáo được truyền vào nước ta (khoảng thế kỷ XVI), Công
giáo Việt Nam phải đối diện với 3 thách đố lớn mang tính sống còn: Công
giáo và/với tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống (đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên), Công giáo và/ với văn hóa truyền thống Việt Nam và Công giáo
và/với dân tộc Việt Nam. Đây là 3 vấn đề xuyên suốt quá trình đạo Công giáo
du nhập vào Việt Nam và tồn tại lâu dài cho đến tận ngày nay. Vấn đề Công
giáo và/với dân tộc là vấn đề quan trọng và được thể hiện qua mối quan hệ
giữa Nhà nước với Giáo hội Công giáo Việt Nam. Có thể nói trong các tôn
6
giáo ở Việt Nam, do những đặc điểm lịch sử để lại, quan hệ giữa Giáo hội
Công giáo và Nhà nước trở nên mối quan hệ cơ bản quan trọng bậc nhất, có ý
nghĩa thử thách nhất tính đúng đắn sáng tạo hay tính bất cập, chưa hiệu quả
của chính sách tôn giáo ở nước ta.
Từ năm 1975 đến nay, đất nước được thống nhất. Mối quan hệ giữa nhà
nước ta và Giáo hội Công giáo Việt Nam một mặt theo chiều hướng tích cực
với nhiều thành tựu, Công giáo đã đồng hành cùng dân tộc nhưng mặt khác
vẫn còn tồn tại những tiêu cực mà chủ yếu từ phía Giáo hội Công giáo. Vì
vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà nước và Giáo hội Công giáo Việt
Nam không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Mối quan hệ giữa nhà
nước Việt Nam và Giáo hội Công giáo từ 1975 đến nay” làm luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu:
Mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội Công giáo Việt Nam đã được
giáo ở Việt Nam nói riêng tại cuộc hội thảo “Nhà nước và Giáo hội” do Viện
Nghiên cứu tôn giáo tổ chức vào tháng 5 – 2002. Tiếp theo đó là hai hội thảo
với chủ đề “Tôn giáo và Pháp quyền ở Đông Nam Á: bước đầu trao đổi” và
“Tôn giáo và pháp quyền ở Đông Nam Á: tiếp tục thảo luận” do Viện Nghiên
cứu Tôn giáo (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) và Hội Việt - Mỹ (Liên hiệp
các tổ chức hữu nghị Việt Nam) phối hợp với Viện Can dự Toàn cầu (Hoa
Kỳ) tổ chức trong 2 năm 2006 và 2007. Tại hội thảo, các nhà nghiên cứu
trong nước và quốc tế trình bày các tham luận tập trung vào một số chủ đề: so
sánh các mô hình quan hệ nhà nước – tôn giáo; vấn đề pháp nhân tôn giáo;
tình hình hiện tại và tiến triển của luật pháp tôn giáo ở Đông Nam Á, đề cập
8
những vấn đề mới mẻ và thời sự hơn như: tôn giáo và an ninh nhà nước, các
vấn đề thuế và tài chính liên quan đến hoạt động tôn giáo, hoạt động của các
tổ chức tôn giáo nước ngoài tại Đông Nam Á, vấn đề tôn giáo và giáo
dục…Trong các tác phẩm của giới nghiên cứu Công giáo về vấn đề mối quan
hệ giữa Nhà nước và Giáo hội Công giáo tiêu biểu phải nhắc tới cuốn “Thập
giá và lưỡi gươm” của linh mục Trần Tam Tỉnh. Tác giả đã trình bày một
cách khách quan, có hệ thống về mối quan hệ giữa nhà nước và giáo hội Công
giáo Việt Nam từ buổi đầu truyền giáo cho tới những năm 1980…
Bên cạnh đó, là nhiều bài viết cũng về chủ đề này được đăng tải trên
Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Tạp chí Xưa và Nay, Nguyệt san Công giáo và
Dân tộc, Tạp chí Công tác Tôn giáo như các bài viết của tác giả Nguyễn Hồng
Dương về “Mối quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam với Giáo hội Công giáo
Rôma hiện nay”, “Một số vấn đề tôn giáo ở Việt Nam”, “Mối quan hệ tôn
giáo và chính trị - Những vấn đề lí luận và mô thức”, “Công giáo và Dân tộc
thời kỳ 1946-1954”, “Nhà nước ta với Công giáo”…; tác giả Nguyễn Quang
Hưng với bài viết: “Các nhân tố ảnh hưởng tới chính sách của Nhà nước Việt
Nam đối với Công giáo nhìn từ góc độ văn hóa - tôn giáo”; “Người Công giáo
Việt Nam trong những tháng đầu sau cách mạng Tháng Tám”; “Vài nét về lập
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần đem lại cái nhìn lịch sử cụ thể và diễn tiến mối
quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam và Giáo hội Công giáo Việt Nam giai đoạn
từ năm 1975 đến nay.
10
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn cung cấp thêm cơ sở góp phần xây dựng lý
luận về mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội, giữa tôn giáo và chính trị.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn cung cấp cho người đọc một cái nhìn
khái quát về mối quan hệ giữa nhà nước Việt Nam và Giáo hội Công giáo
trong giai đoạn từ năm 1975 đến nay. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham
khảo cho việc hoạch định các chính sách của Nhà nước về tôn giáo và các
lĩnh vực khác có liên quan.
8. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 2 chương và 7 tiết.
giáo cho mỗi cá nhân cũng như trong xã hội.
- Thần quyền hay nói cụ thể là Tòa Thánh không chỉ có quyền lực về
tinh thần mà còn thống lĩnh mọi quyền lực chính trị xã hội và tinh thần. Thậm
hí Tòa Thánh còn có quyền lực xác định các không gian quốc gia, biên giới
quốc gia, có khi cả biên giới tộc người.
- Nói một cách đơn giản, Giáo luật trở thành bộ luật cơ bản và phổ biến
của cả châu Âu thời phong kiến Trung cổ. Người ta cũng không biết đến khái
niệm xã hội dân sự, công dân bởi vì khái niệm ấy đã đồng nhất với thần dân.
Quan hệ giữa các quốc gia, tộc người cũng vậy.
Thế kỷ XVI đánh dấu một bước chuyển lớn trong đời sống tôn giáo
châu Âu. Ở những nước vẫn theo Công giáo, theo Thỏa hiệp năm 1516, tuy
chưa cắt đứt quan hệ với Giáo triều Roma, các nhà vua các nước châu Âu
được hưởng một quyền độc lập nhất định, nhưng vẫn phụ thuộc vào Rôma. Ở
các nước theo đạo Tin Lành với những tổ chức độc lập, không chịu sự chi
phối của Giáo hoàng, tuy Giáo hội vẫn có ảnh hưởng đến nhà nước.
Khác với châu Âu, ở các quốc gia phong kiến phương Đông, nhà
nước chủ động dựa vào một tôn giáo để trị nước. Ở đây, nhà vua, người đại
diện cho quyền sở hữu tối cao về đất đai, tự cho mình là thiên tử, hay nói
như C. Mác, một phần là ông vua chuyên chế có thực, một phần là một
nhân vật huyền thoại không có thực, cai quản cả con người trên trần thế,
các thần linh, ma quỷ, các vong linh người đã mất trong phạm vi lãnh thổ
mà mình cai quản.
Điều phản ánh tính khác biệt rõ ràng nhất giữa các nhà nước phương
Đông và phương Tây trong lịch sử là mỗi một con người, không loại trừ ai,
đều là đối tượng của sự thờ cúng, chí ít là được con cháu thờ cúng; nếu có
13
công với nước, với làng, được làng và nước thờ cúng. Ngược lại, ở các tôn
giáo độc thần, đối tượng thờ cúng duy nhất chỉ là Chúa (Công giáo), Thượng
đế (Islam giáo). Các tôn giáo phương Đông không mang tính độc thần, lại
và Giáo hội.
Việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và giáo hội là một vấn đề
phức tạp và kéo dài trong lịch sử nhân loại mà nguyên nhân xuất phát là từ cả
hai phía: Về phía Nhà nước, đặc biệt là các nhà nước thế tục đều mặc nhiên
thừa nhận quyền tự do tôn giáo và thi hành chính sách “phân ly với các giáo
hội”. Nhưng mặt khác vấn đề an ninh quốc gia, trật tự xã hội thường đặt ra
trước các thực tại xã hội, trong đó có các giáo hội, một nhu cầu có tính
nguyên tắc và thiêng liêng, không phải lúc nào cũng dễ dàng được các giáo
hội chấp nhận.
Về phía Giáo hội, ngoài ý muốn chủ quan của những người lợi dụng
thần quyền, còn có lý do sâu xa là tôn giáo vốn là một yếu tố nhập thể của loài
người khi hình thành xã hội. Trong khi ấy, nhà nước là một thứ quyền bính
trần thế có xu hướng quản lý, gò ép nó.
Vì vậy, khi xem xét mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị, nhà nước,
ta cần lưu ý trên cả 2 phương diện:
- Trên bình diện định chế, luật pháp:
Tại phương Tây, từ thời Cổ đại cho đến thời Trung cổ, nói chung mối
quan hệ này là đồng nhất, tôn giáo là chính trị và ngược lại. Khi nhiệm vụ xây
dựng nhà nước gia tăng với sự xuất hiện nhiều tôn giáo nhập thế, khiến quốc
vương cũng không thể đồng thời là giáo chủ. Đó là lúc buộc thế quyền và
thần quyền phải phân lập. Nói cách khác, sự thắng lợi của cách mạng tư sản
15
châu Âu là sự thắng lợi của tư tưởng quốc gia thế tục. Nguyên nhân của sự
tách biệt này nằm ở kinh tế - xã hội nhưng quá trình đó tách biệt rất lâu dài và
phức tạp. Sự tách rời của nhà nước khỏi giáo hội làm cho phạm vi ảnh hưởng
của giáo hội bị thu hẹp, và vai trò của nhà nước được gia tăng, tuy nhiên nhà
nước không giải quyết được hết các vấn đề kinh tế - xã hội. Mặt khác, cơ sở
kinh tế - xã hội cho sự tồn tại của tôn giáo vẫn còn, vì vậy, tôn giáo vẫn có vai
trò nhất định trong xã hội.
nước hoàn toàn phân ly với giáo hội.
- Tác giả Louis de Naurois với bài " Giáo hội và Nhà nước" trong Bách
khoa toàn thư Pháp phân ra ba giai đoạn: giao đoạn thần quyền, giai đoạn theo
mô hình Giáo hội Pháp mà điển hình là thời kỳ Napoleon và giai đoạn theo
chủ nghĩa tự do.
Jean Bauberot và Emile Poulat với bài "Nguyên tắc thế tục" trong Bách
khoa toàn thư Pháp đưa ra sự phân loại với hai cực hai dấu : nhà nước vô thần
mà điển hình là Nhà nước Albanie với Hiến pháp 1976 và giữa hai cực này là
những nhà nước thế tục mà điển hình là nhà nước Pháp và nhà nước Mỹ.
Trong những năm gần đây (2009 – 2011), các học giả như Cole
Durham và Brett Scharffs đưa ra mô hình tổng thể gồm 6 loại dưới đây:
1. Loại mô hình “Thần quyền tuyệt đối”: Các nhà nghiên cứu châu Âu
gọi mô hình này là mô hình Nhà nước – tôn giáo. Đặc tính là duy trì vai trò
tuyệt đối về tinh thần, hệ ý thức, pháp luật theo hướng của luật tôn giáo (rõ
nhất là luật Hồi giáo, Luật Sahria, Luật Do thái…)
Những quốc gia như Iran, Ả rập Xê út… là những nước theo mô hình
này. Như nói ở trên, những quốc gia lấy “luật đạo” bao phủ “luật đời” hiện
17
nay không nhiều. Một ghi chú cần thiết khác là, ngay ở những quốc gia như
thế này, trong một chừng mực nào đấy người ta vẫn phải tiếp thu những “tính
thế tục” nhất định.
2. Loại mô hình “Tôn giáo được chính thức hóa”: đây là mô hình đầu
tiên thuộc phạm trù Nhà nước thế tục dành cho những nước mà ở đó có những
“giáo hội được ưa chuộng”. Ở Châu Âu người ta quen gọi loại này là mô hình
Tôn giáo – Nhà nước. Anh Quốc là một thí dụ tiêu biểu cho loại này.
3. Mô hình “Chế độ hợp tác”: Là Nhà nước thế tục nhưng không quá
cứng rắn, vẫn có thể để các tổ chức tôn giáo tham gia nhất định vào các lĩnh
vực chính trị xã hội và văn hóa. Đức, Ba Lan, Tây Ban Nha…là những thí dụ
tiêu biểu.
tộc; không thể làm cách mạng thắng lợi nếu bỏ quên lực lượng này, càng
không thể để kẻ địch lôi kéo, chống lại dân tộc. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh
chủ trương: “Phải đoàn kết chặt chẽ không phân biệt đảng phái, giai cấp, tôn
giáo. Đoàn kết đó là lực lượng. Chia rẽ tức là yếu hèn”. Đây là quan điểm
nhân văn đúng đắn xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác của
cách mạng Việt Nam nói chung và công tác tôn giáo vận nói riêng.
Để tạo niềm tin nơi đồng bào có đạo, ngay sau khi nước Việt Nam Dân
chủ cộng hòa ra đời ngày 2 – 9 – 1945 thì sau đó một ngày, chủ tịch Hồ Chí
Minh thay mặt Chính phủ trịnh trọng tuyên bố: “Tín ngưỡng tự do và lương
giáo đoàn kết”. Tiếp đó, Người đã ký một loạt sắc lệnh liên quan tới tôn giáo
làm cơ sở pháp lý để các tín đồ và các tôn giáo được sinh hoạt tôn giáo bình
thường theo luật pháp và bảo vệ những quyền lợi chính đáng đó. Trong đó,
19
đáng chú ý nhất là Sắc lệnh về vấn đề tôn giáo số 234 – SL do Chủ tịch Hồ
Chí Minh ký ngày 14 – 6 – 1955 với 5 chương, 16 điều quy định chi tiết về
quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân, quyền của các giáo
hội tham gia vào các hoạt động xã hội và các phương thức quản trị của
mình. Đặc biệt, điều 13 của Sắc lệnh viết : Chính quyền không can thiệp
vào công việc nội bộ của các tôn giáo. Riêng về Công giáo, quan hệ về tôn
giáo giữa Giáo hội Việt Nam với Tòa thánh La Mã là vấn đề của nội bộ
Công giáo. Rất nhiều điều hiện nay vẫn còn giữ nguyên giá trị và vẫn được
nhiều tín đồ đồng tình nhất là trong quá trình hội nhập, mở cửa với thế giới
của nước ta hiện nay.
Có luật pháp chưa đủ, để đồng bào có đạo thực sự tin tưởng vào chính
sách của nhà nước, chống lại âm mưu chia rẽ của kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí
Minh thường xuyên nhắc nhở mọi người, nhất là cán bộ khi tiếp xúc với dân
phải làm tốt công tác tôn giáo vận, không được vi phạm tín ngưỡng, phong
tục của dân cũng không nên đưa ra những vấn đề lý luận xa vời, cần phải thận
trọng trong việc xưng hô với các giáo sĩ. Người nghiêm khắc phê phán: “Đối
mừng đồng bào Công giáo cả nước.
Người quan niệm khi giải quyết các vấn đề tôn giáo cần phân biệt rõ
hai mặt chính trị và tư tưởng trong tôn giáo, nhằm đấu tranh chống lại các thế
lực phản động muốn lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị phản động làm
ảnh hưởng đến sự nghiệp cách mạng và lợi ích quần chúng nhân dân lao
động. Vì vậy, Người khẳng định:
“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức
cá nhân.
Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả.
21
Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng.
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó phù
hợp với điều kiện nước ta.
Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp với nhau thành
một khối, tôi tin rằng họ nhất định sẽ chung sống với nhau hòa bình như
những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy”
(29, tr.325- 326].
Thực tế đã chứng minh, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Hồ
Chí Minh đã kiên trì đấu tranh chống lại những kẻ lợi dụng Công giáo nhằm
bảo vệ đoàn kết toàn dân, đồng thời “tẩy trừ những bọn phản Chúa, phản
quốc, hại dân”. Người nói: “những người Việt Nam theo Pháp và bù nhìn, làm
hại đồng bào, chẳng những là Việt gian mà còn là giáo gian. Còn những đồng
bào Công giáo kháng chiến mới thật sự là tín đồ chân chính của Đức Chúa, vì
những đồng bào ấy thật thà phụng sự Đức Chúa, phụng sự Tổ quốc” và “Cũng
như Ngô Đình Diệm là người Công giáo, cũng như Giuđa là người Công giáo,
Ngô Đình Diệm đã lợi dụng Chúa để làm ô danh Chúa, lợi dụng đồng bào để
giết hại đồng bào”.
1.3. Mối quan hệ giữa nhà nƣớc và Giáo hội ở Việt Nam trong lịch sử
1.3.1. Mối quan hệ giữa nhà nước phong kiến và tôn giáo trước khi
Lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam cũng như thế giới cho thấy,
nhà nước nào cũng phải dựa trên một nền tảng tư tưởng để tổ chức xã hội. Nếu
như thời Lê – Nguyễn, hệ tư tưởng chủ đạo của nhà nước phong kiến là Nho
giáo thì thời Đinh – Tiền Lê – Lý – Trần, hệ tư tưởng lại căn bản dựa trên tư
23
tưởng Phật giáo: "Phật giáo là một tôn giáo được giai cấp phong kiến Việt Nam
đề cao và sử dụng một cách tích cực trong nhiều thế kỷ khi nước nhà được giải
phóng khỏi ách thống trị của bọn phong kiến phương Bắc" [31, 161].
Những vị vua đứng đầu nhà nước phong kiến thời Lý – Trần hầu hết
đều là những người uyên thâm về lý luận Phật giáo và vận dụng nhiều tư
tưởng Phật giáo vào việc trị vì thiên hạ. Trần Thái Tông còn được coi là ông
tổ sáng lập ra Thiền phái đầu tiên của Việt Nam là Thiền phái Trúc Lâm. Có
thể nói, tư tưởng và giáo lý Phật giáo với tinh thần nhập thế, từ bi, hỉ xả, cứu
khổ cứu nạn thấm nhuần sâu sắc không chỉ trong điều hành chính sự của vua
chúa phong kiến mà cả trong đời sống thường nhật. Vì thế, Phật giáo dưới
triều đại Lý – Trần có bước phát triển lớn. Nhiều chùa chiền xuất hiện. Các sư
tăng và tín đồ Phật giáo phát triển cả về số lượng và chất lượng. Nhiều vị cao
tăng nổi tiếng được vua và triều đình nể trọng như thiền sư Khuông Việt,
thiền sư Vạn Hạnh , nhiều vị thiền sư có xuất thân là tầng lớp quý tộc như
Phật hoàng Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ Nhà chùa sở hữu khá
nhiều ruộng đất và do đó có một cơ sở kinh tế nhất định. Nhà chùa cũng là nơi
đào tạo ra những tăng sư giữ vai trò là những phần tử trí thức cho thời đại. Ở
nông thôn, ngôi chùa không chỉ là quy tụ tín ngưỡng mà còn là trung tâm sinh
hoạt văn hóa, hội hè và văn nghệ của quần chúng. Phật giáo có ảnh hưởng sâu
sắc trên các mặt văn hóa tinh thần của đất nước. Nó có ảnh hưởng rõ rệt đối
với văn thơ, nghệ thuật nhất là nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc. Qua sinh
hoạt và nghi lễ nhà chùa, Phật giáo còn tác động đến tư tưởng, tâm lý, phong
tục và nếp sống của đông đảo nhân dân ở các làng xã.
Từ thế kỷ XV trở đi, Phật giáo có sự suy giảm, không còn hưng thịnh
25
xây dựng chùa Bảo Thiên, Thanh Đàm, Chiêu Độ với quy mô lớn, tổ chức lễ
rước Phật Pháp Vân về kinh để cầu mưa, tổ chức lễ Vu Lan báo hiếu ngay
chốn cung đình. Dưới triều vua Lê Nhân Tông (1443 – 1459), triều đình vẫn
còn tổ chức những lễ nghi Phật giáo.
1.3.2. Mối quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo từ sau khi Công giáo được
truyền vào Việt Nam cho đến trước năm 1975
Dưới thời nhà Mạc, hệ tư tưởng Nho giáo vẫn là hệ tư tưởng chủ đạo
nhưng chiến tranh liên miên, loạn lạc kéo dài khiến cho triều đình phong kiến
lâm vào khủng hoảng. Nhà Mạc cởi mở và bao dung tôn giáo khiến cho Phật
giáo và Đạo giáo có dầu hiệu phục hưng trở lại, ngay cả trong tầng lớp Nho sĩ
cũng có nhiều người quay trở lại với Phật giáo. Tầng lớp vua quan nhiều
người tham gia xây dựng, sửa chữa nhiều chùa, quán. Nếu như thời Lý Trần,
Tam giáo song hành thì đến nhà Mạc , Phật – Khổng – Đạo hòa quyện và
nhau thành một thứ tôn giáo dung hợp thật sự để trở thành "Tam giáo đồng
quy". Nhiều chùa Tam giáo được xây dựng và tại những nơi đó, sư tăng kiêm
chức năng đạo sĩ.
Từ thế kỷ XVII, đất nước bị phân chia thành Đàng Ngoài và Đàng
Trong dưới sự cai quản của vua Lê – Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa
Nguyễn ở Đàng Trong. Nho giáo vẫn tiếp tục là hệ ý thức chính của triều đình
nhưng không còn hưng thịnh như thời trước mà đã suy vi, bởi dân chúng
không còn tin vào "Thiên tử" - người dung túng cho tầng lớp đại quý tộc ăn
chơi xa xỉ, tranh ngôi đoạt vị để cho dân tình lầm than, ai oán. Người dân
quay lại tìm hy vọng ở sự cứu khổ, cứu nạn của Phật và lãng quên thực tại
trong Đạo giáo. Thời kỳ này vẫn có nhiều quý tộc sùng đạo Phật. Chùa chiền
tiếp tục được xây dựng, nhiều vị cao tăng được vua chúa coi trọng, nghi lễ
Phật giáo được các bậc công hầu ưa thích.