Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A
Lịch sử
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thế kỷ XX nhân loại đã chứng kiến một cuộc chiến tranh thế giới
tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại - chiến tranh thế giới thứ hai (1939 –
1945). Năm 1945, cuộc chiến tranh này kết thúc với sự thất bại của các nước
phát xít, tuy vậy việc giải quyết các vấn đề liên quan đến chiến tranh vẫn đặt
ra một cách bức thiết. Đặc biệt một vấn đề nổi trội cần phải giải quyết đó là
vấn đề Đức sau chiến tranh. Bởi lẽ, Đức là nước hình thành, là nơi sản sinh ra
chủ nghĩa phát xít hiếu chiến. Và cũng chính nước Đức là nước đã châm ngòi
cho cuộc chiến tranh tàn bạo nhất lịch sử nhân loại này. Tuy vậy số phận của
nước Đức bại trận không phải được giải quyết xong xuôi ngay sau khi chiến
tranh kết thúc mà nó còn kéo dài trong suốt thời kì “chiến tranh lạnh” giữa hai
cực Xô - Mỹ và hai khối Đông – Tây.
Vấn đề Đức là một trong những điểm nóng của cuộc “chiến tranh lạnh”,
nó là nơi thể hiện gay gắt những biểu hiện của sự đối đầu Xô - Mỹ, đồng thời
tình hình chính trị ở Đức từ sau năm 1945 đến khi chiến tranh lạnh kết thúc
cũng là hậu quả của sự mâu thuẫn, đấu tranh giữa hai khối Đông – Tây.
Vì vậy việc nghiên cứu diễn biến giữa hai cực Xô - Mỹ, giữa hai khối
Đông - Tây có những ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng to lớn:
Về mặt lý luận: Như đã nói ở trên Đức là một điểm nóng trong cuộc
chiến tranh lạnh giữa hai cực Xô - Mỹ và hai khối Đông – Tây, nói cách khác
Đức chính là bức tranh thu nhỏ của cuộc “chiến tranh lạnh” giữa hai khối trên
tất cả các lĩnh vực. Do đó nghiên cứu đề tài này sẽ giúp ta hiểu rõ nội dung
cũng như diễn biến của cuộc “chiến tranh lạnh”. Qua đó ta thấy được sự phản
động của Mỹ và các nước phương Tây trong việc giải quyết vấn đề Đức.
Đồng thời cũng thấy được sự đấu tranh kiên trì bền bỉ cho nền hoà bình thế
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A
Lịch sử
Lịch sử
Cuốn “ Một số chuyên đề lịch sử thế giới” - Vũ Dương Ninh chủ biên
cũng có một chuyên đề viết về “ cuộc chiến tranh lạnh sau chiến tranh thế giới
thư hai (1947 – 1989)”. Trong đó cũng đã đề cập đến vấn đề Đức sau năm
1945 nhưng vấn đề này cũng không được trình bày một cách hệ thống mà bị
chia nhỏ thành nhiều vấn đề nhỏ tương ứng với các giai đoạn của cuộc chiến
tranh lạnh.
Nhìn chung các cuốn sách đã ít nhiều đề cập đến nước Đức sau năm
1945 nhưng về cơ bản thì chưa tập trung nghiên cứu một cách hệ thống về
vấn đề này. Vì vậy trong phạm vi tiểu luận này người viết muốn hệ thống lại
một cách tương đối về diễn biến của cuộc “chiến tranh lạnh” thông qua việc
giải quyết vấn đề Đức sau năm 1945.
3. Phương pháp nghiên cứu.
Can cứ vào nguồn tài liệu có được, trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, người viết sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp
logic là hai phương pháp chính để nghiên cứu vấn đề.
Ngoài ra đề tài còn sử dụng thêm các phương pháp bổ trọ khác như:
phương pháp so sanh, phân tích, tổng hợp…
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận.
4.1 Đối tượng nghiên cứu.
Tiểu luận tập trung nghiên cứu về những diễn biến cụ thể của cuộc “
chiến tranh lạnh”, những mâu thuẫn đấu tranh trên các lĩnh vực chính trị, vũ
trang giữa hai cường quốc Xô - Mỹ, hai cực Đông – Tây trong việc giải quyết
vấn đề Đức sau năm 1945.
4.2 Phạm vi đề tài.
Căn cứ vào nội dung, đối tượng của tiểu luận mà người viết xác định
phạm vi tiểu luận như sau:
Về thời gian: Đề tài tiểu luận chỉ đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu việc giải
quyết vấn đề Đức sau năm 1945 (trong cuộc “chiến tranh lạnh”) nhưng để
Ngay từ đầu cuộc chiến tranh, khối trục phát xít Đức – Italia - Nhật Bản
đã liên tiếp giành thắng lợi, uy hiếp nhiều nước ở châu Âu. Trước tình hình đó
đã khiến các nước lớn Mỹ, Anh, Liên Xô họp bàn để chống lại chiến tranh
phát xít, thành lập ra Mặt trận Đồng minh chống phát xít. Sự phối hợp quân
sự của các nước Đồng minh đã từng bước giành thắng lợi. Đặc biệt từ sau
chiến thắng của Liên Xô ở trận Xtalingrát (11/1942 – 2/1943) và sự đầu hàng
của Italia (3/9/1943), các nước Đồng minh đã mở mặt trận phía Tây tấn công
vào sào huyệt của phát xít Đức. Quân Đức dần bị đánh bại, việc chiến thắng
chủ nghĩa phát xít của quân Đồng minh đã dần mở ra trước mắt.
Khi chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít đã sắp giành thắng lợi hoàn
toàn cũng là lúc các nước Đồng minh phải họp bàn để nghĩ cách giải quyết
các vấn đề của chủ nghĩa phát xít sau chiến tranh đặc biệt là chủ nghĩa phát
xít ở Đức. Việc giải quyết vấn đề Đức phát xít sau chiến tranh là vấn đề tối
quan trọng bởi vì Đức là nơi phát sinh chủ nghĩa phát xít,là nước châm ngòi
cho cuộc chiến tranh, đồng thời nước Đức có vị trí tiền đồn ở châu Ấu. Việc
tổ chức lại nước Đức sau chiến tranh có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối
với các nước châu Âu mà còn đối với nền hoà bình dân chủ của cả thế giới.
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A
Lịch sử
Việc phát triển nước Đức theo con đường chính trị nào cũng là vấn đề đấu
tranh gay gắt giữa hai nước Xô - Mỹ và hai cực Đông Tây trong cuộc chiến
tranh lạnh sau này. Nói cách khác, việc giải quyết vấn đề Đức là một trong
những vấn đề mấu chốt quan trọng trong cuộc chiến tranh lạnh (1947 – 1989).
1.2 Thoả thuận của các nước đồng minh trong hội nghị Ianta và
Pôtxđam về việc giải quyết vấn đề Đức sau chiến tranh.
1.2.1 Hội nghị Ianta (4 – 12/2/1945)
Trong khi quân đội của Đồng minh tiến vào cửa ngõ của Đức, thì ngày
4/2/1945 nguyên thủ ba quốc gia Liên Xô, Mỹ, Anh đã gặp nhau tại Crưm để
nhóm họp Hội nghị Ianta. Hội nghị đã thống nhất ý kiến về việc tiếp tục chiến
lẫn nhau giữa các cường quốc Đồng minh ngày càng sâu sắc hơn.”
Như vậy, ngay khi chiến tranh chưa kết thúc, các nước Đồng minh đã
họp bàn để giải quyết về vấn đề Đức điều đó cho thấy quyết tâm cũng như
niềm tin vào sự thắng lợi của họ vào cuộc chiến tranh chống phát xít.
Trong thời gian tiếp theo, do có những bất đồng về quan điểm chính trị,
về tư tưởng, về quyền lợi nên giữa các nước Đồng minh đã bộc lộ những mâu
thuẫn và hiệp ước Pôtxđam vừa là sự thoả thuận nhưng cũng đã bộc lộ mâu
thuẫn giữa một bên là Mỹ, Anh, Pháp và một bên là Liên Xô.
1.2.2 Hội nghị Pôtxđam (17/7 -2/8/1945)
Ngày 16/4/1945, Liên Xô mở mặt trận tiến công vào Béclin, sào huyệt
cuối cùng của phát xít Hitle. Sau nửa tháng chiến đấu, ngày 2/5 Hồng quân đã
chiếm toàn bộ thành phố Beclin, hơn 7vạn quân phát xít còn lại đã đầu hàng
không điều kiện.
Ngày 9/5/1945 lễ kí kết văn bản đầu hàng không điều kiện của phát xít
Đức đã được tiến hành tại Beclinc - cuộc chiến tranh khốc liệt ở châu Âu đã
chấm dứt, phát xít Đức và bè lũ ở châu Âu bị tiêu diệt hoàn toàn.
Sau khi chiến tranh kết thúc ở châu Âu, nhiều mâu thuẫn mở ra và nhiều
vấn đề quốc tế lại nổi lên trong đó quan trọng nhất là vấn đề Đức và kết thúc
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A
Lịch sử
chiến tranh ở Viễn Đông. Do đó ngày 17/7/1945 nguyên thủ ba cường quốc Liên
Xô, Mỹ, Anh là Xtalin, Truman (thay Rudơven mới mất ngày 12/4/1945)và
Sơcsin (sau Atly thay ngày 28/7) đã họp ở Pôtxđam. Đây là cuộc họp thượng
đỉnh cuối cùng của ba cường quốc trong liên minh chống phát xít.
Hội nghị đã quyết định thành lập Hội đồng ngoại trưởng bao gồm đại
diện của Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc có nhiệm vụ chuẩn bị những
hoà ước sẽ ký với Đức và các nước đồng minh của Đức.
Đêm ngày mùng 01 rạng sáng ngày 02/08/1945, ba nguyên thủ quốc gia
đã cùng nhau kí vào buên bản Hội nghị Pôtxđam. Kết quả của các cuộc hội
bù những tổn thất chiến tranh mà Đức gây ra cho các nước bị Đức xâm lược.
Đồng thờ bồi thường cũng là biện pháp để thực hiện giải pháp nước Đức và
hường nền kinh tế Đức phát triển theo hướng hoà bình. Quy định nước Đức
phải bồi thường tối đa có thể cho những thiệt hại mà Đức gây ra cho các nước
Đồng minh và các nước bị Đức xâm lược.
Như vậy dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng cuối cùng các nước
Đồng minh đã thống nhất được với nhau về nguyên tắc chính sách đối với
nước Đức sau chiến tranh. Tuy nhiên người ta vẫn thấy ở trong Hiệp ước có
những điểm thể hiện khả năng xuất hiện bất đồng giữa các nước này. Ví dụ
như: Hiệp ước này định rõ là mỗi lực lượng chiếm đóng đều có toàn quyền
điều hành khu vực của mình, như vậy là họ chỉ cùng hành động một khi họ
thống nhất với nhau và đương nhiên khi có những ý kiến bất đồng thì họ sẽ tự
làm theo ý riêng mình (thực tế điều này đã xảy ra những năm sau đó); hoặc
như vấn đề liên quan đến đường biên giới các nước, việc định biên giới Đức –
Ba lan trong khi biên giới phía tây của Liên Xô được mở rộng thêm vào Ba
lan làm cho các nước phương tây lo lắng, nhất là Anh.
Nhìn chung, Hiệp ước Pôtxđam đã được kí kết dựa trên sự thống nhất
của các cường quốc, tuy nhiên nó cũng đã bắt đầu bộc lộ những mâu thuẫn về
mặt quyền lợi, tư tưởng giữa các nước. Hiệp ước này cũng không được thực
hiện triệt để sau này. Ở phía Đông Đức thuộc phạm vi kiểm soát của Liên Xô,
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A
Lịch sử
Liên Xô đã thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định như tịch thu tài sản của bọn
phát xít, quốc hữu hóa công nghiệp, cải cách ruộng đất nhằm tước bỏ quyền
lực kinh tế của các tập đoàn tư bản độc quyền. Nhưng ở phía tây Đức việc này
bị khất lần mãi, sau chỉ được thực hiện nửa vời.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự sụp đổ hoàn toàn của chủ
nghĩa phát xít, đồng thời nó cũng làm thay đổi tương quan lực lượng ở châu
Âu và thế giới. Các nước khác kể cả Anh, Pháp đã quá mệt mỏi sau chiến
đưa ra buộc tội là : tham gia kế hoạch hoặc kích động tội phạm chống lại hoà
bình; Tội phạm chống lại hoà bình hoặc gây chiến tranh xâm lược; Tội
phajchieens tranh nghĩa là xâm phạm các thoả ước quốc tế về chiến tranh; Tội
chống lại nhân loại trước hết là tội diệt chủng. Sau gần một năm làm việc,
Toà tuyên án 12 tên chịu phạt tử hình trong đó có: Gơrinh - người có quyền
lực thứ hai sau Hitle trong chính phủ chuyên chế phát xít Đức; Ribentơroop-
ngoại trưởng Đức, Hanphranh( Hans Frank)-toàn quyền Đức tại Ba lan… còn
một số tên tội phạm khác cũng đáng bị xử tử hình hoặc phải tù tội nặng nhưng
Mỹ, Anh , Pháp chỉ kết tội nhe như Hetxơ, hoặc tha bổng như Phôn paben,
hoặc dung túng để cho một số khác chạy ra nước ngoài
Tuy không đạt được mọi kết quả nhưng việc xét xử mọi tội ohamj chiến
tranh ở Nuyrămbe cũng đã có tác dụng quan trọng trong việc củng cố những
thắng lợi chống phát xít, và lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã tổ chức một
toà án quốc tế để trừng trị bọn tội phạm gây ra chiến tranh xâm lược.
Về chính trị; Ở Đông Đức, Liên Xô đã giúp đỡ các lực lượng dân chủ
cương quyết thi hành các điều đã ký kết tại Hiệp ước Pôtxđam. Các lực lượng
quân sự, các tổ chức vũ trang và cá tổ chức phát xít đều bi giải tán hoặc bị
tiêu diệt hoàn toàn. Ở Tây Đức, các nước Mỹ, anh, Pháp đã dung túng nuôi
dưỡng lực lượng quân phiệt, cho phép các thế lực này tồn tại và phục hồi dưới
các hình thức che đậy khác nhau.
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A
Lịch sử
Về kinh tế: Ở Đông Đức cơ sở kinh tế của bọn phản động phát xít và
quân phiệt đã bị tiêu diệt, trong đời sống chính trị đã có những cải cách dân
chủ cơ bản;chính quyền đã chuyển sang tay của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động. Ở Tây Đức, những cơ sở kinh tế của bọn phát xít và quân phiệt
vẫn tiếp tục được duy trì; các công ty độc quyền , các tơrơt, cacten được giải
tán một cách giả tạo bằng cách phân tán chia nhỏ; các cơ sở công nghiệp quân
sự vẫn được duy trì nguyên vẹn như xí nghiệp sản xuất máy bay Metxcsơmit,
“tái tạo các mối quan hệ kinh tế lành mạnh trên thế giới” và “làm hồi sinh một
nền kinh tế thế giới đang bắt đầu hoạt động”.
Tuy vậy, theo J.Gimbel, một nhà sử học Mỹ, thực chất kế hoạch này là
nhằm vào nước Đức mà chủ yếu là liên vùng kinh tế BIZONE cua Anh và Mỹ
và các nước Tây âu thân Mỹ song được nguỵ tạo là kế hoạch viện trợ chung
cho cả châu Âu. Trước đó Mỹ cũng đã viện trợ phần nào cho các vùng kiểm
soát của các nước phương Tây ở Đức nhưng chưa đủ để giải quyết tình trạng
bi đát của Đức. Điều này làm cho Mỹ lo sợ khu vực phía Tây sẽ bị ánh hưởng
bởi những tiến triển tích cực của quá trình dân chủ hoá ở phía Đông do Liên
Xô kiểm soát.
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A
Lịch sử
Ở Đức, tại các khu vực do các nước phương Tây kiểm soát, hầu hết các
lực lượng chính trị (trừ Đảng Cộng sản với phản ứng yếu ớt) đều nhất trí nhận
viện trợ của kế hoạch Macsan. Viện trợ gồm hàng hoá chủ yếu là lương thực,
thực phẩm, và tín dụng. tín dụng được chuyển cho các nước qua nhân hàng,
được rut theo đơn vị tiền tệ của nước sở tại. Tại mỗi nước đều có lập ra một
tài khoản đầu tư cho các hoạt động kinh tế. Cho đến năm 1957,các khu vực
Tây Đức đã nhận một khoản khoảng 1,7 tỉ đôla. Khu vực Đông Đức do Liên
Xô kiểm soát không tham gia chương trình này. Do vậy kế hoạch Macsan đã
đóng góp một phần không nhỏ vào việc chia rẽ nước Đức, đó là một bước tiến
trên con đường dẫn đến sự chia rẽ nước Đức về kinh tế cũng như chính trị.
Đối với Liên Xô, việc tái thiết nước Đức bằng tín dụng Mỹ và khả năng
một số nước Đông Âu có thể tham gia vào kế hoạch Macssan theo điều kiện
của Mỹ chính là một đòn đánh chính trị nhằm vào Liên Xô. Để đối phó lại Liên
Xô và các nước Đông Âu đã nhóm họp tại Vacsava vào tháng 9/1947 tuyên bố
thành lập Cục Thông tin quốc tế và thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV)
để đối lập với “tổ chức vì sự hợp tác kinh tế Châu Âu”. Thế giới đã chính thức
chia thành hai phe do hai cường quốc Liên Xô và Mỹ cầm đầu.
Liên Xô đã đề nghị thành một chính phủ Trung ương của Đức theo như
Hiệp ước Pôtxđam nhưng các nước phương Tây không tán thành; Liên Xô lại
đưa ra đề nghị thành lập Hội đồng cố vấn chung cả nước Đức ở Beclin gồm đại
biểu của các đảng phái dân chủ, các công đoàn tự do và các tổ chức quần chúng
chống phát xít nhằm tạo điều kiện kiện tiếp xúc giao lưu giữa hai miền tiến đến
thành lập nước Đức thống nhất nhưng cũng bị Mỹ, Anh, Pháp từ chối…
Như vậy, sau Hội nghị ngoại trưởng ở Luân đôn việc giải quyết tương lai
nước Đức trở thành một nước thống nhất và dân chủ vẫn bế tắc, mâu thuẫn về
lập trường giữa Liên Xô và các nước Mỹ, Anh, Pháp ngày càng căng thẳng.
Trong khi Liên Xô luôn tích cực vận động cho việc thống nhất nước Đức thì
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A
Lịch sử
Mỹ lại luôn âm mưu chia cắt nước Đức lâu dài, điều này dẫn đến sự chia cắt
nước Đức thành hai quốc gia riêng biệt năm 1949.
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A
Lịch sử
2.1.2 Nước Đức bị chia cắt và âm mưu tái vũ trang ở Tây Đức (1948 –
1955).
a. Qúa trình chia cắt nước Đức (1948 – 1949).
* Hội nghị Luân Đôn (Từ 23/2 – 6/3/1948 và từ 2/4 – 1/6/1948)
Từ ngày 23/2 đến ngày 6/3/1948 và từ ngày 20/4 đến 2/6/1948 đã diễn ra
Hội nghị giữa ba cường quốc Mỹ, Anh, Pháp ở Luân đôn. Trong thời gia khá
dài này Hội nghị đã bàn về những vấn đề chính sau: Tổ chức chính trị ở châu
Âu, chế độ khai thác than ở vùng Rua, chế độ chiếm đóng mới ở Tây Đức,
việc cải cách tiền tệ ở Đức…
Các nước tham gia Hội nghị đã xem việc thành lập mọt quốc gia Tây
Đức riêng rẽ là có ý nghĩa đặc biệt. Về vấn đề này lúc đầu nước Pháp còn
chưa thống nhất lập trường với Mỹ và Anh, và Pháp sợ quốc gia Tây Đức này
Ngày 18/6/1948, các nhà chức trách Mỹ, Anh, Pháp ở Tây Đức và tây
Beclin đã tiến hành một cuộc cải cách tiền tệ ở đây. Một đồng Mác mới đã
lưu hành trong các khu vực này. Các chính phủ phương Tây muốn dùng đồng
Mác mới để lũng đoạn nền kinh tế Đồng Đức vì tình hình kinh tế của Đông
Đức và Tây Đức có liên quan mật thiết với nhau. Beclin là trung tâm kinh tế
lớn của Đông Đức, đồng thời Đông Đức đang tiếp tế thực phẩm cho Tây
Beclin. Như thế nếu đồng Mác mới được lưu hành ở Tây Đức thì sẽ lan tràn
vào Đông Beclin và Đông Đức và đương nhiên Đông Đức sẽ bị đặt vào ảnh
hưởng của Tây Đức và kế hoạch Macssan.
Do đó để bảo vệ nền kinh tế Đông Đức Liên Xô phải thi hành những hạn
chế về việc đi lại giữa khu miền Tây và miền Đông, cũng như giữa các khu vực
Đông và Tây Beclin. Đồng thời, ở Đông Đức một cuộc cải cách tiền tệ dân chủ
cũng được diễn ra nhằm góp phần ổn định và phát triển kinh tế vùng này.
Các nước phương Tây đã vin vào việc Liên Xô hạn chế đi lại giữa các
vùng miền để thổi phồng cái gọi là “vụ phong toả Beclin”. Mỹ và các nước
phương tây đã lập “cầu hàng không” để duy trì tiếp tế cho Tây Beclin. Đồng
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A
Lịch sử
thời cũng thông qua “cầu hàng không”,một số lượng lớn máy bay và các lực
lượng vũ trang được đưa vào Tây Đức gây nên tình hình quốc tế căng thẳng
và phức tạp hơn.
Chính phủ Mỹ, Anh, Pháp gửi công hàm cho Liên Xô đòi huỷ bỏ ngay
lệnh phong toả Tây Beclin. Liên Xô kiên quyết bác bỏ đề nghị mang tính chất
tối hậu thư đó nhưng cũng thể hiện rõ quan điểm sẵn sàng thương lượng để
giải quyết vấn đề Đức.
Các cuộc thương lượng đã không đi đến thoả thuận nào. Tháng 9/1948
Mỹ, Anh, Pháp đưa vấn đề này ra Hội đồng Bảo an của Liên Hợp Quốc. Điều
này lại vi phạm Hiến chương Liên hợp Quốc vì không có cơ quan nào của
Liên hợp quốc có thể can thiệp vào vấn đề Đức ngoài bốn cường quốc chiếm
Đồng minh tối cao ở Tây Đức với tư cách là cơ quan kiểm soát cao nhất của 3
cường quốc chiếm đóng. Như vậy là các nước này đã đơn phương thủ tiêu bộ
máy kiểm soát của bốn nước và quyết tâm chia rẽ nước Đức.
Các nước phương Tây đã cho triệu tập Hội đồng Quốc hội ở Bon thông
qua dự thảo Hiến pháp của Cộng hoà Liên bang Đức. Tiếp đến, ngày
14/8/1948 họ đã tiến hành tổng tuyển cử riêng rẽ. Ngày 7/9/1949 Quốc hội và
Hội đông Liên bang đã triệu tập phiên họp đầu tiên và thông qua Hiến Pháp
và thành lập Chính phủ Cộng hoà Liên bang.
Liên Xô và các nước XHCN kiên quyết lên án việc thành lập quốc gia
riêng rẽ này.
Tháng 5/1949 đại biểu của tất các đảng phái dân chủ ở cả hai miền nước
Đức đã họp Đại hội Nhân dân Đức lần thứ3. Đại hội bầu ra Hội đồng nhân
dân nhằm tiếp tục cho hoà bình và thống nhất đất nước. Ngày 7/10/1949, Hội
đồng nhân dân Đức tuyên bố thành lập Cộng hoà Dân chủ Đức, đồng thời
thông qua chương trình đấu tranh của nhân dân Đức đó là: thống nhất nước
Đức, kí kết hoà ước, rút hết quân đội chiếm đóng, thủ tiêu hoàn toàn chủ
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A
Lịch sử
nghĩa quân phiệt, khôi phục nền độc lập dân tộc và chủ quyền của nhân dân
Đức trên cơ sở dân chủ.
Ngay sau khi thành lập, chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức đã được Liên
Xô trao trả lại những quyền về đối nội và đối ngoại. Đến ngày 15/10/1949
Liên Xô công nhận chính phủ nước Cộng hoà Dân chủ Đức. Sau đó trong
tháng 10 và 11/1949 các nước XHCN cung đặt quan hệ ngoại giao với Đức.
b. Âm mưu tái vũ trang Tây Đức.
Hai nước Đức đã được thành lập và phát triển theo hai đường hướng
hoàn toàn khác nhau do đó vấn đề thống nhất Đức trở nên xa vời hơn. Trong
khi đó chiến tranh lạnh giữa hai phe ngày càng leo thang, tình hình thế giới rất
căng thẳng, dư luận phương tây lo ngại nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng
chính là bước đầu tiên tiến đến thành lập lực lượng vũ trang Tây Đức.
Kế hoạch Pleven.
Trước đề nghị của Mỹ về vấn đề đưa Đức vào khối NATO, chính phủ
Pháp đã bác bỏ dự án đó, một phần là sợ dư luận Pháp phản đối mạnh mẽ,
một phần là họ không muốn thấy một nước Đức mạnh mẽ lên ở châu Âu.
Tháng 10/1950, thủ tướng Pháp đưa ra đề nghị thành lập “Quân đội Châu
Âu”, trong đó Tây Đức có thế gia nhập với một số đơn vị nhỏ riêng lẻ. Mục
đích của kế hoạch này là bước đầu khôi phục lực lượng quân sự Đức và đưa
Tây Đức vào hệ thống quân sự Tây Âu với điều kiện Pháp có thể kiểm soát
được và duy trì vai trò lãnh đạo của mình ở Tây Âu.
Tuy nhiên kế hoạch này bị Tây Đức phản đối, Mỹ ủng hộ lập trường của
Tây Đức nên cuối cùng Pháp buộc phải nhượng bộ.
Hiệp ước Bon – Pari 1952.
Ngày 26/5/1952, Hiệp ước giữa ba cường quốc phương Tây và Tây Đức
đã được ký kết ở Bon. Ngay trong phần mở đầu Hiệp ước đã xác định đưa
Tây Đức vào “Cộng đồng phòng thủ Châu Ấu”. Hiệp ước tuyên bố huỷ bỏ
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A
Lịch sử
chế độ chiếm đóng và giao cho Tây Đức toàn quyền giải quyết các vấn đề đối
nội và đối ngoại, nhưng các lực lượng vũ trang phương Tây vẫn đóng trên đất
Đức và chính phủ các nước này vẫn có quyền giải quyết vấn đề Đức kể cả vấn
đề thống nhất nước Đức. Các nước tham gia hiệp ước phải được áp dụng trên
toàn nước Đức nghĩa là các nước phương Tây đòi mở rộng thể chế của Cộng
hoà Liên bang Đức sang cả phía Đông Đức.
Ngày 27/5/1952, tại Pari đại biểu các nước CHLB Đức, Italia, Bỉ, Hà lan,
Lúc-xăm-bua đã kí hiệp ước thành lập “Cộng đồng phòng thủ chung Châu
Âu”. Hiệp ước này đề cập đến việc thành lập “Quân đội Châu Âu” gồm lực
lượng vũ trang của các nước tham gia Hiệp ước. Quân đội Đức ban đầu sẽ
được thành lập với 12 sư đoàn và tham gia “ Quân đội Châu Âu”. Hiệp ước
XHCN. Giới cầm quyền Mỹ, Anh, Pháp tìm mọi cách nhân nhượng nhau để
đi đến xúc tiến khôi phục nhanh chóng chủ nghĩa quân phiệt ở Tây Đức, tái
vũ trang Đức và lôi kéo Tây Đức gia nhập NATO. Hiệp ước Pari đã gây ra
những cản trở mới trên con đường giải quyết vấn đề Đức, làm cho tình hình
Châu Âu và thế giới hết sức căng thẳng và phức tạp.
c. Thái độ của Liên Xô và các nước XHCN đối với âm mưu tái vũ trang
Tây Đức của các nước phương Tây.
Việc Mỹ và các nước phương Tây xúc tiến để tái vũ trang cho Tây Đức
và đưa Đức vào NATO đã vi phạm trắng trợn những thoả thuận Ianta và
Pôtxđam, đồng thời cũng đe doạ nền hoà bình,an ninh chung của thế giới. Do
đó Liên Xô và các nước XHCN đã có thái độ và hành động kiên quyết phản
đối, đồng thời kiên trì đấu tranh cho sự thống nhất nước Đức.
Ngày 5/10/1952, chính phủ Liên Xô gửi công hàm cho các nước phương
Tây kiên quyết đòi hỏi phải kí hoà ước với Đức và giải quyết vấn đề Đức
trong thời hạn ngắn nhất trên cơ sở thành lập một nước Đức thống nhất, dân
chủ. Trái lại các nước phương Tây chỉ đồng ý tiến hành Tổng tuyển cử tự do
ở Đức dưới sự kiểm soát của Đức mà thôi.
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A
Lịch sử
Cuộc đấu tranh của Liên Xô và các nước XHCN đã làm cho việc phê
chuẩn Hiệp ước Bon –Pari phải kéo dài trên hai năm, Quốc hội Pháp trước
sức ép của nhân dân đã không phê chuẩn Hiệp ước này làm cho việc khôi
phục chủ nghĩa quân phiệt Đức bị kéo dại thêm một thời gian.
Thấy rõ nguy cơ chủ nghĩa quân phiệt được phục hồi ở Tây Đức, Đông Đức
và các nước dân chủ ở Châu Âu càng kiên quyết đâu tranh cho việc giải quyết
hoà bình vấn đề Đức và giữ giữ nền hoà bình an ninh chung của Châu Âu.
Hội nghị Ngoại trưởng ở Beclin 1954.
Lập trường của Liên Xô là luôn luôn cố gắng làm cho tình hình thế giới
bớt căng thẳng bằng cách thương lượng hoà bình. Ngày 3/11/1953 Liên Xô