Thanh toán qua ngân hàng khi khấu trừ thuế GTGT - Pdf 26

Cùng tìm hiểu: Thanh toán qua
ngân hàng khi khấu trừ thuế
GTGT
Gần đây có trả lời một câu hỏi về thuế GTGT, đại khái: Luật thuế GTGT mới quy
định đối với hàng hóa mua nào trên 20 triệu đồng muốn được
khấu trừ thuế GTGT
đầu vào phải có "chứng từ thanh toán qua
ngân hàng". (1) Vậy chứng từ thanh
toán qua ngân hàng đối với hàng hoá dịch vụ mua vào trên 20 triệu đồng là những
chứng từ nào? (2) Chúng tôi dùng phương thức chuyển tiền mặt vào tài khoản của
bên bán có được xem là thanh toán qua ngân hàng?
Đọc lại mấy văn bản quy định về hoàn thuế GTGT mới thấy vấn đề hổng đơn giản
chút nào. Hôm nay tranh thủ ghi lại mấy dòng để chia sẻ, hy vọng giúp các
saganors rộng đường tham khảo.
Theo quy định tại Phần III Mục 1.3 Điểm b Thông tư 129/2008 thì: Đối với hàng
hóa mua nào trên 20 triệu đồng muốn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào phải có
"chứng từ thanh toán qua ngân hàng".
A. Đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng thì có
hướng dẫn cụ thể

Theo quy định tại Phần B Mục III Điểm 1.3 Khoản c3 Thông tư 129/2008/TT-
BTC ngày 26/12/2008 thì:
Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sang
tài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toán
phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ
thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận
được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu. Trường hợp thanh toán chậm trả,
phải có thỏa thuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu, đến thời hạn thanh toán cơ sở
kinh doanh phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Trường hợp uỷ thác xuất
khẩu thì bên nhận uỷ thác xuất khẩu phải thanh toán với nước ngoài qua ngân
hàng.

chính ;
+ Trường hợp hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thanh toán bằng hàng là trường hợp
xuất khẩu hàng hóa (kể cả gia công hàng hóa xuất khẩu), dịch vụ cho tổ chức, cá
nhân nước ngoài (gọi tắt là phía nước ngoài) nhưng việc thanh toán giữa doanh
nghiệp Việt Nam và phía nước ngoài bằng hình thức bù trừ giữa giá trị hàng hóa,
dịch vụ xuất khẩu, tiền công gia công hàng hóa xuất khẩu với giá trị hàng hóa,
dịch vụ mua của phía nước ngoài ;
B. Đối với hàng hoá mua bán nội địa:
Hiện vẫn chưa có hướng dẫn, ngay cả Công văn. Có thể nói, khi thanh toán sử
dụng nghiệp vụ ngân hàng chúng ta có 3 tình huống:
1. Dùng tiền mặt chuyển vào tài khoản bên bán (thực hiện tại Ngân hàng).
2. Dùng dịch vụ chuyển tiến của ngân hàng để chuyển tiền mặt cho đại diện hợp
pháp (Giám – Tổng Giám đốc) bên bán (thực hiện tại Ngân hàng).
3. Chuyển tiền từ tài khoản bên mua sang tài khoản bên bán (thực hiện tại Ngân
hàng).
Ba trường hợp trên đều được ngân hàng ghi phiếu có nêu nội dung theo yêu cầu
người chuyển (Doanh nghiệp A chuyển trả tiền mua hàng cho Doanh nghiệp B).
Nhìn vào 3 trường hợp trên, Trường hợp thứ 3 là miễn bàn rồi phải không ACE? –
Nó chắc chắn được xem là “thanh toán qua ngân hàng”. Vậy chỉ cần trả lời câu hỏi
thứ hai là đủ rồi.
Trước hết, theo ý kiến tôi thì việc quy định điều kiện để khấu trừ thuế GTGT (phải
thanh toán qua ngân hàng) là nhằm hạn chế tình trạng mua bán hóa đơn, kiểm soát
được giao dịch và chuẩn bị dần cho chủ trương thanh toán không dùng tiền mặt
(giống như thanh toán lương qua ATM vậy mà); Như vậy:
B.1. Giả sử đối với trường hợp thứ nhất: Dùng tiền mặt chuyển vào tài khoản bên
bán. Chuyện gì có thể xảy ra? Có 2 trường hợp:

+ Nếu việc mua bán này chỉ là mua bán hóa đơn;
Tất nhiên bên mua sẽ không thanh toán đúng số tiền trên hóa đơn. Nên việc thanh
toán số tiền trên hóa đơn chỉ là một thủ tục hợp thức hóa cho cái hóa đơn không đó

kiểm soát giao dịch và hạn chế lưu thông tiền mặt và các doanh nghiệp vẫn có thể lách
luật. Tôi giả sử nhé, Công ty A và Công ty B (có tài khoản hẳn hoi), Công ty A lập hoá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status