PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Bước sang thế kỷ 21, đất nước ta chuyển sang nền kinh tế tự do và mang
tính cạnh tranh. Cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế, ngành ngân
hàng cũng đã và đang góp phần không nhỏ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế của đất nước.
Ngân hàng là một ngành kinh tế, công cụ của nhà nước trong việc điều
tiết nền kinh tế, ngành ngân hàng đang ngày một khẳng định vị thế của mình đặc
biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay. Cùng với xu hướng
chung nền kinh tế, ngành ngân hàng đang không ngừng phát triển cả về quy mô,
chất lượng, số lượng và hình thức đầu tư để từng bước hội nhập với khu vực và
thế giới. Trong sự thay đổi chung của nền kinh tế, ngành ngân hàng đã và đang
có những bước phát triển hết sức nhanh chóng, đóng góp một phần không nhỏ
vào tốc độ phát triển chung của kinh tế nước ta.
Cùng với việc tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế luôn duy trì ở mức khá
cao thì nước ta cũng có nhu cầu về một lượng vốn lớn với mục đích mở rộng sản
xuất, phát triển hạ tầng kỹ thuật. Thông qua các nghiệp vụ hoạt động của mình,
ngành ngân hàng đã và đang thực hiện khá tốt nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu vốn
của nền kinh tế bằng cách thu hút lượng vốn nhàn rỗi trong dân cư, biến lượng
vốn này từ nguồn vốn “chết” trở thành vốn hoạt động thôn qua hoạt động cho
vay các đối tượng có nhu cầu về vốn, qua đó kích thích luân chuyển vốn, thúc
đẩy sản xuất kinh doanh theo định hướng của nhà nước.
1
Hoạt động ngân hàng còn giúp cho việc giảm bớt đói nghèo, tạo công ăn
việc làm cho người lao động hỗ trợ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh. Mang lại lợi ích cho đất nước.
Để đạt được những thành công đó đòi hỏi người quản lý ngân hàng phải
nắm chắc thông tin thị trường, tình hình và nhu cầu vốn của khách hàng, về các
ngân hàng đang cạnh tranh, về năng lực của ngân hàng mình. Từ đó người quản
lý ngân hàng mới xử lý thông tin và đưa ra các quyết định, các đối sách cụ thể.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các phương thức cho vay tại ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Hòa Lạc - Hà Nội sử dụng trong năm 2009.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: đề tài nghiên cứu và tìm hiểu các phương thức cho vay
được áp dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hòa Lạc.
Phạm vi thời gian: tìm hiểu các phương thức cho vay tại ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Hòa Lạc - Hà Nội trong 3 năm 2007-2009.
3
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan tài liệu
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại
* Khái niệm
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh
tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương, chủ thể tham gia nói riêng.
Với vai trò quan trọng như vậy, nhưng quan niệm như thế nào về một Ngân
hàng, và sự phân biệt nó với các tổ chức phi Ngân hàng không phải là điều đơn
giản. Rõ ràng, có thể định nghĩa Ngân hàng thông qua chức năng mà chúng thực
hiện trong nền kinh tế. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ không chỉ chức năng của các
Ngân hàng thay đổi, mà có sự “thâm nhập” vào chức năng hoạt động Ngân hàng
của các đối thủ cạnh tranh. Do đó tuỳ theo đIều kiện của mỗi nước và sự phát
triển của hệ thống tài chính nước đó mà có những định nghĩa khác nhau về Ngân
hàng.
Ở Hoa kỳ: ngân hàng thương mại (NHTM) là một công ty kinh doanh
chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp
dịch vụ tài chính (Lê Văn Tề, 2008).
Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó
hàng hóa, để đưa ra một khái niệm về ngân hàng thương mại, người ta phải dựa
5
vào tính chất, mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính, đôi khi còn
kết hợp với tính chất mục đích và đối tượng hoạt động.
Các quan điểm trước đây thường đánh giá NHTM như một cơ quan thực
hiện phân phối vốn thuần túy, từ đó cách nhìn nhận về ngân hàng còn nặng nề,
với chức năng quản lý xem ngân hàng đã và đang phát triển, đã đạt vị trí tiên
phong chủ chốt của nền kinh tế lưu thông và sản xuất hàng hóa. Việc thừa nhận
thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra đối với các đơn vị kinh tế tại một thời
điểm, có người thừa vốn, xuất hiện nhu cầu cho vay lấy lãi, có người thiếu cần
được bổ xung lại có nhu cầu đi vay.
Theo luật các tổ chức tín dụng quy định “Hoạt động ngân hàng là một
hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là
nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung úng các dịch vụ
thanh toán”. (Luật ngân hàng nhà nước, luật các tổ chức tín dụng - 2004) có nếu
“tổ chức tín dụng là doanh nhiệp được thành lập theo quy định của luật này và
các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ
ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung
ứng các dịch thanh toán”.
Ngày nay trong xu thế hiện đại, hoạt động của các tổ chức tài chính là môi
giới trên thị trường tài chính ngày càng phát triển về số lượng và quy mô, hoạt
động đa dạng và phong phú, hoạt động đan xen lẫn nhau, người ta phân biệt
NHTM với các tổ chức môi giới tài chính khác ở chỗ NHTM là ngân hàng kinh
doanh tiền gửi chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn. Chính từ hoạt động đó tạo ra cơ
hội cho NHTM có thể làm tăng cơ hội số tiền gửi của khách hàngtrong hệ thống
ngân hàng của mình đó là đặc trưng cơ bản để phân biệt NHTM với các tổ chức
tín dụng khác.
6
* Chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại
Nền kinh tế hàng hóa là cái nôi cho sự ra đời của NHTM và các ngân
tham gia vào quá trình đó bằng các quan hệ tài chính quốc tế, đối với việt nam
hiện nay vị trí các ngân hàng thương mại càng được coi trọng, việc tiếp nhận các
nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Như vậy ngân hàng thương mại ra đời, tồn tại và phát triển là do nhu cầu
khách quan của nền kinh tế.
2.1.1.2. Khái quát về tín dụng
* Khái niệm tín dụng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hóa, nó phản ánh
quan hệ kinh tế giữa người sở hữu với người sử dụng các nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lợi tức khi đến hạn.
* Các hình thức tín dụng
a. Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và thường
được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanh
nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân.
Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, tín dụng dài
hạn được sử dụng để cấp vốn cho các doanh nghiệp vào các vấn đề như: xây
dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ
tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng ở giữa hai kỳ hạn trên, loại tín dụng
này được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở
rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.
b. Căn cứ vào đối tượng tín dụng
+ Tín dụng vốn lưu động.
8
Là loại tín dụng được dùng hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh
tế như cho dự trữ hàng hóa đối với các doanh nghiệp thương nghiệp; cho vay để
mua phân bón, giống, thuốc trừ sâu đối với các hộ sản xuất nông nghiệp.
Tín dụng lưu động thường được sử dụng để cho vay bù đắp mức vốn lưu
- Người bán chuyển giao cho người mua được sử dụng vốn tạm thời trong
một thời gian nhất định.
- Đến thời hạn đã được thỏa thuận người mua hoàn lại vốn cho người bán
dưới hình thức tiền tệ và lợi tức.
+ Tín dụng ngân hàng.
* Khái niệm: Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các
tổ chức tín dụng khác với các nhà doanh nghiệp và cá nhân.
Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là một định chế tài chính trung
gian, vì vậy trong quan hệ tín dụng với các nhà doanh nghiệp và cá nhân, ngân
hàng vừa là người đi vay đồng thời là người đi vay.
Với tư cách là người đi vay ngân hàng nhận tiền gửi của các nhà doanh
nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn
trong xã hội. Trái lại với tư cách là người cho ngân hàng cung cấp tín dụng cho
các doanh nghiệp và cá nhân.
* Đối tượng của tín dụng ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, đại bộ phận quỹ cho vay tập trung qua ngân
hàng và từ đó đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho các doanh nghiệp và cá nhân.
Tín dụng ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để dự trữ vật tư
hàng hóa, trang trải chi phí sản xuất và thanh toán các khoản nợ mà còn tham
gia cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản như xây dựng các xí nghiệp mới, các cơ
sở kinh tế hạ tầng, cải tiến và đổi mới kỹ thuật. Ngoài ra tín dụng ngân hàng còn
đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu vốn tín dụng tiêu dùng của cá nhân.
+ Tín dụng nhà nước.
10
Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng trong đó nhà nước biểu hiện là
người đi vay.
d. Vai trò của tín dụng
+ Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất liên tục đồng thời
góp phần đầu tư phát triển kinh tế.
Thừa thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp, việc
+ Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của
các doanh nghiệp.
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi
tức. Nhờ vậy mà hoạt động tín dụng đã kích thích sử dụng vốn và sử dụng có
hiệu quả.
Khi sử dụng vốn vay ngân hàng doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín
dụng, tức phải là hoàn trả nợ vay đúng hạn và tôn trọng các điều kiện khác đã
ghi trong hợp đồng tín dụng, bằng các tác động như vậy đòi hỏi doanh nghiệp
phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất,
tăng vòng quay của vốn tạo điều kiện nâng cao doanh lợi của doanh nghiệp.
+ Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước
ngoài.
Trong diều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một quốc gia gắn liền với
thị trường thế giới, kinh tế “đóng” đã nhường bước cho kinh tế “mở”, tín dụng
ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền nền kinh tế các
nước với nhau.
Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng
đóng vai trò rất quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa, đồng thời
nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế.
12
2.1.1.3. Khái niệm về hoạt động cho vay vốn của ngân hàng
Cho vay là một phạm trù của tín dụng ngân hàng, trong thực tế thì hoạt
động cho vay được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:
Thứ nhất “cho vay” có thể hiểu là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan
hệ giữa người cho vay và người đi vay. Trong quan hệ này, người cho vay có
nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho vay trong một thời
gian nhất định. Người đi vay, khi tới thời hạn trả nợ có nghĩa vụ hoàn trả số tiền
hoặc hàng hóa đã vay có hoặc không kèm theo một khoản lãi (từ điển thuật ngữ
tài chính tín dụng, 1996).
Cho vay còn được hiểu là một hoạt động giao dịch về tài sản có thể bằng
Đối với khách hàng là các doanh nghiệp thi việc cho vay vốn sẽ giúp cho
việc kinh doanh thuận lợi hơn rất nhiều, đặc biệt là trong việc luân chuyển
nguồn vốn, giúp doanh nghiệp đầu tư được tài sản và các trang thiết bị khác để
phục vụ trự tiếp cho sản xuất, và cùng làm thuận lợi hơn cho quá trình tiêu thụ
sản phẩm.
Hoạt động cho vay của ngân hàng góp phần nâng cao trình độ sản xuất, tạo
ra hiệu ứng tích cực trong quá trình lao động, sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất
hơn sẽ giúp cho nền kinh tế chung được cải thiện đáng kể.
* Đối với nền kinh tế:
Hoạt động cho vay của ngân hàng sẽ giúp cho quá trình lưu thông vốn được
thông suốt, tránh được sự ứ đọng vốn không cần thiết tạo điều kiện rất lớn cho
quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp từ đó tạo ra được thu nhập ổn định
cho người dân, giảm thiểu được sự thất nghiệp và các tệ nạn xã hội khác.
Nhờ có sự linh hoạt trong việc luân chuyển vốn của ngân hàng sẽ biết được
nơi nào đang thừa vốn và nơi nào đang thiếu vốn từ đó tạo ra được sự cân đối
vốn giữa các khu vực hay các ngành.
14
* Đối với ngân hàng
Hoạt động cho vay vốn của ngân hàng không những mang lại lợi ích cho
người đi vay và cho nền kinh tế mà nó còn mang lại rất nhiều lợi ích cho chính
bản thân ngân hàng. Bởi vì bản chất của hoạt động cho vay là đi vay để cho vay
nên khi nhu cầu vay cao sẽ làm tăng lai suất đi vay, và khi hoạt đông kinh doanh
có hiệu quả thì người dân lại tích cực đi gửi vào ngân hàng lại tạo điều kiện cho
việc huy động vốn của ngân hàng. Đặc biệt hoạt động cho vay phát triển sẽ kéo
theo hàng loạt các dịch vụ khác của ngân hàng phát triên theo. Tuy nhiên hoạt
động cho vay cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro cho nên khi tiến hành cho vay thi
ngân hàng phải xem xét rất kĩ và cũng phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất
định.
b. Nguyên tắc cho vay của ngân hàng
Bởi vì hoạt động cho vay chứa đựng rất nhiều rủi ro, không phải lúc nào
Để hoạt động cho vay thực hiện được thì ngân hàng sẽ phải áp dụng các
phương thức cho vay khác nhau sau đây.
2.1.1.4. Các phương thức cho vay vốn của ngân hàng
- Căn cứ Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 390/1997/QĐ-
NHNN5 ngày 22 tháng 11 năm 1997 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
- Căn cứ Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm
2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam V/v ban hành Quy chế cho
vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
- Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp
(NHNo) và Phát triển nông thôn Việt Nam kỳ họp lần thứ XX.
Ngày 31 tháng 03 năm 2002, Chủ tịch hội đồng quản trị ngân hàng nhà
nước Việt Nam đã ra quyết định số 72/QĐ- HĐQT- TD về các phương thức cho
16
vay được áp dụng ở các ngân hàng hiên nay. Theo quyết định này thì hiện nay
có tất cả 9 phương thức được áp dụng.
Trên cơ sở nhu cầu sử dụng của từng khoản vay của khách hàng và khả
năng kiểm tra, giám sát của Ngân hàng, NHNo nơi cho vay thỏa thuận với khách
hàng vay về việc lựa chọn các phương thức cho vay sau đây:
* Cho vay từng lần
Phương thức cho vay từng lần áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay
vốn từng lần. Mỗi lần vay vốn, khách hàng và NHNo nơi cho vay lập thủ tục
vay vốn theo quy định và ký hợp đồng tín dụng.
* Cho vay theo hạn mức tín dụng
a) Phương thức cho vay này áp dụng với khách hàng vay ngắn hạn có nhu
cầu vay vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định.
b) Xác định hạn mức tín dụng
- NHNo nơi cho vay sau khi nhận đủ các tài liệu của khách hàng tiến hành
xác định hạn mức tín dụng.
hoặc chiếm tỷ trọng chủ yếu để xác định thời hạn cho vay. Thời hạn cho vay
trên từng giấy nhận nợ có thể không phù hợp với thời hạn hiệu lực của hạn mức
tín dụng.
* Cho vay theo dự án đầu tư
a) NHNo cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
b) NHNo nơi cho vay cùng khách hàng ký hợp đồng tín dụng và thỏa
thuận mức vốn đầu tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của dự án, phân định các
kỳ hạn trả nợ.
c) Ngân hàng thực hiện giải ngân theo tiến độ thực hiện dự án.
18
d) Mỗi lần rút vốn vay, khách hàng lập giấy nhận nợ tiền vay trong phạm
vi mức vốn đầu tư đã thỏa thuận, kèm theo các chứng từ xin vay phù hợp với
mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng.
e) Trường hợp khách hàng đã dùng nguồn vốn huy động tạm thời khác để
chi phí cho dự án được duyệt trong thời gian chưa vay được vốn ngân hàng, thì
NHNo nơi cho vay có thể xem xét cho vay bù đắp nguồn vốn đó.
* Cho vay hợp vốn
Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của tổ chức tín
dụng do Thống đốc NHNN ban hành, văn bản hướng dẫn của Tổng giám đốc
NHNo Việt Nam và các thỏa thuận giữa các tổ chức tham gia đồng tài trợ.
* Cho vay trả góp
NHNo nơi cho vay và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi tiền vay
phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời
hạn cho vay.
* Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
a) Căn cứ nhu cầu vay của khách hàng, NHNo nơi cho vay và khách hàng
thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng: hạn mức tín dụng dự phòng, thời hạn hiệu
lực của hạn mức dự phòng, NHNo nơi cho vay cam kết đáp ứng nguồn vốn cho
khách hàng bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ, trong thời gian hiệu lực của hợp
Điều kiện: ngân hàng xem xét cho vay lưu vụ khi hộ gia đình có đủ điều
kiện:
- Phải có hai vụ liền kề.
- Dự án, phương án đang vay có hiệu quả.
- Trả đủ số lãi còn nợ của hợp đồng tín dụng trước.
Mức cho vay: tối đa bằng mức dư nợ thực tế của hợp đồng tín dụng trước.
Thời hạn lưu vụ: không quá thời hạn của một vụ kế tiếp.
20
Lãi suất cho vay: lãi xuất được áp dụng theo quy định hiện hành của tồng
giám đốc ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam tại thời điểm lưu vụ.
Hồ sơ vay vốn:
- Hộ gia đình cá nhân có nhu cầu vay lưu vụ, trước ngày đến hạn trả cuối
cùng của hợp đồng tín dụng làm giấy đề nghị vay lưu vụ, các thủ tục khác không
phải lập lại.
- Trong các trường hợp lãi suất cho vay, thời hạn cho vay, mức vay cho vay
lưu vụ có thay đổi so với hợp đồng tín dụng. ngân hàng nông nghiêp nơi cho vay
cùng với khách hàng thực hiện việc bổ xung hoặc điều chỉnh hợp đồng tín dụng.
* Các phương thức cho vay khác: thực hiên theo hướng dẫn cụ thể của
Tổng giám đốc ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam khi được chủ tịch hội đồng
quản trị chấp thuận.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Khung phân tích
Được thể hiện ở sơ đồ 2.1.
21
Tác động
đến đối
tượng
Sơ đồ 2.1. Khung phân tích
Mục tiêu
xã hội
dân
- Cá
nhân
- DN
(lớn
hoặc
vừa và
nhỏ)
- Hợp
tác xã
- Tổ
chức
khác
- Mức ưu
đãi
- Lượng tài
sản thế
chấp
- Điều kiện
tín chấp
- Mức cho
vay
- Lương
tiền cho vay
- Thời gian
trả nợ
Lãi suất
Vay lưu vụ
Công cụ
tác động
Lạc đang được xây dựng và phát triển. Với những đi điều kiện thuận lợi và có tiềm
năng như vậy NHNo&PTNT Hoà Lạc tiền thân là chi nhánh của NHNo&PTNT
Thạch Thất đã tách ra trở thành NHNo&PTNT Hoà Lạc vào tháng 6/2005 những
năm đi vào hoạt động NHNo&PTNT Hoà Lạc đã không ngừng phát triển nhưng do
thiếu thốn về cơ sở vật chất và nhân sự nên đã không đáp ứng được nhu cầu để
tương ứng với tiềm năng sẵn có của mình.
Để đáp ứng nhu cầu mở rộng và phát triển của mình, đến năm 2006
NHNo&PTNT Hoà Lạc được sự giúp đỡ của UBND huyện Thạch Thất đã thành
lập phòng giao dịch Phùng Xá, theo quyết định 294/QĐ/NHNo/TCCB của
NHNo&PTNT tỉnh Hà Tây. Phòng giao dịch Phùng Xá đi vào hoạt động đã đáp
ứng được nhu cầu về vốn của các khu công nghiệp và địa bàn Là một đơn vị kinh
doanh tiền tệ trên địa bàn huyện, NHNo&PTNT Hoà Lạc đã không ngừng đẩy
mạnh hoạt động tín dụng nhằm hỗ trợ cho thành phần kinh tế. Hoạt động tín
dụng của Ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh doanh, bởi môi
trường kinh doanh là yếu tố hết sức quan trọng, môi trường thuận lợi sẽ góp phần
rất lớn và tạo đà phát triển cho hoạt động kinh doanh tín dụng.
Với nhiệm vụ phục vụ các hoạt động sản xuất kinh doanh của huyện
Thạch Thất, nhiệm vụ trọng tâm của NHNo&PTNT Hòa Lạc là phục vụ khu
công nghệ cao Hòa Lạc.
24
Thạch Thất là một huyện nằm ở phía Bắc thuộc tỉnh Hà Tây (cũ), cách
quận Hà Đông khoảng 30 Km. Với dân số khoảng 167 ngàn người. Diện tích:
104.300 ha, có 35.600 hộ, trong đó phần lớn hộ là sản xuất nông nghiệp chiếm
90% trên tổng số hộ. Thạch Thất là một huyện thuộc vùng bán sơn địa, công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển nhưng còn chậm, dịch vụ chưa khai
thác được các tiềm năng sẵn có, hiệu quả kinh tế chưa cao, phần lớn là thiếu vốn
cho sản xuất kinh doanh.
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự phối
kết hợp đồng bộ của các cấp, các ngành kinh tế. Thạch Thất đã có tốc độ tăng
trưởng khá, bình quân đạt 9,2% trở lên.