Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
BVTV48B
BVTV48B
Phần I
Mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
Khoai tây và da hấu là hai loại nông sản phổ biến của nớc ta có giá trị
dinh dỡng cao. Ngoài vai trò là cây thực phẩm thì khoai tây còn đóng vai trò là
loại cây lơng thực ở một số nớc châu Âu. Khoai tây (Solanum tuberosum L.) trở
thành cây lơng thực chủ lực, đứng đầu trong các loại củ trên toàn thế giới và
đứng thứ 5 trong số các cây lơng thực nói chung(chỉ sau lúa mỳ, gạo, ngô và đậu
tơng) với sản lợng 322 triệu tấn vào năm 2005. Việt Nam có khả năng phát triển
mạnh khoai tây nhất là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Tây
Nguyên, ớc tính có khoảng 200.000 ha đất có khả năng trồng khoai tây. Tuy
nhiên trong những năm gần đây, diện tích khoai tây chỉ dao động trong khoảng
từ 30.000 đến 35.000 ha với năng suất khoảng 10 - 11 tấn/ha.
Trớc áp lực của sự gia tăng dân số, con ngời luôn nỗ lực trong việc nâng
cao năng suất khoai tây cũng nh da hấu để đáp ứng nhu cầu hàng ngày của nhân
dân cũng nh hớng ra xuất khẩu và đã thu đợc những thành tựu đáng kể. Tuy
nhiên, bên cạnh những nỗ lực nhằm làm tăng năng suất cây trồng của con ngời
thì luôn có các yếu tố dịch hại và đặc biệt là các loài bệnh hại luôn tồn tại với
vai trò là yếu tố kìm hãm, làm cản trở việc tăng năng suất cây trồng.
ở nhiều vùng sản xuất của nớc ta, bệnh hại trên khoai tây và da hấu đã
xuất hiện khá phổ biến, gây hại và làm ảnh hởng đáng kể đến năng suất cũng
nh chất lợng nông sản. Các loại bệnh hại này không những ảnh hởng đến năng
suất mà còn làm ảnh hởng rất lớn đến giá trị thẩm mỹ cũng nh giá trị dinh dỡng
của khoai tây và da hấu, từ đó gây tổn thất không nhỏ đến giá trị hàng hóa cũng
nh giá trị kinh tế của hai loại nông sản này. Vùng sản xuất nông nghiệp ở Lạng
Sơn cũng không phải là ngoại lệ, nghề trồng khoai tây và da hấu ở đây cũng th-
ờng xuyên phải chịu sự phá hại của các loại bệnh hại làm ảnh hởng rất nhiều đến
các vùng sản xuất chính thuộc tỉnh Lạng Sơn và xây dựng quy trình phòng trừ"
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
Điều tra xác định các bệnh hại chính, nguyên nhân gây bệnh trên khoai
tây và da hấu ở Lạng Sơn và tiến hành biện pháp phòng trừ để hạn chế tác hại
của bệnh.
2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
BVTV48B
BVTV48B
1.2.2. Yêu cầu
- Phân biệt đợc các dạng triệu chứng bệnh chính và nguyên nhân gây bệnh
trên khoai tây và da hấu tại một số huyện của tỉnh Lạng Sơn.
- Xác định các bệnh hại chính trên khoai tây và da hấu trong vụ xuân hè
tại vùng Lạng Sơn.
- Đề xuất các biện pháp phòng trừ, hạn chế tác hại của bệnh trên khoai tây
và da hấu trên cơ sở các kết quả đạt đợc.
3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
BVTV48B
BVTV48B
Phần II
Tổng quan tài liệu
2.1. Cây khoai tây, da hấu và tình hình sản xuất.
2.1.1. Cây khoai tây (Solanum tubesorum L.)
Cây khoai tây(Solanum tubesorum L.) có nguồn gốc hoang dại từ Trung
và Tây Nam Mỹ, đặc biệt tập trung vùng Chi Lê và các đảo xung quanh vùng.
Nhiều cuộc thám hiểm của Liên Xô(cũ) trớc đây đã xác định rằng: trung tâm thứ
0
C, lúc gặp nhiệt độ cao trên ngỡng nhiệt độ thích hợp của chúng thờng tia củ
hình thành ít, vơn dài, ra nhiều củ bé, có khi củ dễ bị dị hình. Thờng trong điều
kiện gặp nhiệt độ cao, khoai tây thờng kéo dài thời gian sinh trởng và cho năng
suất thấp. Lorx(1960) đã chứng minh rằng nhiệt độ càng cao thì khối lợng thân
lá càng giảm.[1]
Trong những năm từ 1992 đến năm 1999, diện tích trồng khoai tây ở nớc
ta biến động tơng đối mạnh. Những năm từ 1997 đến năm 1999, diện tích cũng
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
BVTV48B
BVTV48B
nh sản lợng khoai tây giảm mạnh một phần là do ảnh hởng của tình hình sâu
bệnh hại. Các yéu tố này đã ảnh hởng không nhỏ đến sự phát triển nghề trồng
khoai tây ở nớc ta.
Bảng 1: Diện tích, năng suất và sản lợng khoai tây
một số năm ở Việt Nam.
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lợng (tấn)
1992 25.006 9,41 253.281
1993 27.290 8,15 222.277
1994 25.315 10,25 259.428
1995 25.569 10,20 260.829
1996 26.758 11,96 320.133
1997 35.073 9,98 349.888
1998 31.043 10,69 331.942
1999 25.232 10,83 273.288
(Nguồn: Cục khuyến nông khuyến Lâm Bộ NN&PTNT, 1997)
Qua bảng trên chúng ta có thể thấy năm có diện tích cũng nh sản lợng
khoai tây lớn nhất là năm 1997 với diện tích là 35.073 ha và sản lợng đạt
0
C. ở nhiệt độ dới 15
0
C cây
ngừng sinh trởng, phát triển, tỷ lệ đậu quả thấp và quả lớn rất chậm, từ đó ảnh h-
ởng trực tiếp tới năng suất. Da hấu chịu đợc nhiệt độ cao là do đặc điểm sinh lý
của cây(nhiệt độ kết dính protein trong lá là 64 72
0
C) và cấu tạo bộ lá (xẻ
thùy lớn để khuyếch tán nhiệt và lớp lông sáp che phủ mô có tác dụng tự hạ
nhiệt độ thân cây).[7]
Do có nguồn gốc từ vùng xa mạc nhiều nắng nên da hấu cần nhiều ánh
sáng ngay từ khi xuất hiện lá mầm cho đến khi kết thúc sinh trởng Nắng nhiều
cùng với nhiệt độ thích hợp là hai yếu tố ngoại cảnh cơ bản làm tăng năng suất
và chất lợng quả. ở đây độ dài ngày có ảnh hởng tới thời gian sinh trởng của cây.
Số giờ chiếu sáng từ 8 10 giờ sẽ làm cho cây ra hoa sớm hơn và lợng hoa cái
cũng nhiều hơn. Da hấu thuộc nhóm cây chịu hạn. Bộ rễ da hấu lúc cao nhất đạt
3 4m chiều sâu, 5 8m đờng kính. Tuy vậy, do hệ số thoát nớc lớn(gần 600)
nên cần giữ ẩm cho đất thờng xuyên, nhất là giai đoạn đầu.[7]
Về yêu cầu dinh dỡng của da hấu, sự cân bằng ba yếu tố N, P, K là yêu
cầu quan trọng liên quan đến sản lợng và chất lợng quả. Đạm duy trì sự bình th-
ờng trong sinh trởng phát triển của cây, lợng đạm bón quá nhu cầu sẽ tăng cờng
tích lũy hàm lợng Nitrat trong lá và quả đồng thời làm tăng số hoa đực trên cây.
Kali có tác dụng làm tăng khả năng chín sớm của quả, ngoài ra hỗn hợp lân
kali có tác dụng tốt với chất lợng quả, tăng lợng đờng trong thịt quả. Phân tích
1kg chất khô quả da hấu có 12,1 g N, 2,9 g P ; 17,4 g K. Nh vậy 1 tấn quả tơi có
1,23 kg N ; 0,98 kg P và 1,79 kg K. ở lá tỷ lệ Nitơ cao hơn và ở thân lợng
photpho lớn hơn. Từ đó ta thấy một công thức bón phân hóa học cân đối N : P :
K hợp lý cho da hấu là tỷ lệ 1 : 0,8 : 1,2(lợng đạm bón là 1 phần).[7]
6
virus A(PVA), virus S(PVS), virus M(PVM), virus cuốn lá(PLRV) và virus
khảm Aucuba(PAMV). Trong các loài trên thì virus Y gây tác hại lớn nhất rồi
đến virus X, các virus A, S, M và khảm Aucuba gây hại nhẹ, virus cuốn
lá(PLRV) chỉ có trên một vài giống mới nhập nội.[2]
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
BVTV48B
BVTV48B
Virus gây bệnh hại khoai tây thờng gây ra một số dạng triệu chứng chủ
yếu sau đây :
Hiện tợng khảm lá(mosaic): thờng do virus X gây nên làm cho lá loang
lổ, lá ngọn khảm mạnh, cây bị còi cọc, nhiều lá bánh tẻ cũng bị khảm loang lổ,
chỗ xanh nhạt, chỗ xanh đậm, một vài chỗ biến vàng xanh xen kẽ.
Khảm nhăn lá : lá vừa khảm vừa nhăn bề mặt, khảm có màu xanh hay
xanh nhạt thờng do virus Y gây ra. Một vài trờng hợp lá khảm nhăn xen kẽ các
đốm và vêth vàng loang lổ do virus A gây nên. Các dạng khảm nhẹ màu tối hoặc
cây xanh hơi đậm là do virus S gây nên.
Một vài trờng hợp cây bị co quắp lá thành búi do virus M gây nên. Khi kết
hợp giữa virus X và Y thờng gây triệu chứng cây xoắn lùn gân, chết lá. Bệnh
virus cuốn lá(PLRV) thờng kèm theo hiện tợng biến vàng ở ngọn lá, lá gốc cuốn
lại dạng hình thìa, màu lá cây xanh hơi nhạt. Các triệu chứng bệnh có thể ẩn mất
đi khi nhiệt độ lên cao trên 15
0
C và khi cây khoai tây già.
Bệnh xoăn lá hại tất cả các giai đoạn sinh trởng của cây khoai tây. Bệnh
làm cho lá cây xoăn nhỏ, thô, cứng và dày. Nếu hại ở giai đoạn đầu cây thấp lùn
không phát triển đợc. Bệnh làm cho khoai tây không ra củ hoặc củ nhỏ. Nếu
bệnh nặng cây sẽ chết. Bệnh xoăn lá do virus gây hại. Bệnh lan truyền qua đờng
dịch cây, truyền qua củ, hạt giống, truyền qua tiếp xúc cọ sát các bộ phận thân,
nm, nhân có dạng sơi đơn ARN. Phân tử lợng của virus từ 5,8 6,7 x 10
6
dvC,
Q
10
= 70
0
C, độ pha loãng là 10
-5
. Virus có nhiều chủng loại, gây hại trên nhiều
loại cây trồng khác nhau bao gồm các chủng Y, M, S, Q và chúng khác nhau về
đặc tính sinh học. Virus truyền từ cây bệnh sang cây khoẻ chủ yếu qua tiếp xúc
cơ học, qua vết thơng cơ giới. Ngoài ra virus còn truyền qua côn trùng môi giới
theo kiểu không bền vững, ngời ta đã phát hiện ra khoảng 60 loài rệp truyền loại
virus này. Virus có thể truyền qua một số hạt giống bao gồm cả một sô loài cỏ
dại, virus này truyền qua khoảng 10 loại Cuscuta mà trong các loài này virus đ-
ợc nhân lên. Virus có thể truyền từ cây lâu năm và cây dại sang các cây trồng
khác nhờ côn trùng môi giới nên nguồn bệnh tồn tại quanh năm. Bệnh lan truyền
mạnh vào mùa xuân và mùa đông khi rêp xuất hiện nhiều, bệnh hại nặng trên
một số cây rau vụ đông trồng muộn, cây non mẫn cảm với bệnh hơn cây đã tr-
ởng thành.[2]
Cây da hấu còn nhiễm cả virus PRSV type W và type P.
2.2.2. Bệnh nấm hại khoai tây và da hấu.
2.2.2.1. Bệnh mốc sơng khoai tây( phytophthora infestans).
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
BVTV48B
BVTV48B
Bệnh mốc sơng(Phytophthora infestans) có nguồn gốc đầu tiên ở Nam
0
C và nảy mầm gián tiếp khi nhiệt độ môi trờng trong khoảng 12 - 18
0
C,
thích hợp là 14 - 18
0
C. [3]
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
BVTV48B
BVTV48B
2.2.2.2. Bệnh héo vàng khoai tây(Fusarium oxysporum)
Bệnh héo vàng(Fusarium oxysporum) là một trong những bệnh nguy hiểm
gây thiệt hại lớn ở các nớc trồng khoai tây nh Trung Quốc, Mỹ, ý, Anh, Nam
Phi, ấn Độ, Austraylia, .v.v gây thiệt hại tới 30% sản lợng khoai tây. ở nớc ta,
bệnh héo vàng phổ biến ở khắp các vùng trồng khoai tây, cá biệt có nơi thiệt hại
tới 40% năng suất khoai tây.
Bệnh gây hại ở vị trí gốc thân, cổ rễ và củ. ở gốc cây,vết bệnh có màu nâu
hoặc xám nhạt bao quanh gốc cây gây hiện tợng thối khô tóp lại, cắt ngang phần
trên mô bệnh they bó mạch có màu nâu xám, thờng trên bề mặt vết bệnh có lớp
nấm trắng tha.
Triệu chứng thể hiện: trên cây lúc đầu có một số lá phía dới héo vàng
loang lổ sau đó toàn bộ lá héo rũ vàng và chết gục. Trên đồng ruộng bệnh héo
vàng thởng thể hiện ở một vài thân trong một khóm, ở những nơI bệnh nặng có
thể cả khóm hoặc cả một diện tích nhỏ bị bệnh héo chết lụi. ở giai đoạn cây con
cây bị bệnh thờng dị hình khô héo, nhiều cây con bị bênh cha thể hiện màu vàng
đã bị héo chết nhanh chóng. Ngoài ra bệnh còn gây hại ở mầm củ và củ, củ bị
nấm xâm nhập nhìn bề ngoài bình thờng nhng phần thịt củ có nhiều vòng vân
vàng hoặc nâu bao quanh và ăn sâu vào trong củ, khi đó gọi là bệnh thối khô củ
Bệnh làm cho lá da hấu ban đầu bị héo và vàng các lá phía dới, đặc biệt
ban đầu chỉ héo về một phía của cây da. Bệnh này gây ra triệu chứng là các vết
đốm xuất hiện lác đác trên vỏ cây. Phần mô ở một phía của cây bị ảnh hởng và
trở nên xốp. Quá trình bệnh phát triển mạnh tạo nên các đám nấm màu trắng
hoặc phớt hồng trên vết bệnh, có tồn tại ranh giới phân biệt mô bệnh và mô
khoẻ. Nấm gây bệnh này có nguồn gốc trong đất và thờng gây hại ở phẩn dới
của quả. Bào tử nấm lan truyền theo nớc ma hoặc theo hệ thống tới. Bệnh xâm
nhập rất thuận lợi khi có vết thơng cơ giới trên vết bệnh, trong điều kiện nóng
ẩm.[12]
Bệnh thán th trên da hấu(Colletotrichum lagenarium) gây hại trên mọi bộ
phận của cây, quả vừa làm giảm năng suất vừa làm ảnh hởng lớn đến chất lợng
của quả. Bệnh xuất hiện khi có độ ẩm không khí cao, nhiệt độ từ 22 27
0
C,
bệnh truyền qua tàn d cây bệnh của vụ trớc và qua hạt giống.[7]
Bệnh gây hại trên lá trởng thành, vết bệnh có vòng tròn nhỏ đồng tâm
màu nâu sẫm, quan sát kỹ thấy những chấm nhỏ li ti màu đen tạo thành các vòng
đồng tâm, trên cuống lá và thân cũng có những vết màu nâu. Vết bệnh trên quả
có màu nâu tròn lõm vào vỏ quả, nếu bệnh nặng các vết này liên kết thành mảng
to gây thối quả. Khi thấy 1 2 vết bệnh trên lá chân, quan sát kỹ thấy ở mặt
trên vết bệnh ẩn những đờng vân tròn đồng tâm, mặt dới vết bệnh có màu xanh -
ớt nổi hạt lấm tấm nh da gà, cộng với tiết trời nóng ẩm có ma nhiều thì đó là
bệnh thán th. [17]
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
BVTV48B
BVTV48B
Bệnh nứt thân chảy nhựa (Mycosphaerella melonis): Bệnh này ngời nông
dân còn gọi là bệnh đốm lá gốc. Vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ màu nâu
BVTV48B
BVTV48B
Trên khoai tây thờng bị hại nặng nhất vào giai đoạn hình thành củ, Cây
cũng có hiện tợng xanh vàng lá, ngọn héo rũ. Nếu gặp thời tiết ẩm cây bị thối,
củ thối và mô dẫn hoá nâu.
Nguyên nhân gây bệnh là do vi khuẩn Ralstonia solanacearum. Vi khuẩn
gây bệnh héo xanh khoai tây là loài có tính chuyên hoá rộng, có nhiều chủng
sinh học khác nhau, gây hại trên nhiều cây trồng, đặc biệt là các cây trồng thuộc
họ cà (Solanaceae) nh: khoai tây, cà chua, thuốc lá, ớt,
Vi khuẩn Ralstonia solanacearum có hình gậy, hai đầu hơi tròn, có một
lông roi ở một đầu, phản ứng nhuộm gram âm. Trên môi trờng thạch agar
khoai tây pepton khuẩn lạc có dạng hình tròn, ớt, màu trắng kem. Trên môi
trờng nhân tạo có chứa TZC khuẩn lạc của vi khuẩn rìa ngoài có màu trắng, ở
giữa có màu hang. Vi khuẩn sinh trởng thích hợp trong khoảng nhiệt độ từ 26
30
0
C, nhiệt độ tối đa là 41
0
C, tối thấp là 10
0
C và nhiệt độ làm cho vi khuẩn
chết là 55
0
C. Vi khuẩn gây bệnh phát triển trong phạm vi pH khá rộng (từ 6
8) nhng thích hợp nhất là pH trung tính từ 6,8 7,2.
Vi khuẩn có đặc tính dịch hoá gelatin, không thuỷ phân tinh bột, tạo H
2
S,
không tạo indon và NH
3
thờng bị bệnh nặng, giống Nicola, Diamon và khoai tây hạt lai thờng bị bệnh
nhẹ hơn.[3]
Bệnh héo xanh vi khuẩn (Ralstonia solanacearum) cũng gây hại không
nhỏ trên da hấu. Cây da hấu thờng bị bệnh héo xanh ngay từ giai đoạn cây con
và nguy hiểm nhất là khi quả đang phát triển. Khi cây còn nhỏ chúng ta có thể
bổ xung cây con nhng khi cây đã ra quả và quả đang phát triển thì không thể bổ
xung cây con đợc nữa, đó là yếu tố gây khuyết mật độ cây trên ruộng và do đó
làm giảm đáng kể năng suất da hấu.
Trên da hấu, bệnh đốm góc lá da hấu do vi khuẩn Pseudomonas syringae
pv. Lachrymans gây ra các triệu chứng trên da hấu nh: tạo ra các vết đốm hình
góc cạnh hoặc không định hình trên lá da hấu, tạo các vết đốm dạng tròn hơi
khô trên quả, sau đó các vết đốm này khô lại và tạo ra màu trắng xám. Các vết
bệnh này khi khô đi có khả năng tạo ra các vết nứt trên quả da và gây thối vàng
quả trong quá trình bảo quản.[5]
2.2.4. Các nghiên cứu về nấm đối kháng sử dụng trong sản xuất nông
nghiệp.
Nấm đối kháng có thể kìm hãm sự phát sinh phát triển của các nấm gây
bệnh cây. Một số nấm đối kháng thờng gặp nh các nấm đối kháng Penecillium
oxalicum, Penecillium frequentans, Penecillium vermiculatum, Penecillium
15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
BVTV48B
BVTV48B
nignicans, Penecillium chrysogentum là những loài đối kháng của nấm Pythium
spp.; Rhizoctonia solani; Sclerotium cepivorum; Verticillium aboatrum (Martine et
al.; 1985). Cơ chế tác động của nấm Penicillium cha đợc biết rõ ràng.[8]
Trichoderma là nhóm nấm đối kháng đợc nhiều nớc nghiên cứu để trừ
bệnh hại cây trồng. Những loài phổ biến là Trichoderma hamatum,
Trichoderma harzianum, Trichoderma viride, v.v Các loại nấm Trichoderma
sinh học đều có chứa một số lợng lớn gen mã hoá các sản phẩm có chứa các
hoạt tính cần thiết sử dụng trong kiểm soát sinh học. Nhiều gen có nguồn gốc từ
Trichoderma đã đợc tạo dòng và có khả năng ứng dụng rất lớn trong chuyển gen
để tạo cây trồng kháng đợc nhiều bệnh. Hiện nay cha có gen nào đợc thơng mại
hoá, tuy nhiên có một số gen đang đợc nghiên cứu và phát triển.[19]
Khả năng ứng dụng: Các kết quả nghiên cứu của trờng Đại Học Cần
Thơ, Viện nghiên cứu lúa Đồng Bằng sông Cửu Long, Công ty thuốc sát trùng
Việt Nam, Viện sinh học nhiệt đới đã cho thấy hiệu quả rất rõ ràng của nấm
Trichoderma trên một số cây trồng thuộc vùng Đồng Bằng sông Cửu Long và
một số tỉnh ở miền Đông Nam Bộ. Các nghiên cứu cho thấy nấm Trichoderma
có khả năng tiêu diệt nấm Fusarium solani hay một số loại nấm gây bênh hại
khác nh Sclerotium rolfsii, Fusarium oxysporum, Rhizoctonia solani. Công dụng
thứ hai của nấm Trichoderma là khả năng phân huỷ cellulose, phân giải lân
chậm tan. Lợi dụng đặc tính này ngời ta đã trộn Trichoderma vào trong quá
trình sản xuất phân hữu cơ sinh học để thúc đẩy quá trình phân huỷ sinh học đợc
nhanh chóng.[19]
Nấm Trichoderma spp. Hiện diện gần nh trong tất cả các loại đất và trong
một số môi trờng thông thờng khác. Chúng là loại nấm đợc nuôi cấy phổ biến.
Chúng hiện diện với mật độ cao và phát triển mạnh nhất ở vùng rễ của cây trồng,
một số giống có khả năng phát triển ngay trên rễ cây trồng. Những giống nấm
này có thể đợc bổ xung vào đất hoặc vao fhạt bằng nhiều phơng pháp khác nhau.
Ngay khi chúng tiếp xúc với rễ chúng sẽ phát triển trên bề mặt rễ hay trên vỏ rễ
phụ thuộcvào từng giống. Vì vậy, khi đợc dùng trong xử lý hạt giống, những
giống thích hợp sẽ phát triển ngay trên bề mặt rễ ngay cả khi rễ phát triển sâu
hơn 1 m xuống dới mặt đất, chúng có thể tồn tại và còn hiệu lực sau 18 tháng sử
dụng. Tuy nhiên có ít giống có khả năng này.[19]
17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
BVTV48B
hạn khả năng thích nghi của cây.
18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
BVTV48B
BVTV48B
- Năm 1929 F. Merkenschlager và các cộng tác viên nhận định : độ keo nhớt
và thành phần kali lớn trong cây đã pá hủy sự cân bằng nớc, làm tăng nồng độ
muối trong cây khiến bên ngoài biểu hiện thành bệnh hoa lá và cuốn lá.
- Vào năm 1940, T.D. Luxenko cho rằng sự thoái hóa của cây khoai tây ở
miền nam Liên Xô là do nhiệt độ cao, củ khoai tây nảy mầm yếu, sức sống thấp.
- Đến năm 1960, L. V. Lozalin nhận xét : chăm sóc không đúng cách sẽ dẫn
đến thoái hóa, hiện tợng hoa lá và hoa lá đốm là do cây thiếu glucide, hiện tợng
cuốn lá và xoăn lùn do cây thừa đạm.
- Giả thuyết của G.N. Linick đa ra năm 1957 cho rằng: thoái hóa là quá trình
biến đổi theo lứa tuổi hoặc già hóa. Quá trình này tăng lên từ năm này qua năm
khác không phụ thuộc vào điều kiện gieo trồng của cây.
- Cho đến những năm 60, các quan điểm về thoái hóa khoai tây trên vẫn còn
phổ biến ở nhiều nớc trên thế giới cho tới năm 1973, sở nghiên cứu di truyền viện
khoa học Trung Quốc còn xuất bàn tài liệu khẳng định rằng: nguyên nhân quan
trọng nhất của sự thoái hóa khoai tây là do điều kiện ôn độ ở vùng trồng trọt hay
khi bảo quản gây nên.
Đến khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XX, các virus hại khoai tây đã lần lợt đ-
ợc phát hiện bởi nhiều tác giả khác nhau trên thế giới nh:
- Đầu tiên, Quanjer, Vanderlek và Botges phát hiện ra virus cuốn lá vào năm
1916.
- Sau đó vào năm 1922 Barrus và Chupp tìm thấy virus vàng lùn khoai tây
(Potato Yellow Dwarf Virus).
- Quanjer 1921, Clinch, Loughnane, Murphy 1936 đã xác định virus Aucuba
Mosaic(Potato Aucuba Mosaic Virus).
cộng tác viên đã tìm thấy bệnh chổi thân ở khoai tây do Mycoplasma gây
bệnh(Potato Wiches Broom), các tác giả Granados 1968, Ploiae và Maramorosch
1969, Harrison và Roberts 1968, Maillet 1968, Braak và Kralik 1968, Gaurret
1969, Sinha và Paliwal 1969 đã đóng góp nhiều kết quả nghiên cứu vào việc phát
hiện các đặc điểm của Mycoplasma.[dẫn theo 4]
2.3.2. Bệnh vi khuẩn hại khoai tây và da hấu
Vi khuẩn gây bệnh héo xanh (Ralstonia solanacearum) là loài có phổ kýt
chủ rộng, lây nhiễm trên 200 loài cây trồng thuộc 35 họ thực vật, chủ yếu là những
cây ký chủ trong họ cà, họ đậu, họ chuối (Kelman, 1953; Hayward, 1994).
20
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
BVTV48B
BVTV48B
ở Thái Lan, bệnh héo xanh vi khuẩn phân bố rộng rãi ở các vùng trồng cây
trong cả nớc. Bệnh héo xanh vi khuẩn hại khoai tây đợc phát hiện từ năm 1957
(Chandrasricul, A. 1957), bệnh đã gây nên những thiệt hại đáng kể về năng xuất
trên nhiều loài cây trồng khác nhau (Titatan, 1986).
ở ấn Độ, Sinha (1986) cho biết bệnh héo xanh vi khuẩn là loại bệnh phổ
biến gây hại trên cà chua, khoai tây, lạc, ớt, gừng, đay và đặc biệt ở một số vùng
sản xuất khoai tây, bệnh có thể làm giảm năng suất đi 70%. Bệnh héo xanh vi
khuẩn là loại bệnh gây hại nghiêm trọng trên nhiều loại cây trồng thuộc họ cà, họ
đậu, họ hòa thảo (He, 1986).
21
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
BVTV48B
BVTV48B
Phần III
Vật liệu, đối tợng và phơng pháp thí nghiệm
BVTV48B
+ Giám định thành phần các loại bệnh virus hại khoai tây bằng phơng
pháp ELISA.
- Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ cho một số bệnh hại khoai tây
và da hấu trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài.
3.3. Phơng pháp nghiên cứu
3.3.1. Đối với thí nghiệm da hấu.
Thí nghiệm đợc bố trí trên nền phân bón bao gồm các loại phân bón với l-
ợng nh sau(tính cho 1 sào Bắc Bộ - 360m
2
): 1 tấn phân chuồng + 20 kg Super lân
+ 8kg đạm ure + 10 kg Kali sunfat. Các công thức thí nghiệm đợc bố trí theo
khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 7 công thức và 3 lần nhắc lại, mỗi ô thí nghiệm
có diện tích là 30 m
2
(5m x 6m). Giống da đợc trồng là giống da Hắc Mỹ Nhân
do công ty giống Trang Nông cung ứng. Thí nghiệm của chúng tôi bao gồm các
công thức sau:
CT1: Đối chứng không dùng thuốc.
CT2: Phun Topsin định kỳ 7 ngày/lần.
CT3: Tricô - ĐHCT với lợng 30 g/ô thí nghiệm/30m
2
(10 kg/ha) .
CT4: Strepto BTN với lợng 50 g/1ô thí nghiệm/30m
2
(16,5 kg/ha).
CT5: Neem cây 100g/ô thí nghiệm 30m
2
(40 kg/ha).
CT6: Trichoderma TP. HCM 300g/ô thí nghiệm 30m
n là cấp bệnh cao nhất
Các công thức thí nghiệm đợc bố trí theo sơ đồ sau:
6.0 m
Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm da hấu
3.3.2. Điều tra ngoài đồng
- Đối với các diện tích nhỏ: điều tra 100% số cây có trên diện tích đó
- Đối với các diện tích lớn: điều tra theo phơng pháp điều tra 5 điểm chéo
góc với số lợng 100 cây/điểm(nếu là bệnh hại trên thân) và tổng số
lá/cây/điểm(nếu là bệnh hại trên lá).
- Thời gian điều tra: 10 ngày điều tra một lần trên những điểm điều tra
chính.
- Bảng phân cấp bệnh đối với các loại bệnh nh sau:
+ Bệnh hại trên lá:
Cấp 1: < 1% diện tích lá bị bệnh
Cấp 2: 1 - 5% diện tích lá bị bệnh
Cấp 3: >5 - 25% diện tích lá bị bệnh
Cấp 4: >25 - 50% diện tích lá bị bệnh
Cấp 5: > 50% diện tích lá bị bệnh
+ Bệnh hại trên thân:
Cấp 1: < 1/4 diện tích bẹ lá bị bệnh
Cấp 2: 1/4 - 1/2 diện tích bẹ lá bị bệnh
24
CT1 CT4 CT3 CT2 CT6 CT5 CT7
CT6 CT3 CT4 CT5 CT7 CT1 CT2
CT7 CT5 CT2 CT1 CT3 CT6 CT4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đinh Xuân Hoàn -
BVTV48B
BVTV48B