Chương I
Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp Trịnh Công Sơn
Trịnh Công Sơn quê làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa
Thiên. Ông sinh vào giờ Thìn, ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Mão tức ngày 28 tháng 2
năm 1939, tại Daklak. Ông mất vào 12:45 trưa ngày 1 tháng 4 năm 2001, tại Sài Gòn.
Ông an nghỉ tại nghĩa trang Gò Dưa chùa Quảng Bình, tỉnh Bình Dương bên cạnh mộ của
thân mẫu.
Năm 1943 từ Dak Lak ông theo gia đình chuyển về Huế. Ông học trường tiểu học
Nam Giao (nay là Trường An), vào trường Pellerin, theo học trường Thiên Hựu
(Providence). Ông tốt nghiệp tú tài ban Triết tại Chasseloup Laubat, Sài Gòn. Học trường
Sư Phạm Quy Nhơn khoá I (1962-1964). Sau khi tốt nghiệp ông lên dạy học và làm Hiệu
trưởng một trường Tiểu học ở Bảo Lộc (Lâm Đồng). Sau 1965, ông bỏ hẳn nghề dạy học,
về sống và sáng tác tại Saigon. Sau 1975 ông sống ở Huế một thời gian dài và sau đó vào
ở hẳn tại Sài Gòn (Tp Hồ Chí Minh).
Ngoài Âm nhạc, tác phẩm của ông còn gồm nhiều thể loại thuộc các lãnh vực như:
Thơ, Văn và Hội Họa.
Ông tự học nhạc, bắt đầu sáng tác năm 1958 với tác phẩm đầu tay Ướt Mi (Nhà Xuất
Bản An Phú in năm 1959). Cho đến nay nhạc sĩ đã sáng tác hơn 600 tác phẩm, có thể
được phân loại dưới 3 đề mục lớn: Tình Yêu- Quê Hương- Thân Phận.
Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng ở Nhật Bản với bài "Ngủ Đi Con" (trong
Ca Khúc Da Vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly phát hành trên 2 triệu bản; Giải
thưởng cho Bài hát hay nhất trong phim “Tội Lỗi Cuối Cùng”; Giải Nhất của cuộc thi
"Những bài hát hay nhất sau 10 năm chiến tranh" với bài "Em Ở Nông Trường, Em Ra
Biên Giới"; Giải Nhất cuộc thi "Hai mươi năm sau" với bài "Hai Mươi Mùa Nắng Lạ";
Năm 1997 ông đoạt giải thưởng lớn của Hội Nhạc Sĩ cho một chuỗi bài hát: "Xin Trả Nợ
Người", "Sóng Về Đâu", "Em Đi Bỏ Lại Con Đường". Trịnh Công Sơn có tên trong tự
điển Bách Khoa Pháp "Encyclopédie de tous les pays du monde" (Coll. Les Millions)
Về quan niệm sáng tác, Trịnh Công Sơn bộc bạch: "Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua
miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo "
Trong quan niệm sống, ông cho rằng “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, dù
không để làm gì cả, dù chỉ để gió cuốn đi!”
Đã hơn một lần nhân vật Tôi ấy lặng lẽ nhìn lại mình. Phải trả giá bằng những năm tháng
trẻ thơ đầy ảo tưởng, ngày nay không còn bé tôi mới chợt nhìn ra tôi, thấy tôi như chiếc
bóng phai mờ, như vết mực nhòe, như hòn đá nặng tình cờ rớt xuống mịt mùng, và tôi cứ
trôi trong cuộc đời… không chờ ai. “Trời cao đất rộng- Một mình tôi đi- Một mình tôi đi-
Đời như vô tận- Một mình tôi về- Một mình tôi về với tôi” (Lặng lẽ nơi này). Hết âm
thầm gõ buồn gót chân hành hương bóng đổ một mình, tôi lại khép cửa quỳ bên vết
thương, nhốt mình trong căn gác đìu hiu, soi bóng mình giữa tường trắng lặng câm, rồi
một hôm “chợt thấy hoang vu quanh mình” mà thốt lên: “Ô hay mình vẫn cô liêu!”. Hiu
quạnh, lạnh lùng, im vắng, tịch lặng, băng giá, xa lạ, xa vắng, lặng câm, hư vô, hun hút,
lẻ loi, âm u, lạnh lẽo, bơ vơ, lạc loài…
Bao nhiêu tính từ kiểu đó cứ chồng chéo, vây bủa lấy thân phận Tôi, đan kết thành
một tấm lưới vô hình khổng lồ có tên là Cô đơn.
Mỗi thanh âm của thế giới khi lọt vào thính trường của con người ấy, của cái Tôi
ấy đều trở thành một vọng âm nói về sự cô đơn, gợi đến sự cô đơn hoặc bắt anh ta phải
nhận ra sự cô đơn. Đó là tiếng hát: Chiều chủ nhật buồn/Nằm trong căn gác đìu hiu/Ôi
tiếng hát xanh xao của một buổi chiều/Trời mưa trời mưa không dứt/Ô hay mình vẫn cô
liêu (Lời buồn thánh). Đó là tiếng gà trưa: Về trên phố cao nguyên ngồi/Tiếng gà trưa
gáy khan bên đồi/Chợt như phố kia không người/Còn lại tôi bước hoài (Lời thiên thu
gọi). Đó là tiếng mưa như lời ru miệt mài/ngàn năm ngàn năm trong ca khúc Tuổi đá
buồn, tiếng mưa khiến câu hỏi "còn ai còn ai?" bật ra não nuột như tiếng thở dài của thi
nhân trước nỗi cô đơn trên nhân thế.
Cần nói thêm rằng: giữa trùng trùng âm thanh của thế giới, cùng với lời ru, dường
như Trịnh Công Sơn yêu nhất tiếng mưa. Không phải chỉ vì mưa đã giăng mịt mùng
trong các ca khúc của ông, mà còn vì tiếng mưa nhiều khi được ông dùng như một âm
chuẩn để "đo" các thanh âm khác, tiếng lá chẳng hạn. Dùng tiếng mưa "đo" tiếng lá, ông
có những ca từ tuyệt hay: Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ (Diễm xưa), Lá hát như mưa
suốt con đường đi (Em còn nhớ hay em đã quên) v.v Và bằng phương pháp đo cộng
hưởng này, ông đã gom nhặt được hầu hết những âm thanh gợi bóng cô đơn và sầu thảm.
Cô đơn, ở một khía cạnh nào đó, là cây thập giá tinh thần mà người nghệ sĩ đích thực
phải mang vác suốt cuộc đời mình. Trong cô đơn, Trịnh Công Sơn tỏ ra có một thính lực
những trang giấy tinh khôi chúng tôi không bao giờ thấy bóng dáng những đường kiếm
mưu đồ, những vết dao khắc nghiệt. Chúng tôi vẽ lại những đất đai, trên một đời sống
không còn bạo lực ". Và thông qua lăng kính tâm hồn Trịnh, có lẽ là không hàm hồ khi
nói rằng nỗi buồn, cô đơn và tuyệt vọng là những bản chất cố hữu của mỗi con người, là
thước đo những chân giá trị của thân phận. Đó là kết quả của trái tim, của khối óc, và của
cả một quá trình họ Trịnh tập chạy cùng thời gian. Trong tất cả những điều chân thật về
con người, có lẽ cảm giác của nỗi buồn, của sự cô đơn, tuyệt vọng là chân thật nhất. Bởi
lẽ không ai có thể dối lừa con tim mình. Và như thế nỗi buồn, cô đơn đã trở thành niềm
tin, thành triết lý sống " Tin vào niềm tuyệt vọng có nghĩa là tin vào chính mình. Tin
vào cuộc đời vốn không thể khác. Và như thế, tôi đang yêu thương cuộc đời bằng nỗi
lòng của tên tuyệt vọng." (Trịnh Công Sơn).
Cái tôi nghệ sĩ cần có đủ nỗi buồn để thấy mình còn tồn tại giữa cuộc sống này,
cần có đủ niềm đau để nhận ra mình là người đa cảm, cần những khoảnh khắc cô đơn để
yêu mình hơn, yêu đời hơn, và cần những phút giây tuyệt vọng để chiến thắng nỗi sợ hãi,
ám ảnh về sự tàn phai và cái chết.
Nỗi buồn, sự cô đơn của mỗi cá thể, của mỗi thân phận mà cũng có lúc không phải
của riêng ai. Cái tôi đa cảm ấy đã buồn nỗi buồn của bản thân và của mỗi kiếp người. Đó
là tiếng kêu đau thương của người mẹ mà gia tài dành tặng cho con chỉ là “một rừng
xương khô, một núi đầy mồ” (Ca dao mẹ). Và đó không còn là chuyện tình cảm của một
cá nhân, mà là nỗi buồn của toàn thể dân tộc, của người mẹ Việt Nam khóc thương cho
những đứa con da vàng. Đôi khi tiếng hát của nỗi cô đơn lại được cất lên từ sự lạc lõng
của một (hay những) “đàn bò vào thành phố” (Du mục); của ai đó trong những buổi
“chiều một mình qua phố”, hay nhẹ nhàng vương trên nhưng giây phút “ướt mi”…
Nói tóm lại cái buồn, cái cô đơn của thân phận con người vừa là tâm sự bản thể,
vừa là nỗi ám ảnh của mọi kiếp người. Nó là sự phản ánh của hiện thực đời sống khách
quan qua lăng kính tâm hồn của người nghệ sĩ. Trịnh Công Sơn đã đánh thức, đã khơi gợi
trong mỗi con người một hoặc nhiều hơn nỗi buồn, nỗi cô đơn, niềm tuyệt vọng để ai đó
thoáng chút giật mình bỗng thấy đau nỗi đau kiếp người, nỗi đau nhân thế. Để rồi khi
chợt tỉnh “giấc mơ xưa”, trầm ngâm chiêm nghiệm sự tồn tại của bản thể, của cái Tôi và
của cõi đời nhiều khi mong manh hơn niềm tuyệt vọng.
đâu rồi. Nôi trống ru ai”. Không có gì khác người khi đó là cái nhìn triết học về thân
phận con người ngay từ lúc nó chào đời, nhìn thấy tia nắng đầu tiên và chào cuộc đời
cũng bằng thân mệnh của tiếng khóc đầu tiên.
Nhất quán với tư tưởng Phật giáo, Trịnh Công Sơn đã nhìn thấy ngay từ khi sinh
ra, trong con người đã tiềm tàng “mầm bệnh”, hữu thân hữu bệnh. Bệnh ở đây là những
cơn đau của thể xác và đặc biệt là nỗi đau tinh thần xuất phát từ nhận thức “vì với ý thức,
người là một con vật bị bệnh”. Chu Sơn không cần nhiều hàm ý khi viết rằng chính Trịnh
Công Sơn “đã chiếm lấy nỗi đau làm báu vật, đồng thời làm vũ khí của riêng mình”.
Nỗi đau khổ tâm hồn ấy đã suốt đời như ngôi sao chiếu mệnh người nhạc sĩ tài hoa, khiến
ông cất lên những lời ca quán tưởng nhất, giải thích một hợp đồng thân phận trọn vẹn
nhất, có sức thuyết phục nhiều người nhất về sự có mặt của Nỗi - Đau - Làm - Người.
Sống với những giấc mơ, Trịnh Công Sơn thấy mình hóa thành chim, như nghìn năm
trước Trang Tử thấy mình hóa bướm, nhưng rồi ông “như con chim bệnh, thiếu hạnh
phúc trần gian”.
Bệnh ở đây là sự ngốc dại, ngậm ngùi “tự làm khô héo tôi đây”, là “ngủ dài lâu
mang theo vết thương sầu”, bệnh đến mệt mỏi, ơ thờ và nặng nề nhất, để lại nhiều di
chứng nhất đó là BỆNH YÊU: thắc thỏm chờ đợi, như đứng đi trên lửa, nằm ngồi không
yên, chút niềm hy vọng “đôi môi em là đốm lửa hồng” chợt lụi tàn tắt vùi nỗi thất vọng:
“Chiều nay còn mưa sao em không lại. Nhớ mãi trong cơn đau vùi”.
Đi tìm sự đồng nhất, đồng thuận giữa bệnh = nỗi đau thân xác = nỗi đau tinh thần
= nỗi đau tình yêu, Trịnh Công Sơn đã đẩy phạm trù cái “bệnh” của Phật giáo vượt qua
giới hạn của cách hiểu thông thường về phạm trù của bệnh.
Bệnh trở thành một thực thể tồn tại như một phần của bản chất Cái Đẹp. Thông
qua giai điệu nồng nàn của âm nhạc Trịnh Công Sơn, con người không còn sợ hãi bệnh,
xem bệnh là một tất nhiên - cái giới hạn mà khi nhận thức được nó, con người sẽ tiến gần
đến với sự tiệm ngộ.
Đó là một cuộc sống chung, hóa vàng nỗi sợ hãi, những cơn đau thành một cái đẹp
vô lời. Bệnh trở thành một đóa hoa lạ trong nhận thức sâu thẳm về phận người. Cái “vết
thương thời đại” ấy (chữ dùng của Bửu Ý) là một thú đau thương khá bất ngờ và đầy ma
lực của âm nhạc Trịnh.
cùng”. Cái chết thanh thiên bạch nhật trong đời thực “Chìm dưới cơn mưa. Một người
chết đêm qua”. Chết trong cả giấc mơ “Một lần nằm mơ, tôi thấy tôi qua đời”.
Có một điều bất ngờ, là ở mỗi “kiểu chết”, Trịnh Công Sơn đều nhìn thấy những
tư thế chết bi tráng, hầu như không muốn làm hạt bụi của con người. Cái tư thế mà bậc
đại trí Chế Lan Viên sinh thời đã viết “Vê hạt cát thời gian chọi lại với vô cùng”. Có tư
thế chết thơ mộng và kêu dũng “Người nằm co như loài thú trong rừng sương mù. Người
nằm yên không kêu than chết trên căn phần”. Có tư thế chết chỉ là một dấu bàn chân quên
trở lại “Chìm dưới cơn mưa. Bàn chân nhỏ bé. Năm nay năm nay đã quên đường về”.
Quả là khó có cái chết đau thương nào lại nhẹ nhàng như là “quên” như vậy, mà nỗi đau
đã được nén chịu rồi lặp đi lặp lại qua trạng từ chỉ thời gian “năm nay, năm nay ”. Chết
chủ động tiếp nhận với tư thế của một lời chào không chút ngại ngần “Đường trần rồi
khăn gói. Mai kia chào cuộc đời. Nghìn trùng cơn gió bay”
Và không ở đâu cái chết vốn tràn ngập bi thương và phi lý lại xuất hiện đẹp như
đoạn kết một cuộc hẹn hò “Những hẹn hò từ nay khép lại. Thân nhẹ nhàng như mây”.
Vậy đó, sau khi đã mô tả hàng trăm “kiểu chết” tàn lạnh khói hương, tạc vào giai điệu
buồn như phúc âm hàng trăm “tư thế chết” dịu dàng và lẫm liệt, Trịnh Công Sơn - nhạc
sĩ, bỗng trở thành một Thiền Sư đốn ngộ với nụ cười nhẹ nhàng rằng cái chết không đe
dọa được ai.
Tạo hóa đã đùa cợt con người và đến lượt mình con người minh triết có thể “nhân
định thắng thiên” bằng cái nhìn trực diện, không trốn tránh và sợ hãi trước cánh cửa vô
thường Sinh - lão - bệnh - tử.
2. Tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn
Tạ ơn đời, tạ ơn tình yêu là một trong những đặc điểm nổi bật trong ca từ Trịnh
Công Sơn. Tình yêu ở Trịnh Công Sơn là tình yêu không hạnh phúc. Hầu hết trong
những tình ca của ông là những bức tranh mang tên: tình phụ, tình sầu, tình xa, tình xót
xa vừa, tình nhớ, tình vơi Hạnh phúc có chăng, chỉ đong bằng những mảnh vụn và
những mảnh vụn cũng sẽ chìm trôi.
Trong đời người ai chẳng từng yêu và được yêu và tránh sao khỏi những cuộc
tình tan vỡ. Thế giới tình yêu của Trịnh Công Sơn là một đóng góp thành công trong việc
phát hiện và biểu hiện những ngôn ngữ tình yêu sâu kín, thể hiện mọi cung bậc tình cảm,
Trả nợ một đời em đã phụ tôi (Xin trả nợ người)
Trịnh Công Sơn cũng viết về duyên và nợ, những món nợ tình chẳng bao giờ
thanh toán nổi: Trả nợ một đời không hết tình đâu (Xin trả nợ người)
Trong những tình khúc Trịnh Công Sơn, tình yêu vừa là mật ngọt, vừa là mật
đắng:
Tình yêu mật ngọt, mật ngọt trên môi.
Tình yêu mật đắng, mật đắng trong đời (Lặng lẽ nơi này)
Tại sao lại như vậy? Trịnh Công Sơn không có lời giải thích, chỉ nghe ông
nói: “Con người không thể sống mà không yêu. Có người yêu thì hạnh phúc, có người
yêu thì đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc, con người vẫn muốn yêu. Tình yêu vì
thế mà tồn tại”.
Những chuyện tình ông viết thường là những chuyện tình lặng lẽ, không sóng gió,
không sôi nổi, nhưng không phải là không đắm say, nồng nàn:
Tôi xin làm cây xa, đứng nhìn em rực rỡ
Tôi xin làm nụ cười, chờ em giữa đôi môi
Tôi xin làm mộng nhỏ, em vừa giấc ngủ say
(Vì tôi cần thấy em yêu đời)
Cái thứ tình yêu vừa dịu vợi xa xôi, lại cũng thật gần gụi ấy vấn vương gót chân
người, xô đẩy tình nhân đến với tình nhân, rút gần những khoảng cách yêu tin, và trói
chặt tâm hồn người. Chúng ta dễ dàng nhận ra một tình yêu xuyên suốt các tác phẩm của
họ Trịnh và mang một phong cách rất Trịnh: Yêu em với đủ các sắc thái (nhớ nhung, lặng
lẽ pha chút hờn dỗi) để tiến tới yêu đời. Trịnh Công Sơn ru người tình mà cũng chính là
ru mình, ru đời…
Tình khúc Trịnh Công Sơn là một di sản vô cùng quý giá trong dòng nhạc Trịnh
nói riêng và trong âm nhạc trữ tình Việt Nam nói chung. Có thể nói rằng tình yêu trong
các ca khúc của Trịnh đã, đang, và sẽ mãi còn ám ảnh người nghe bao thế hệ.
KẾT LUẬN
Bao nhiêu năm đã trôi qua kể từ ngày họ Trịnh bước những bước chân mò mẫm
vào lịch sử âm nhạc dân tộc. Bao nhiêu năm ấy, rất nhiều thứ đã phôi pha cùng thời gian,
nhưng nhạc Trịnh vẫn còn đó, lặng lẽ mà sâu xa như một lời tự tình, như tiếng thở dài