LỜI NÓI ĐẦU
Báo chí có vai trò quan trọng đặc biệt trong đời sống xã hội nói chung,
văn hóa nói riêng. Các quan hệ xã hội về báo chí rất đa dạng, phong phú và phức
tạp. Nó đan xen giữa văn hóa - tư tưởng với kinh tế, giữa lao động sáng tạo của
tư duy với lao động sản xuất vật chất, nó xuyên suốt quá trình sản xuất - lưu
thông và tiêu dùng hàng hóa. Hoạt động báo chí là kênh thông tin quan trọng để
tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, góp phần ổn định chính
trị, phát triển văn hóa và kinh tế, nâng cao dân trí, đời sống tinh thần của nhân
dân Do đó, tăng cường quản lý nhà nước (QLNN) về báo chí là vấn đề quan
trọng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Trong luật pháp cũng như các
chủ trương, sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý báo chí ngày càng khoa học, phù hợp với
sự phát triển của báo chí. Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X về
công tác tư tưởng, lý luận và báo chí, Đảng ta đã chỉ rõ: “… Báo chí phải nắm
vững và tuyên truyền sâu rộng, kịp thời có hiệu quả đường lối, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, bám sát nhiệm công tác tư tưởng, tích
cực tuyên truyền, cổ vũ thành tựu của công cuộc đổi mới; đổi mới tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước
đối với báo chí…”.
Sự đổi mới và phát triển của báo chí luôn gắn liền với sự nghiệp đổi mới
của đất nước.
Nghiên cứu hoạt động báo chí và thực trạng phát triển báo chí, công tác
quản lý nhà nước về báo chí. Nghiên cứu thực trạng, cơ chế, chính sách, luật
pháp quản lý nhà nước về báo chí; đánh giá những điểm mạnh, hạn chế của cơ
chế, chính sách, luật pháp quản lý nhà nước về báo chí đối với các cơ quan báo
chí và cơ quan quản lý nhà nước về báo chí trong thời gian qua; tìm ra những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động báo chí ở nước ta
hiện nay.
1
NỘI DUNG
Chương1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ
Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức
các cơ quan ngang Bộ quản lý báo chí theo lĩnh vực theo sự phân công của
Chính phủ.
Cục báo chí là các cơ quan giúp Bộ Văn hóa -Thông tin thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về báo chí trong cả nước”
2
Ngày 25/12/2007, Chính phủ ban hành Nghị định 187/2007/NĐ – CP quy
định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ thông tin và
Truyền thông, trong đó quy định rõ: “ Bộ thông tin và Truyền thông là cơ quan của
Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước về báo chí, xuất bản …”. Để
huyên trách hơn, bên cạnh Cục báo chí (chuyên quản lý báo chí in), Bộ thông tin và
Truyền thông đã thành lập thêm 2 cơ quan quản lý báo chí mới (Cục quản lý thực
hiện chức năng quản lý Nhà nước về báo chí theo hướng chuyên sâu và Cục quản lý
phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử và cục Thông tin đối ngoại).
Nhìn tổng thể trong thời gian qua, công tác quản lý báo chí đã cơ bản
thực hiện tốt các lĩnh vực công tác chủ yếu, đó là: tích cực triển khai, rà soát,
xây dựng mới và sửa đổi, bổ sung nhiều quy phạm pháp luật về báo chí, bước
đầu đáp ứng tốt hơn những nhu cầu mới của công tác quản lý của nhà nước về
lĩnh vực đặc biệt phức tạp và nhạy cảm này; tích cực triển khai việc xây dựng
chiến lược phát triển, quy hoạch hệ thống đối với tất cả các loại hình báo chí.
Bên cạnh việc quản lý thông tin và cung cấp thông tincho báo chí với sự phối
hợp của Ban tuyên giáo Trung ương, Bộ thông tin và truyền thông đã tổ chức
đều đặn và có chất lượng các cuộc giao ban định kỳ hàng tuần, kịp thời chỉ đạo
và định hướng thông tin trên báo chí, đặc biệt là về các sự kiện lớn, quan trọng
đặc biệt nhạy cảm và đột xuất.
Bộ đã chú trọng, quan tâm thực hiện tốt việc định hướng các cơ q uan
báo chí trong việc phát hiện, cổ vũ, nhân rộng điển hình tiên tiến trong phong
trào thi đua yêu nước, tích cực hưởng ứng cuộc vận động “ Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Không chỉ Bộ thông tin và Truyền thông
thường xuyên cung cấp thông tin và chỉ đạo báo chí thông tin theo định hướng
về chương trình, mục tiêu lớn của Chính Phủ, tạo sự đồng thuận trong xã hội,
xuất bản, bảo đảm không có báo chí tư nhân, làm tốt công tác tư tưởng và giữ
vững trận địa tư tưởng trong bối cảnh tình hình bên ngoài và trong nước có
những diễn biến mới, phức tạp.
Nghị quyết và những văn bản chỉ đạo của Đảng đã góp phần quan trọng
trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về báo
chí, xuất bản. Có thể nêu một số văn bản quan trọng gần đây như:
Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 22-7-2005 của Ban Bí thư về phát triển và
quản lý báo điện tử ở nước ta hiện nay; Thông báo kết luận số 41-TB/TW ngày
11-10-2006 của Bộ Chính trị về một số biện pháp tăng cường lãnh đạo và quản
lý báo chí; Thông báo kết luận số 68-TB/TW ngày 30-3-2007 của Bộ Chính trị
về tiếp tục thực hiện Thông báo số 41-TB/TW ngày 11-10-2006 của Bộ Chính trị
về một số biện pháp tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí; Quyết định số 75-
QĐ/TW ngày 21-8-2007 của Ban Bí thư về việc ban hành Quy chế bổ nhiệm,
miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí; Quyết định
số 155-QĐ/TW ngày 23-4-2008 của Ban Bí thư về việc ban hành Quy định về sự
phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và
Truyền thông, Đảng đoàn Hội Nhà báo Việt Nam và các cơ quan Đảng, Nhà
nước trong công tác chỉ đạo, quản lý báo chí; Quyết định số 157-QĐ/TW ngày
29-4-2008 của Ban Bí thư về việc ban hành Quy định về chỉ đạo, định hướng
chính trị, tư tưởng, nhất là đối với các vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm
trong nội dung thông tin của báo chí; Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 31-7-2008 của
Ban Bí thư về tăng cường công tác xây dựng Đảng trong các cơ quan báo chí;
Quyết định số 202-QĐ/TW ngày 11-12-2008 của Ban Bí thư về việc ban hành
4
Quy chế phối hợp và gắn kết công tác tư tưởng với công tác tổ chức, cán bộ và
công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, báo chí.
Trong lĩnh vực xuất bản, cùng với Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 17-10-1997
của Bộ Chính trị, Thông tri số 01/TT-TW ngày 25-12-2001, Ban Bí thư Trung
ương Đảng khoá IX đã ra Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 25-8-2004 về nâng cao
chất lượng toàn diện hoạt động xuất bản.
xác định nguồn tin trên báo chí để khắc phục tình trạng đăng thông tin không rõ
nguồn gốc, thông tin liên quan đời tư công dân; hay Thông tư hướng dẫn việc
thành lập và hoạt động của cơ quan đại diện, phóng viên thường trú ở trong nước
5
của cơ quan báo chí nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng trong hoạt động tác
nghiệp của cơ quan báo chí, phóng viên tại địa phương, đồng thời nâng cao vai
trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý báo chí tại địa phương, chấn chỉnh những
bất cập, lộn xộn của hoạt động đặt văn phòng đại diện và cử phóng viên thường
trú như đã từng xảy ra trước khi ban hành Thông tư
Công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
phát triển sự nghiệp báo chí được thực hiện nghiêm túc, đúng định hướng và sự
chỉ đạo của lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính
trị tại các Thông báo số 162-TB/TW, số 41-TB/TW và số 68-TB/TW về một số
biện pháp tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí, Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 388/QĐ-TTg ngày 13-5-2005 và Chỉ thị số 37/2006/CT-TTg ngày 29-
11-2006 của Thủ tướng Chính phủ thực hiện kết luận của Bộ Chính trị. Chỉ thị
số 37 của Thủ tướng Chính phủ một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết không để
tư nhân hoá báo chí dưới mọi hình thức và không để bất cứ tổ chức hoặc cá nhân
nào lợi dụng, chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất
nước”.
Với tinh thần đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng và triển
khai Chương trình hành động thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị và Quyết định,
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, Bộ đã và đang tiếp tục tiến hành rà
soát chức năng, nhiệm vụ các cơ quan báo chí, xác định những ấn phẩm chồng
chéo về tôn chỉ, mục đích, chức năng nhiệm vụ, không phù hợp quy hoạch đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đã trình Thủ tướng Chính phủ quyết định
phê duyệt đề án quy hoạch báo chí in đến năm 2020; xây dựng Kế hoạch phát
triển hệ thống phát thanh - truyền hình địa phương đến năm 2020
Công tác xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật
về báo chí; xây dựng chế độ, chính sách về báo chí được Bộ Thông tin và Truyền
hợp với các cơ quan có liên quan trình Chính phủ ban hành Nghị định số
97/2008/NĐ-CP ngày 28-8-2008 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet
và thông tin điện tử trên Internet.
Hiện nay, Bộ Thông tin và Truyền thông đang xây dựng và sẽ ban hành trong
thời gian tới một số văn bản như: Thông tư hướng dẫn việc cấp giấy phép hoạt động
báo chí; thu hồi, tịch thu ấn phẩm báo chí; đình bản tạm thời và thu hồi giấy phép
hoạt động báo chí; Thông tư hướng dẫn việc quản lý chất lượng tín hiệu đầu cuối
truyền hình cáp tương tự; Thông tư liên bộ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và tổ chức bộ máy hệ thống phát thanh, truyền hình từ tỉnh đến cơ sở; Thông tư
hướng dẫn Nghị định số 97/2008/NĐ-CP về quản lý thông tin trên In-tơ-net
Về xuất bản, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tích cực trong việc tham
mưu, đề xuất với Chính phủ và một số bộ, ngành có liên quan từng bước xây
dựng hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, như trong vòng gần 5 năm, 2
lần tiến hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản năm 1993 (năm
2004 và năm 2008) và xây dựng hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật
Xuất bản để triển khai thực hiện đồng bộ khi Luật có hiệu lực thi hành.
Việc sửa đổi Luật Xuất bản đã bảo đảm thể chế hoá một cách khoa học
và toàn diện các quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động xuất bản,
đồng thời bảo đảm sự phát triển ổn định của hoạt động xuất bản cả trước mắt và
lâu dài; đặc biệt tạo sự tự chủ, năng động, sáng tạo cho các đơn vị trong hoạt
động xuất bản. Nội dung sửa đổi, bổ sung đã kế thừa những quy định còn phù
hợp trong Luật Xuất bản năm 1993, bổ sung những vấn đề mới do thực tiễn và
yêu cầu phát triển của hoạt động xuất bản đặt ra; cụ thể hoá những quy định còn
7
chung chung, mang tính nguyên tắc hoặc quá đơn giản; bỏ những quy định đã lạc
hậu hoặc thiếu tính khả thi.
Trong quá trình thực thi, Luật Xuất bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động xuất bản phát triển đúng định hướng chính trị của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, nâng cao hiệu quả công tác quản lý xuất bản và chất lượng xuất bản
phẩm, khắc phục những quy định không còn phù hợp hoặc thiếu khả thi do sự
phạm pháp luật về báo chí, xuất bản được ban hành bảo đảm tiến độ thời gian,
không để xảy ra tình trạng văn bản chỉ đạo của Đảng ban hành ra nhưng lại
không được thể chế hoá trong các quy định của pháp luật hoặc không ban hành
8
văn bản quy phạm pháp luật nên những nguyên tắc, chỉ đạo trong văn bản của
Đảng không đến được với thực tiễn của đời sống xã hội.
3 - Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn cho bộ phận tham mưu, xây
dựng các văn bản của Đảng liên quan lĩnh vực có tính chuyên ngành như báo
chí, xuất bản. Bộ phận này có tinh thông nghiệp vụ, bám sát thực tiễn hoạt động
và công tác quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản thì mới làm tốt nhiệm vụ tham
mưu cho Đảng, góp phần nâng cao hiệu quả văn bản chỉ đạo của Đảng, để từ đó
chất lượng và hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phù hợp
và điều chỉnh kịp thời thực tiễn phát triển của hoạt động báo chí, xuất bản trong
xu thế hội nhập sâu rộng với thế giới./.
Chương II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
Trong những ngày đầu năm mới 2007 và chuẩn bị đón Xuân Ðinh Hợi,
trên vùng đất Quảng Ninh thơ mộng, giàu truyền thống văn hóa, cách mạng và
đang đổi mới mạnh mẽ, chúng ta cùng nhau thực hiện một công việc quan trọng
và mang nhiều ý nghĩa: Sơ kết, đánh giá hai năm thực hiện Thông báo kết luận
162-TB/T.Ư của Bộ Chính trị Khóa IX về tăng cường lãnh đạo, quản lý báo chí.
Lời đầu tiên, cho phép tôi thay mặt Ban Bí thư, Ban Tư tưởng - Văn hóa
T.Ư và các cơ quan chủ trì tổ chức hội nghị, xin gửi tới tất cả các đồng chí lời
chúc mừng tốt đẹp nhất: Năm mới - sức khỏe, hạnh phúc và thành công !
Như chúng ta đều biết: Trong quá trình lãnh đạo nhân dân ta thực hiện
hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Ðảng
và Nhà nước ta luôn coi trọng vị trí, vai trò, tác dụng to lớn của báo chí đối với
xã hội; đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về lãnh đạo và quản
lý báo chí. Cách đây hai năm, ngày 1-12-2004, Bộ Chính trị (Khóa IX), ra Thông
báo kết luận số 162-TB/T.Ư Về một số biện pháp tăng cường quản lý báo chí
thành tốt nhiệm vụ, góp phần tạo phong trào hành động cách mạng trong đời
sống xã hội.
Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, nhân dân ta đã thực
hiện công cuộc đổi mới hơn 20 năm. Trong quãng thời gian đáng ghi nhớ ấy, đất
nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những bước chuyển cơ
bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thu được những thắng lợi
quan trọng. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Hệ thống chính trị và
khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định,
quốc phòng - an ninh được giữ vững. Thế và lực của nước ta trên trường quốc tế
không ngừng được nâng cao. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng rõ hơn.
Công cuộc đổi mới của chúng ta thu được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch
sử. Trong thành tích chung ấy, có phần đóng góp xứng đáng của đội ngũ báo chí.
Với khẩu hiệu "Đổi mới báo chí vì sự nghiệp đổi mới đất nước", báo chí nước ta
những năm vừa qua tiếp tục phát triển mạnh mẽ về số lượng, loại hình, ấn phẩm,
công nghệ, phạm vi tác động đến công chúng.
Tính đến nay, cả nước có 687 cơ quan báo chí với khoảng hơn 800 ấn
phẩm, gồm có 172 báo (trung ương: 71; địa phương: 101); 448 tạp chí (trung
ương: 352; địa phương: 96); 67 đài phát thanh, truyền hình (trung ương: 02; địa
phương: 65); 5 báo điện tử, 105 trang tin điện tử của các cơ quan báo chí; hàng
nghìn trang tin điện tử của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
10
Ở tất cả các bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội đều có cơ quan báo chí.
Các bộ có số lượng lớn là Bộ Quốc phòng (trên 20 cơ quan báo chí), Bộ Công an
(gần 20 cơ quan báo chí), Bộ Y tế (15 cơ quan báo chí). Tổ chức chính trị - xã
hội có nhiều cơ quan báo chí, nhất là Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh với 10 cơ quan báo chí. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
đều có ít nhất từ 2 đến 3 cơ quan báo chí, gồm báo của đảng bộ địa phương, đài
phát thanh - truyền hình, tạp chí của hội văn nghệ. Các địa phương có nhiều cơ
quan báo chí nhất là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,
thiếu trung thực, suy diễn, thổi phồng, khoét sâu vào những thiếu sót, khuyết
11
điểm của một số tổ chức, cá nhân, tô đậm mặt trái, những hiện tượng tiêu cực, tệ
nạn xã hội diễn ra đáng lo ngại. Hiện tượng này đang lặp lại tại không ít cơ
quan báo chí và đang có chiều hướng gia tăng. Đây là hệ quả của lối làm báo
chụp giật vô trách nhiệm, thậm chí xuất phát từ động cơ xấu của một số phóng
viên nhằm tạo ra những "sự cố", những vụ tai tiếng, những vụ giật gân, câu
khách. Thông tin sai sự thật còn là biểu hiện của sự cẩu thả, tắc trách, coi thường
bạn đọc, coi thường pháp luật trong quy trình biên tập, thẩm định, xét duyệt tin,
bài của những người có trách nhiệm quản lý và điều hành cơ quan báo chí.
Thứ hai, đó là sự thiếu nhạy cảm về chính trị, đưa thông tin không có lợi
cho quốc gia, gây bất lợi cho hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và
công tác đối ngoại. Vẫn còn tình trạng nhà báo thường sa đà vào "mảng tối", mặt
trái của đời sống xã hội, tạo nên bức tranh ảm đạm, bi quan về đất nước, địa
phương, cơ quan, đơn vị. Những thông tin này tạo nên hiệu ứng không tốt trong
công chúng, tạo cái nhìn thiên lệch cho người nước ngoài về Việt Nam; bị các
đối tác và đối thủ nước ngoài triệt để khai thác, lợi dụng nhằm gây sức ép với
nhà nước ta trên các bàn đàm phán đa phương và song phương về chính trị, kinh
tế, thương mại, đầu tư
Thứ ba, một số cơ quan báo chí và nhà báo sa đà vào các thông tin dung
tục, giật gân, tình dục, bạo lực, mê tín dị đoan, không phù hợp với thuần phong
mỹ tục Việt Nam nói chung và của thành phố nói riêng, làm suy giảm tính định
hướng, tính giáo dục và tính thẩm mỹ của báo. Đây là xu hướng đáng báo động
trong hoạt động báo chí. Những câu chuyện phòng the tục tĩu, tự nhiên chủ
nghĩa, những hình ảnh hở hang, khêu gợi những câu chuyện về đồng bóng, bói
toán, gọi hồn có nơi, có lúc rộ lên làm xôn xao dư luận. Thực chất, đó là một
kiểu lừa phỉnh công chúng, để bán báo, đăng tải quảng cáo.
Thứ tư, có cơ quan báo chí thực hiện chưa nghiêm túc định hướng thông
tin; thực hiện không đúng tôn chỉ, mục đích đã được quy định trong giấy phép do
Bộ Văn hóa - Thông tin cấp; chấp hành không đầy đủ, không đúng các quy định
về báo chí sẽ tiến hành triển khai một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là, tiếp tục rà soát và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về báo
chí. Có kế hoạch tổng kết, đánh giá việc thực hiện Luật Báo chí và các văn bản
quy phạm pháp luật hiện hành để đề xuất việc sửa đổi, bổ sung phù hợp với yêu
cầu thực tiễn công tác quản lý báo chí và hoạt động báo chí.
Hai là, có hình thức biểu dương, khen thưởng kịp thời các cơ quan báo
chí và nhà báo hoàn thành tốt nhiệm vụ, thực hiện nghiêm tôn chỉ, mục đích,
thông tin đạt hiệu quả cao, có sáng kiến và thành tích trong việc định hướng, tạo
dư luận, tạo phong trào hành động cách mạng trong đời sống xã hội.
Ba là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý kịp thời, kiên quyết,
nghiêm minh các cơ quan báo chí và nhà báo có sai phạm. Đối với trường hợp vi
phạm kéo dài, lặp đi lặp lại phải đình chỉ hoạt động để kiện toàn, củng cố.
Bốn là, đánh giá tình hình hoạt động của các cơ quan báo chí thường để
xảy ra sai phạm, các cơ quan báo chí có xu hướng thoát ly sự quản lý của các cơ
quan chủ quản và cơ quan chỉ đạo, quản lý nhà nước về báo chí, không để tư
nhân "núp bóng" để chi phối nội dung báo chí; đánh giá về hiệu quả của hoạt
động hợp tác báo chí với nước ngoài trong việc thực hiện dự án đào tạo lại và
nâng cao nghiệp vụ báo chí cho phóng viên, biên tập viên và cán bộ quản lý báo
chí Việt Nam.
13
Năm là, đề nghị Đảng và Nhà nước cho phép nghiên cứu thử nghiệm xây
dựng một vài mô hình tập đoàn báo chí để rút kinh nghiệm chỉ đạo.
Sáu là, tiếp tục thực hiện việc đăng phát công khai các sai phạm của cơ
quan báo chí và hình thức xử lý sai phạm của cơ quan quản lý nhà nước về báo
chí trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Bảy là, phối hợp chặt chẽ với Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên giáo
Trung ương tiến hành xây dựng quy chế bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ
luật cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí; tạo lập được đội ngũ lãnh đạo các cơ quan
báo chí vừa có đức vừa có tài, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của
Đảng, với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
chủ yếu là định hướng, cung cấp thông tin, phát huy năng lực sáng tạo của báo
chí. Ví dụ: nếu danh mục các bí mật nhà nước được cụ thể hóa từ sớm, và sát với
thực tế, đồng thời các quy định pháp luật về quyền được thông tin, được khai
thác thông tin, được nhận thông tin của báo chí thật rõ ràng sẽ tránh được
nhiều trường hợp phải xử lý các tình huống báo chí thông tin không có lợi.
Hiện nay Luật Báo chí và các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt
động báo chí, dù đã sửa đổi, bổ sung đáng kể, vẫn còn mang tính chung chung
của luật khung, nhất là các điều khoản quy định các việc báo chí không được
làm. Với tình hình hiện nay, rất khó thông qua luật để điều chỉnh có hiệu quả các
hoạt động của báo chí. Ví dụ: việc thông tin không chính xác về chứng khoán có
thể gây các tác hại lớn cho bộ phận này, lợi lớn cho bộ phận khác. Nhưng nếu áp
dụng các chế tài của quy định pháp luật về báo chí đối với việc thông tin không
chính xác thì chỉ là cải chính và có thể phạt tiền ở mức nào đó. Như vậy mất cân
đối giữa khả năng vi phạm và mức độ răn đe. Có nhiều trường hợp không có quy
định luật pháp nào để xử lý, kể cả quy định dưới luật. Ví dụ: việc phát triển ào ạt
các dịch vụ gia tăng trên báo chí hiện nay (nhắn tin, dự đoán, dịch vụ văn hóa,
giải trí ) làm nảy sinh nhiều lệch lạc, nhưng không dễ xử lý vì không có những
quy định tương ứng để áp dụng. Cần cố gắng sao cho các quy định pháp luật có
thể bao trùm đa số các dạng sai phạm của hoạt động báo chí. Trước mắt cần dồn
sức để hoàn chỉnh Luật Báo chí và các luật liên quan đến báo chí, chuyển từ
dạng luật khung sang luật chi tiết. Khi có những hiện tượng mới của báo chí thì
cần có các quy định dưới luật thật sát và kịp thời.
Báo chí ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, song song với
các quy định pháp luật cần xây dựng và hoàn chỉnh các quy chế lãnh đạo của các
tổ chức đảng đối với hoạt động báo chí, chi tiết hóa các quy định và kỷ luật trong
Đảng đối với các sai lầm, khuyết điểm của đảng viên làm công việc báo chí.
- Tăng cường thực lực của toàn bộ nền báo chí nói chung, đặc biệt là
thực lực của các đơn vị báo chí đầu đàn, để truyền thông nhà nước nhất định đáp
ứng đầy đủ nhu cầu thông tin, nhất định chi phối được dư luận.
Có những quy luật rất khách quan. Trong thông tin không thể có khoảng
giả, mất công chúng. Nguy cơ này lớn hơn nhiều so với nguy cơ lệch hướng vì
quá coi trọng lợi ích kinh tế.
- Hệ thống báo chí truyền thông phải sử dụng để chi phối, chi phối để sử
dụng các năng lực hoạt động truyền thông ngoài khu vực nhà nước.
Như trên đã nói, hiện nay năng lực hoạt động báo chí - truyền thông
trong xã hội đã và đang tích lũy ngày càng nhiều, đòi hỏi "đầu ra". Rất cần giải
tỏa năng lực đó thông qua việc các đơn vị truyền thông nhà nước sử dụng các
năng lực bên ngoài phục vụ cho công việc của mình. Có thể có những quan hệ
hợp tác, đặt hàng trong khâu thực hiện sản phẩm. Hiện nay, mục đích chủ yếu
của các đơn vị ngoài quốc doanh trong lĩnh vực truyền thông là lợi nhuận.
Nhưng trong hoạt động cụ thể họ vẫn có thể gây sức ép để nội dung sản phẩm
mà họ hợp tác với đơn vị nhà nước để làm sẽ phù hợp với nhu cầu lợi nhuận của
họ. Do đó cần phải có sự chọn lọc, phải có tính nguyên tắc cao khi hợp tác. Điều
này phụ thuộc vào người lãnh đạo đơn vị báo chí nhà nước.
Với các dạng truyền thông trên mạng, thái độ duy nhất đúng là can dự
vào để định hướng, lãnh đạo, nhưng không được mất chủ động trong quan hệ
hợp tác.
16
KẾT LUẬN
Trong điều kiện thực hiện cơ chế kinh tế nhiều thành phần, nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thời kỳ mở cửa hội nhập thì sự lãnh đạo
của Đảng đối với hoạt động báo chí lại càng cấp thiết hơn bao giờ hết. Vì, lãnh
đạo báo chí vừa đảm bảo cho sự thống nhất về tư tưởng, yêu cầu tập trung cổ vũ,
động viên, tổ chức quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị của
Đảng lại vừa đảm bảo tự do tư tưởng, sáng tạo và nhạy bén của báo chí; tránh
được sự can thiệp trực tiếp vào hoạt động báo chí, sự quy chụp đối với người làm
báo; sự hạn chế thông tin nhiều chiều và năng động khi phân tích đánh giá các sự
kiện của người làm báo. Sự lãnh đạo của Đảng còn giúp cho báo chí nước ta
không bị động trước sự tấn công của báo chí tư sản và các thế lực thù địch. Hay
nói cách khác, sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động báo chí là vấn đề cốt lõi