Một số biện pháp nhằm nâng bậc học sinh yếu toán ở
lớp 5
PHẦN THỨ NHẤT- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Lí do chọn đề tài:
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, đất nước ta cũng đang tích cực hội nhập
sâu rộng với thế giới, để có thể hội nhập thành công với toàn thế giới thì quan trọng
nhất vẫn là phát triển nền giáo dục Việt Nam một cách vững mạnh, toàn diện. Vì
vậy, trong tất cả các chính sách phát triển của đất nước, Đảng và nhà nước ta luôn
dành sự quan tâm cho thế hệ trẻ, đặc biệt là tầng lớp trẻ em - “Trẻ em hôm nay, thế
giới ngày mai”-đó là câu khẩu hiệu mà mỗi thầy cô giáo đều phải thấm nhuần trong
quá trình giáo dục học sinh một cách toàn diện ở tất cả các mặt : đức, trí, lao, thể,
mĩ. Riêng về mặt học tập, đặc biệt là môn Toán thì càng cần phải quan tâm, chú
trọng nhiều. Môn toán ở tiểu học bước đầu hình thành khả năng trừu tượng hóa,
khái quát hóa, kích thích trí tưởng tượng của học sinh. Môn toán là chìa khóa mở
cửa cho tất cả các ngành khoa học khác, nó là công cụ cần thiết cho người lao động
thời hiện đại, nó góp phần giáo dục con người phát triển toàn diện hơn. Môn toán
có vai trò rất quan trọng. Toán học góp phần hình thành phát triển nhân cách của
học sinh.Cung cấp tri thức ban đầu về số học, các số tự nhiên các phân số, các đại
lượng cơ bản , một số yếu tố hình học đơn giản , ứng dụng vào đời sống hằng ngày.
Nếu học sinh yếu toán cũng là đồng nghĩa với việc các em phát triển chưa trọn vẹn
nó ảnh hưởng đến tương lai của chính bản thân các em và cả xã hội. Ngay từ cấp
tiểu học chúng ta cần tạo nền tảng vững chắc cho các em, bằng cách là không để
cho học sinh yếu toán, đây là vấn đề mà mỗi giáo viên chúng ta cần phải quan tâm.
1
Trong quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh hiện nay, một thực trạng
không hiếm đó là trong quá trình học tập trên lớp, nhất là môn toán có một bộ phận
học sinh tiếp thu bài còn chậm, thiếu tự tin dẫn đến lười học, không hoàn thành yêu
cầu bài học, một bộ phận học sinh khác tiếp thu bài chậm, có nhiều “lỗ hổng” kiến
thức, kỹ năng và phương pháp học tập Toán chưa tốt. Làm sao để các em hiểu bài,
theo kịp các bạn và có niềm tin trong học tập? Đặc biệt là lớp 5, lớp cuối cấp,
chuẩn bị cho các em bước vào học bậc trung học cơ sở. Làm sao để các em nắm
tiêu đó là:
- Giúp học sinh yếu củng cố kiến thức cơ bản, bổ trợ những kiến thức HS bị hổng
từ các lớp dưới.
- Giúp HS có thói quen độc lập suy nghĩ, tự giác trong học tập, có tinh thần trách
nhiệm, có ý thức tổ chức kỷ luật.
- Giáo viên phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết phụ đạo HS yếu.
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hạn chế học sinh lưu ban. Thực hiện
tốt “Nói không với HS ngồi nhầm lớp”
Đó cũng chính là đạt được mục tiêu dạy học môn Toán ở lớp 5, để học sinh nắm
vững kiến thức cũ và tiếp thu tốt kiến thức mới, giúp các em hứng thú trong học tập
và cũng là để đạt được mục tiêu giáo dục của ngành, đáp ứng nguyện vọng của giáo
viên, phụ huynh và học sinh.
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .
1- Thực trạng
1.1 Cơ sở lí luận: Hiện nay vẫn còn một bộ phận học sinh yếu toán bởi những lí
do đó là:
1.1.1- Từ học sinh: Sự yếu Toán ở học sinh được biểu hiện bằng nhiều hình,
nhiều vẻ nhưng nhìn chung các em yếu Toán thường có các đặc điểm sau đây:
- Các em có nhiều “lỗ hổng” kiến thức, kỹ năng trong học Toán.
- Các em tiếp thu bài còn chậm.
- Phương pháp học tập Toán của các em chưa tốt.
3
- Chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập.
- Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học tập
do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin.
- Học sinh lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, trình độ tư duy, vốn kiến
thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế.
- Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền.
- Học sinh đi học thất thường, có em nghỉ học trong một tuần 2 – 3 buổi.
- Ở nhà các em chưa tự giác ôn bài, làm bài, chưa lập được thời gian biểu hằng
học tập cho thấy nhận thức và thái độ của phụ huynh trong việc hợp tác với nhà
trường là chưa cao.
- Qua đó cho thấy một bộ phận phụ huynh chưa thật sự quan tâm, chăm lo và đôn
đốc con em mình học tập, còn phó thác cho nhà trường, cho thầy cô.
- Một bộ phận phụ huynh thường xuyên đi là ăn xa, phó mặc con cho ông bà già ở
nhà nên thiếu đi sự đôn đốc từ phía phụ huynh.
Người thầy giáo cần xác định rõ các thực trạng này để tổ chức cho học sinh hoạt
động học tập một cách hiệu quả đó là tìm ra các biện pháp tiến hành phụ đạo nâng
bậc học sinh yếu Toán.
1.2: Thực trạng tại lớp tôi phụ trách, giảng dạy
Trong những năm qua tôi đã theo dõi học sinh lớp tôi chủ nhiệm cũng như học
sinh của toàn khối khi học môn Toán tôi thấy các em có một thói quen không tốt
cho lắm:
- Phần đa học sinh đọc các đề bài toán qua loa sau đó làm bài ngay, làm xong
không cần kiểm tra lại kết quả, cho nên khi trả bài các em mới biết là mình sai hoặc
các em bị hỏng kiến thức cũ, ví dụ như các em không thuộc bảng nhân, chia; hay
không nhớ cách cộng, trừ, nhân chia phân số ; Khả năng tính nhẩm kém chưa
thuần thục dẫn đến tính toán chậm, thiếu chính xác khi thực hiện các phép tính với
5
số có nhiều chữ số hay phân số, số thập phân. Chưa có kỹ năng làm bài tập dạng
trắc nghiệm, lười tính và thường chọn kết quả theo cảm tính hoặc xem bài của bạn.
Mặt khác, các em chưa biết cách suy luận khi giải toán. Các em rất sợ các bài tập
về giải toán vì ảnh hưởng bởi khả năng đọc hiểu và không biết tính hoặc tính thiếu
chính xác.
*Tóm lại sự yếu kém môn toán lớp tôi phụ trách cũng có những biểu hiện
chung như phần lí luận đã nêu và nổi lên 5 đặc điểm đó là:
+ Nhiều "lỗ hổng" kiến thức, kĩ năng
, các kiến thức lớp 3,4 bị quên nhiều, đặc
biệt sau 2 tháng hè vào đầu năm học lớp 5, các em học sinh loại này hầu như không
-Tôi luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, không đánh
mắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học sinh cảm thấy sợ
giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình.
Bên cạnh đó, tôi phải là người đem lại cho các em những phản hồi tích cực. Ví
dụ như tôi nên thay chê bai bằng khen ngợi và tìm những việc làm mà em hoàn
thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em.
* Phân loại các đối tượng học sinh:
-Tôi phải xem xét, phân loại những học sinh yếu đúng với những đặc điểm
vốn có của các em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và
riêng của từng em. Một số khả năng thường hay gặp ở các em là: Sức khoẻ kém,
khả năng tiếp thu bài, lười học, thiếu tự tin, nhút nhát…
-Trong thực tế người ta nhận thấy có bao nhiêu cá thể thì sẽ có chừng ấy
phong cách nhận thức. Vì vậy hiểu biết về phong cách nhận thức là để hiểu sự đa
dạng của các chức năng trí tuệ giúp cho việc tổ chức các hoạt động sư phạm thông
qua đặc trưng này.
-Trong quá trình thiết kế bài học, tôi cần cân nhắc các mục tiêu đề ra nhằm
tạo điều kiện cho các em học sinh yếu được củng cố và luyện tập phù hợp.
-Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động, dành
cho đối tượng này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều kiện cho
các em được tham gia trình bày trước lớp, từng bước giúp các em tìm được vị trí
đích thực của mình trong tập thể. Yêu cầu luyện tập của một tiết là 4 bài tập, các
em này có thể hoàn thành 1, 2 hoặc 3 bài tuỳ theo khả năng của các em.
-Ngoài ra, tôi có thể tổ chức phụ đạo cho những học sinh yếu khi các biện
pháp giúp đỡ trên lớp chưa mang lại hiệu quả cao. Tôi đã tổ chức phụ đạo các em
trong những tiết luyện của buổi hai. Tuy nhiên, việc tổ chức phụ đạo phải kết hợp
7
với hình thức vui chơi nhằm lôi cuốn các em đến lớp đều đặn và tránh sự quá tải,
nặng nề.
*Giáo dục ý thức học tập cho học sinh:
-Tôi cần phải giáo dục ý thức học tập của các em tạo cho các em sự hứng thú
đồng nghiệp về việc sử dụng, kết hợp các phương pháp dạy học để giúp các em tiến
bộ hơn. Ngoài ra, chủ nhật hàng tuần cần tới nhà học, trao đổi với phụ huynh, quan
sát góc học tập, xem thời gian biểu của các em và góp ý bổ sung. Từ đó, nhờ phụ
huynh kèm thêm ở nhà, theo dõi, kiểm tra ở lớp, nhờ đó mà các em tiến bộ rõ rệt
nhất là phần nhân, chia số có nhiều chữ số, cộng, trừ, nhân, chia phân số.
Ví dụ: Khi các em không nhớ được cách làm, khi đó chúng ta cần nhẹ nhàng
hướng dẫn kĩ cho các em từng bước, từ cách ước lượng để chia, nguyên tắc cộng,
trừ, nhân, chia phân số
Chẳng hạn: cộng hai phân số:
4
3
3
2
+
- có em làm:
7
5
43
32
4
3
3
2
=
+
+
=+
, có em khác làm:
9
8
nắm được bài, giáo viên ra bài tập cho các em từ dễ dến vừa sức,
Chẳng hạn: -Tính diện tích hình tam giác biết:
a) Độ dài đáy là 5 cm và chiều cao là 6cm
b) Độ dài đáy là 42,5cm và chiều cao là 5,2cm.
c) Độ dài đáy là 30,5dm và chiều cao là 1,2m.
Ở câu c, phải hướng dẫn học sinh rút ra được: cần phải đổi cho độ dài đáy và
chiều cao có cùng một đơn vị đo rồi mới tính diện tích được.
Như vậy, qua áp dung sáng kiến trên chúng ta đã tổ chức cho các em chủ động
chiếm lĩnh kiến thức và sau đó chúng ta giao việc cho các em từ dễ dến vừa sức.
2.2.3. Khơi dậy tính tò mò và năng lực của từng học sinh qua các hoạt động học
tập nhằm khám phá để có được những hiểu biết theo bài học:
- Trong quá trình giảng dạy, ta cần có các đồ dùng trực quan đẹp, phù hợp với nội
dung bài để học sinh hứng tú học tập, cần liên hệ thực tế và mở rộng kiến thức để
các em áp dụng vào cuộc sống hằng ngày.
Ví dụ: Khi dạy về hỗn số, cần có mảnh bìa hình tròn, hình vuông hoặc quả cam
để chia các phần bằng nhau. Khi dạy về đơn vị đo khối lượng cần có cân, các bài
toán có lời văn nên có hình ảnh minh họa…
2.2.4. Coi học sinh là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học:
- Trong quá trình dạy học, người giáo viên tổ chức, hướng dẫn và là trọng tài
khoa học. Mọi học sinh đều được hoạt động và phát triển.
10
- Giáo viên cần tránh nói nhiều và làm thay cho học sinh.
- Cần tổ chức cùng làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Ví dụ: Khi dạy về Diện tích xung quang và diện tích toàn phân của hình lập
phương thì giáo viên không nên áp đặt học sinh mà cần đưa mô hình trực quan,
giáo viên tổ chức cho học sinh quan sát nhận xét rút ra kết luận : hình lập phương là
hình hộp chữ nhật đặc biệt (có 3 kích thước bằng nhau). Học sinh tự rút ra kết luận
về công thức tính diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình lập phương
sau đó áp dụng công thức để làm bài tập.
2.2.5. Kết hợp với cha mẹ học sinh, tổ chức học ở nhà cho học sinh.
Học sinh trả lời theo hiểu biết của các em. Sau đó giáo viên nói cho học sinh rõ:
Phần nguyên cũng như số nguyên trước đây đã học: các chữ số được sắp xếp từ
phải sang trái, kể từ dấu phẩy là các chữ số hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm,
hàng nghìn… Phần thập phân: kế từ dấu phẩy, các chữ số được sắp xếp từ trái sang
phải là các chữ số hàng phần mười, hàng phần trăm, hàng phần nghìn…
Ví dụ: Có số thập phân 123,456 thì:
- Phần nguyên gồm có: 1 trăm 2 chục 3 đơn vị.
- Phần thập phân gồm có: 4 phần mười, 5 phần trăm, 6 phần nghìn.
- Đọc là: Một trăm hai mươi ba phẩy bốn trăm linh sáu.
Cho học sinh đọc số thập phân, nêu phần nguyên, phầm thập phân và giá trị vị trí
của mỗi chữ số ở từng hàng, rồi sau đó cho các em viết số thập phân.
- Khi cô giáo đọc: Một trăm hai mươi ba đơn vị, các em viết 123. Sau số này các
em đánh dấu phẩy. Khi cô đọc tiếp 4 phần mười, các em viết số 4; 5 phần trăm các
em viết số 5; 6 phần nghìn các em viết số 6. - Cuối cùng, ta được số thập phân
123,456.
12
- Sau đó cho học sinh nhắc lại cách đọc, viết số thập phân.
2.2.9. Tổ chức cho học sinh ôn tập, củng cố kiến thức từng chương qua các trò
chơi:
Hình thức ôn tập này, giúp các em ôn tập, củng cố kiến thức một cách nhẹ nhàng,
hứng thú và hiệu quả. Thời gian qua, trong khối lớp 5 đã tổ chức cho các em học
Toán “ Vui – học, Học – vui” qua các trò chơi sau: Trò chơi “ Hái hoa dân chủ”,
Trò chơi “ Chọn số”, Trò chơi “Xem ai nhớ nhất”, Trò chơi “ Mặt xanh mặt đỏ”,
Trò chơi “ Ai nhanh, ai đúng”… Học Toán qua các trò chơi, học sinh tham gia sôi
nổi, hào hứng và có sự tiến bộ rõ rệt. Ví dụ: Trò chơi “ Hái hoa dân chủ” dùng để
ôn tập cho học sinh sau mỗi chương học. Hình thức ôn tập này, câu hỏi và bài tập là
những kiến thức các em đã học, học sinh lần lượt lên hái hoa (có ghi nội dung câu
hỏi hoặc bài tập) học sinh trả lời đúng nội dung câu hỏi, cả lớp và thầy cô vỗ tay
khen ngợi. Hình thức ôn tập này giúp các em ôn tập, củng cố kiến thức một cách
nhẹ nhàng, hứng thú và hiệu quả. Thời gian qua, khối 5 đã tổ chức được 6 buổi ôn.
lâu” do đó, dạy đến đâu cần cho trẻ nắm chắc đến đấy nhằm giúp các em đạt được
kết quả học Toán theo mong muốn. Nói tóm lại “Phụ đạo, nâng bậc học sinh yếu
Toán ở lớp 5”đã góp phần không nhỏ vào kết quả học tập của học sinh. Sau khi áp
dụng sáng kiến kinh nghiệm vào dạy học kết quả học tập của học sinh chuyển biến
rõ rệt, cụ thể như sau :
* Tình hình phát biểu xây dựng bài:
- Khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: chỉ đạt 30%
- Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: đạt 90%
* Thái độ mạnh dạn, nhanh nhẹn, trong học Toán:
- Khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: chỉ đạt 20%
- Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: đạt 80%
* Chủ động tìm tòi học hỏi, hiểu kĩ và nhớ lâu hơn:
- Khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: chỉ đạt 30%
- Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: đạt 90%
14
Như vậy, qua kết quả trên cho thấy thái độ nhút nhát , thụ động, giảm dần thay
vào đó là thái độ mạnh dạn, hăng say phát biểu chủ động chiếm lĩnh kiến thức tăng
lên. Do đó kết quả học tập nâng cao rõ rệt. Kết quả trên góp phần hình thành con
người toàn diện giúp học sinh vận dụng kết quả vào thực tiễn và là nền tảng vững
chắc trên con đường học tập của các em.
Số liệu tổng hợp qua các kỳ kiểm tra, khảo sát của lớp năm học 2013-2014 như
sau:
Học lực
Thời gian
GIỎI KHÁ TB YẾU
TS % TS % TS % TS %
Đầu năm 4 12,5 10 31,3 13 40,6 5 15,6
Cuối học kì I 6 18,8 12 37,5 12 37,5 2 6,2
Cuối tháng 4 8 25,0 12 37,5 12 37,5 0 0
2. Kết luận:
trường . Vì vậy khi phụ đạo học sinh giáo viên cần kiên trì, nhẫn nại ,không nôn
nóng,theo tôi nghĩ chất lượng của học sinh là do người giáo viên quyết định
- Theo tôi khả năng áp dụng triển khai của sáng kiến này với toàn bộ học sinh lớp
5 sẽ có hiệu quả và chất lượng rất cao ,các em sẽ không còn lúng túng hay e ngại
khi giải toán ,các em sẽ yêu môn toán hơn
3. Đề xuất- Kiến nghị
- Qua quá trình thực hiện và giảng dạy nhiều năm tôi thấy có những khó khăn
cần đề xuất, kiến nghị như sau:
- Cần quan tâm tổ chức dạy phụ đạo cho học sinh yếu kém vì chất lượng của
học sinh do người thầy quyết định, nếu thầy cô không quan tâm đến học sinh thì
chất lượng giáo dục sẽ không có hiệu quả .Vậy đây là một vấn đề hết sức quan
trọng
- PGD,BGH nhà trường và giáo viên đứng lớp cần kiên quyết thực hiện đúng
16
nội dung cuộc vận động Hai không với 4 nội dung của BGD&ĐT, tránh để học
sinh ngồi nhầm lớp chỉ vì thành tích.
- Tạo điều kiện về không gian và thời gian cho giáo viên phụ đạo học sinh yếu
kém
* Sau một năm nghiên cứu và ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm vào thực tế cụ thể
là lớp 5A, bản thân tôi thấy các em đã có những tiến bộ vượt bậc .Tỷ lệ học sinh
yếu không còn, tỷ lệ học sinh khá giỏi cũng được nâng lên .Tuy nhiên, kinh nghiệm
bản thân còn có những hạn chế, vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót, Rất mong
các bạn đồng nghiệp và hội đồng khoa học các cấp góp ý để đề tài hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Người thực hiện
Phạm Thị Mai
MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Lí do chọn đề tài: …………………… …. Trang 1
2. Mục đích của đề tài:… Trang 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
NHẰM NÂNG BẬC HỌC SINH YẾU
MÔN TOÁN LỚP 5
***
Người thực hiện: Phạm Thị Mai
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác:Trường Tiểu học Quảng Lưu
SKKN môn : Toán- Lớp 5
\
THANH HÓA NĂM 2015