CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do -Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I- SƠ YẾU LÍ LỊCH
- Họ và tên: Nguyễn Thị Quỳnh
- Ngày tháng năm sinh: 25/11/1964
- Năm vào ngành: 1987
- Chức vụ: Phó hiệu trưởng- Trường Tiểu học Đỗ Động
- Công tác khác:
- Trình độ chuyên môn: Đại học
- Hệ đào tạo: Tiểu học
- Nhiệm vụ được giao: Phụ trách chuyên môn
- Trình độ chính trị: Trung cấp
- Khen thưởng: Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở
II- NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
1. Tên đề tài:
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Một số biện pháp nhằm nầng cao chất lượng môn Toán lớp 4 - trường
Tiểu học Đỗ Động - Thanh Oai- Hà Nội hiện nay.
2. Lý do chọn đề tài:
a. Cơ sở khoa học:
-Trong chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học ( Ban hành kèm
theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ: “ Môn Toán ở Tiểu học nhằm giúp
học sinh: Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân
số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê
đơn giản. Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có
nhiều ứng dụng thiết thực trong cuộc sống. Bước đầu phát triển năng lực tư
duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt đúng( nói và viết) cách phát hiện và
cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí
hình thức dạy học Toán nhằm nâng cao chất lượng môn Toán lớp 4 cho học
sinh.
b. Cơ sở thực tiễn:
-Xuất phát từ thực trạng trong việc dạy học toán đối với học sinh Tiểu học,
các em còn gặp rất nhiều khó khăn khi học toán. Do khả năng nhận thức của các
em còn non kém, vốn hiểu biết ít ỏi, trình độ nhận thức lại không đồng đều. Khi
làm toán này các em phải đọc nhiều lần đề bài, hiểu đề bài yêu cầu gì cho biết
những gì ; Khi làm bài phải trả lời đúng câu hỏi viết đúng phép tính, ghi đúng
đơn vị. Sự quan tâm đến học tập của cha mẹ học sinh đối với các em đôi khi rất
hạn chế. Mặt khác một số bài toán có lời văn chưa phù hợp với đời sống của các
em.
- Từ thực tế giáo dục trong giai đoạn hiện nay đang yêu cầu thực hiện tốt
cuộc vận động : "hai không với bốn nội dung "của Bộ trưởng bộ Giáo dục -đào
tạo . đẩy mạnh phong trào :học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh"được lồng ghép trong nhiệm vụ trọng tâm của năm học: "Đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin và tiếp tục phong trào xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực”.
- Từ mục tiêu nhiệm vụ của trường tiểu học Đỗ Động: Giáo dục các em
phát triển toàn diện, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng văn hoá.
Nâng cao đội ngũ học sinh giải toán trên mạng trên tinh thần tự luyện ở tất cả
các khối lớp.
- Trường Tiểu học Đỗ Động năm trên địa bàn xã thuần nông và có nhiều
nghề phụ, dân trí không đồng đều nên nhiều em học sinh tiểu học đã sớm phải
lao động giúp bố mẹ ổn định kinh tế gia đình . Một số phụ huynh quan tâm tới
việc học tập của con mình chưa cao, nên không phát huy mạnh mẽ cho sự phát
triển trí tuệ, phương pháp học tập, tính độc lập, tự tin của các em.
- Xuất phát từ lứa tuổi học sinh tiểu học (lớp 4) còn mải chơi, hiếu động,
chưa có ý thức tự giác học tập, độc lập suy nghĩ làm việc khoa học, nhiều em
chưa ý thức được việc học của mình nên lười học toán, đặc biệt là giải toán các
em thường không đọc kỹ đề bài, chưa chịu đào sâu suy nghĩ, trình bày cẩu thả,
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các giờ dạy Toán lớp 4
-Tuyên truyền các phương pháp giáo dục học sinh tự học môn Toán lớp 4
- Nâng cao sự quan tâm của phụ huynh học sinh, tạo điều kiện tốt nhất về
ý thức học tập cho các em trước khi đến trường.
- Phát huy hiệu quả của việc chấm chữa, kiểm tra, đánh giá học sinh làm
Toán ở lớp 4.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài:
Tôi đã nghiên cứu và thực hiện đề tài này với giáo viên giảng dạy khối 4
và học sinh lớp 4A, Trường tiểu học Đỗ Động - Thanh Oai - Hà Nội.
4. Kế hoạch nghiên cứu:
-Trong thời gian: Từ tháng 8/2012 đến tháng 15/3/2013
T¸c gi¶:
NguyÔn ThÞ Quúnh
4
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
-Tháng 8/2012 mở chuyên đề với tổ chuyên môn 4+5 trường Tiểu học Đỗ
Động .
Từ tháng 9/2012 đến 15/3/2013 thực hiện các biện pháp trong các buổi
sinh hoạt chuyên môn tổ 4;5 và thực hành giảng dạy với học sinh lớp 4A, đội
tuyển học sinh giỏi Toán lớp 4 trường tiểu học Đỗ Động - Thanh Oai - Hà Nội.
III- QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
1.Tình trạng thực tế khi chưa thực hiện đề tài:
a. Đặc điểm, tình hình:
Năm học 2012 – 2013 trường Tiểu học Đỗ Động có 336 học sinh. Trong
đó khối 4 có 84 em/3 lớp như sau;
Thứ tự Lớp Số học sinh Nữ Ghi chú
1 4A 33 18
2 4B 27 8
3 4C 24 8
dẫn đến các sai sót trong khi giải.
- Học sinh khi gặp các phép tính hay bài toán giải có tâm lý chủ quan nên
làm nhanh, làm ẩu dẫn đến các sai sót.
Chính vì lẽ đó mà kết quả học tập môn toán của học sinh lớp 4 bị hạn
chế. Qua nghiên cứu kết hợp với điều tra khảo sát thực trạng việc làm toán ở
khối 4 rất thấp. Cụ thể lớp 4A ngày 13/9/2012 tôi đã khảo sát về các phép tính
cộng, trừ, nhân, chia đã học như sau:
Số HS
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
TS % TS % TS % TS %
33 3 9,0% 7 21,2% 20 60,8% 3 9,0%
Ngày 11/10/2012 tôi tiếp tục khảo sát về giải toán có lời văn như sau
Đề bài: Người ta dự định chuyển 15 700kg muối lên vùng cao bằng 5 xe
tải chở đều nhau, đợt đầu có 2 xe đã lên đường. Hỏi đợt đầu chở được bao
nhiêu ki-lô-gam muối?
( Đáp số: 6280 kg muối)
Các em làm đạt kết quả như sau:
Số HS
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
TS % TS % TS % TS %
33 2 6,0% 8 24,2% 17 51,6% 6 18,2%
* Về phía phụ huynh:
- Một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc học tập ở nhà của con em
mình nên các em không làm bài tập về nhà hoặc làm chống đối mà phụ huynh
không biết.Từ những nguyên nhân trên dẫn đến học sinh lớp 4 gặp các bài toán
đơn giản mà các em làm còn nhiều sai sót. Giáo viên giảng dạy tốt mà học sinh
chưa chăm học thì cũng không có hiệu quả, học sinh có ham học mà phụ huynh
chưa ủng hộ, quan tâm thì kết quả mang lại không như ý muốn. Vậy sự thành
công trong học tập của học sinh ở môn Toán lớp 4 đòi hỏi sự kết hợp hài hòa
giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
+Với đối tượng học sinh khá giỏi làm bài sau:
Tìm số trung bình cộng của các số sau: 20; 35; 37; 65 và 73
+Với đối tượng học sinh học lực trung bình yếu làm bài sau:
Tìm số trung bình cộng của các số sau: 36; 42 và 57
Tôi đến từng nhóm kiểm tra, giải đáp thắc mắc, sửa cho các em những lỗi
sai, chưa hiểu để các em nhận ra và điều chỉnh.
Cứ như vậy, sau một tháng thực hiện tôi nhận thấy các em hứng thú hơn khi
học toán và bài làm đã đạt kết quả tốt hơn. Bài làm của các em trình bày đã gọn
gàng, sạch đẹp hơn trước rất nhiều như em: Nguyễn Linh Chi, Nguyễn Thu
Duyên , Nguyễn Tiến Đạt, Nguyễn Thế Đức, Nguyễn Ngọc Hà.
T¸c gi¶:
NguyÔn ThÞ Quúnh
7
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Qua bài kiểm tra định kì giữa kì I lớp 4A đã đạt được kết quả như sau:
HS Giỏi Khá Trung bình Yếu
TS % TS % TS % TS %
33 5 15,1 10 30,3 17 51,6 1 3,0
- Đối với loại toán tính bằng cách hợp lý loại toán này đòi hỏi học sinh
phải có kiến thức tổng hợp chắc chắn, có khả năng suy luận lập luận lô gic và tư
duy cao. Do đó tôi hướng dẫn học sinh đọc kỹ đề, nhận xét tìm ra đặc điểm
chung của từng loại. Trên cơ sở đó tìm ra cách giải nhanh nhất.
*Như loại dãy số cách đều sau:
Ví dụ : Tính tổng:
a) 1 + 2 + 3 + ……… + 99 + 100
b) 1 + 5 + 9 +……… + 25 + 29
*Loại dãy số ngắn ít số hạng, khi tính toán cần lập luận,điền đủ các số hạng.
Ví dụ : 2 + 4 + 8 + 16+………….+ 128
*Loại đan dấu.
24
1308
654
7848
Thử lại : 7848 : 24 = 327 hoặc 7848 : 327 = 24
- Cứ như vậy tôi đã rèn kĩ năng làm tính cho các em một cách thành thạo
loại toán này. Sau khi thực hiện các biện pháp trên cùng với kinh nghiệm chỉ
đạo chuyên môn, tôi thấy chất lượng học sinh được nâng lên rõ rệt. Qua đợt
kiểm tra cuối kì I kết quả như sau:
HS Giỏi Khá Trung bình Yếu
TS % TS % TS % TS %
33 8 24,2 12 36,3 13 39,5 0 0
-Để học sinh tiểu học giải tốt các bài toán hợp và toán điển hình thì trước
hết các em phải giải thành thạo các bài toán đơn. Do đó việc học tốt toán đơn
chính là một công việc chuẩn bị có ý nghĩa cần thiết cho việc giải toán hợp.
Trong sáng kiến này tôi chỉ xin đề cập đến phương pháp giải toán đơn đối với
lớp 4 hiện nay. Các bài toán đơn được đề cập khi học sinh ôn tập các phép tính
trong phạm vi 100.000 ở đầu năm học hoặc khi các em vận dụng các quy tắc
tính về số có nhiều chữ số, các số đo đại lượng vừa học. Để giải đúng một bài
toán đơn mỗi giáo viên phải hướng dẫn học sinh thực hiện tuần tự và đầy đủ
theo 4 bước:
T¸c gi¶:
NguyÔn ThÞ Quúnh
9
x
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
- Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán: Học sinh phải đọc kỹ đề bài (dưới dạng
có lời văn, tóm tắt bằng chữ, tóm tắt bằng sơ đồ) để hiểu rõ bài toán cho biết gì,
hỏi gì. Khi đọc phải hiểu các thuật ngữ như: Năng xuất, sản lượng, học sinh
10
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
- Giáo viên cho học sinh đọc kỹ đề để tìm hiểu bài toán:
Bài toán cho biết gì? ( 240 bộ bàn ghế xếp đều vào 15 phòng học ).
Bài toán hỏi gì? ( mỗi phòng học xếp được bao nhiêu bộ bàn ghế).
Giáo viên hướng dẫn học sinh biết được dạng toán: Phép chia( chia cho
một số phần) để học sinh làm phép tính chia.
Giải
Mỗi phòng học có số bộ bàn ghế là:
240 : 15 = 16 (bộ)
Đáp số: 16 bộ bàn ghế.
- Ngoài ra, ở mỗi giờ học toán giáo viên cần tạo môi trường học tập thoải
mái giúp học sinh chủ động tham gia các hoạt động học tập, biết đặt câu hỏi cho
các thắc mắc của mình.
- Giáo viên cần phải hướng dẫn cặn kẽ , đầy đủ theo trình tự các bước của
một bài toán đơn, định hướng cho học sinh cách làm bài chi tiết.
- Về phía học sinh cần tạo cho các em thói quen cẩn thận khi tính toán,
trình bày lời giải.
- Giáo viên cần quan tâm đúng mức tới học sinh học chậm, học yếu để các
em cũng hoàn thành thành nhiệm vụ.
b) Dạy học toán tích hợp với các môn học khác:
- Ngoài giờ học toán còn có các giờ học khác như: kể chuyện, tập đọc,
đạo đức, lịch sử, địa lý, không chỉ cung cấp cho các em kiến thức của môn học
mà còn giúp học sinh vận dụng kiến thức toán học vào các môn học đó. Vì vậy
giáo viên phải linh hoạt sử dụng phương pháp dạy học mới để giúp các em học
tập tốt, có kỹ năng phân tích tổng hợp, tính toán, so sánh,
Ví dụ 1: Ở môn Lịch sử lớp 4 : Bài 1 : Nhà Lý thành lập.
Học sinh biết nước Đại Việt thời Lý ( Từ năm 1009 đến năm1226) giáo
viên có thể hỏi:
- Nhà Lý tồn tại bao nhiêu năm? ( 218 năm. 1226 – 1009 + 1 = 218 năm)
nhà trường, của cá nhân và kế hoạch kiểm tra. Thực hiện ứng dụng phần mềm
trong quản lý, thông tin báo cáo kịp thời, chính xác. Đẩy mạnh thi đua khen
thưởng, công khai ,dân chủ, đúng người, đúng việc.
Triển khai đồng bộ biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
tham gia đầy đủ các cuộc thi, tích cực chỉ đạo giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi,
phụ dạo học sinh yếu. Nhà trường đã quan tâm tới bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ cho giáo viên. Tập chung vào thực hiện các chuyên đề đổi mới
phương pháp dạy học ở các môn học. Sử dụng đồ dựng dạy học có hiệu quả
trong giảng dạy. Mở chuyên đề : “Ứng dụng cụng nghệ thông tin” cho giáo viên
T¸c gi¶:
NguyÔn ThÞ Quúnh
Địa điểm Nhiệt độ (
0
C)
Tháng 1 Tháng 7
SaPa 7 18
12
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
toàn trường. Giáo viên tích cực học tin học ứng dụng vào giảng dạy. Tôi đã
không ngừng thúc đẩy các biện pháp nhằm đổi mới phương pháp dạy học tới
toàn thể cán bộ, giáo viên và nhân viên trong trường. Ngay từ đầu năm học hàng
năm đồng chí hiệu trưởng, hiệu phó chuyên môn đã chủ động triển khai chuyên
đề đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Tôi đã trực tiếp giảng
dạy cho toàn thể giáo viên xây dựng, thiết kế bài giảng điện tử trên phần mềm
PowerPoint tại phòng máy của nhà trường. Chúng tôi hướng dẫn đến đâu, giáo
viên thực hành ngay trên máy đến đó. Chỉ trong một tuần tôi cho giáo viên lần
lượt đăng ký tiết dạy cho cả trường dự giờ, góp ý. Kết quả 100% giáo viên trong
độ tuổi đó tự thiết kế được bài giảng điện tử. Những đồng chí nào đó biết cơ bản
thì ban giám hiệu sẵn sàng giúp đỡ dạy nâng cao hơn. Sự gương mẫu, nhiệt tình
phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet của người
học; tạo điều kiện để người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội
dung học phù hợp; xóa bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách
địa lý đem lại.
- Hiện nay nhà trường đó trang bị phòng máy riêng cho giáo viên, nối
mạng Internet, Thiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim (Sound Recorder, Camera,
Camcorder), máy quét hình (Scanner), và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng
công nghệ thông tin cho giáo viên sử dụng vào quá trình dạy học của mình. Do
đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là
nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi
trường giáo dục bổ ích và lý thú. Học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện
để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện
của bản thân mình. Các em hứng thú, say mê hợc tập hơn và nhất là học Toán ở
lớp4.
- Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các
phương pháp và hình thức dạy học. Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh
của con người, thực hiện những công việc mang tính trí tuệ cao trên những lĩnh
vực khác nhau. Những thử nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh:
kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu
và bằng suy luận có lý, học sinh có thể có những dự đoán về những kiến thức
mới. Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong
quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Có thể khẳng định rằng, môi trường
T¸c gi¶:
NguyÔn ThÞ Quúnh
14
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
công nghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự
phát triển trí tuệ của học sinh .
Từ những suy nghĩ trên tôi cố gắng hướng cho giáo viên đưa các tiết học
Bài 4: Khoanh vào trước ý trả lời đúng:
a) Dãy số được xếp theo thứ tự từ bé đến lớn là:
A . 8316; 8136; 8361. B. 5724; 5742; 5740. C. 63841; 64813; 64831.
b) Một hình chữ nhật có nửa chu vi là 32 m, chiều rộng ngắn hơn chiều
dài 8 m. Diện tích hình chữ nhật đó là:
A. 240 m B. 240 m
2
C. 256 m
2
T¸c gi¶:
NguyÔn ThÞ Quúnh
PHÒNG GD-ĐT THANH OAI
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỖ ĐỘNG
BÀI KIỂM TRA GIỮA KÌ I
NĂM HỌC 2012-2013
MÔN TOÁN - LỚP 4
Thời gian làm bài: 40 phút
Họ và tên Lớp
Điểm GV chấm GK1: GK2:
15
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Bài 5: Có 6 lớp Bốn của một trường tiểu học, trong đó có 2 lớp mỗi lớp 35 học
sinh; có 4 lớp mỗi lớp 32 học sinh. Hỏi trung bình mỗi lớp Bốn của trường đó có
bao nhiêu học sinh?
Tóm tắt
d) 10 000 cm
2
= 1 m
2
Bài 3: Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng:
Số lớn nhất trong các số: 454545; 545454; 455454; 545445 là:
a) 454545 b) 545454 c) 455454 d) 545445
Bài 4: Đặt tính rồi tính:
a ) 253936 + 543324
b) 787260 - 452542
T¸c gi¶:
NguyÔn ThÞ Quúnh
PHÒNG GD-ĐT THANH OAI
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỖ ĐỘNG
BÀI KIỂM TRA CUỐI KÌ I
NĂM HỌC 2012-2013
MÔN TOÁN - LỚP 4
Thời gian làm bài: 40 phút
Họ và tên Lớp
Điểm GV chấm GK1: GK2:
16
D
C
Cạnh …………. Song song với cạnh …………
BBài 1: a) Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng:
T¸c gi¶:
NguyÔn ThÞ Quúnh
PHÒNG GD-ĐT THANH OAI
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỖ ĐỘNG
BÀI KIỂM TRA GIỮA KÌ II
NĂM HỌC 2012-2013
MÔN TOÁN - LỚP 4
Thời gian làm bài: 40 phút
Họ và tên Lớp
Điểm GV chấm GK1: GK2:
.
17
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Phân số
9
2
bằng: A .
18
5
B.
18
4
C .
18
2
……… 846 dm
2
d) 13dm
2
25cm
2
1400 cm
2
Bài 3: Tính: a)
5
2
5
3
+
= b)
=−
14
1
7
3
c)
=×
6
5
4
3
………………… d)
=2:
môn Toán lớp 4 có nhiều hình thức như:
*Hướng dẫn phương pháp học ở sách báo, trên mạng Internet:
T¸c gi¶:
NguyÔn ThÞ Quúnh
18
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Ngoài việc làm bài tập trong sách, tôi thường động viên các em làm thêm
các bài toán nâng cao trong sách tham khảo như:
- Phương pháp giải toán ở Tiểu học.
- Toán nâng cao lớp 4
- Phát triển và nâng cao lớp 4
- Các bài toán điển hình lớp 4, 5.
- Toán học tuổi thơ.
- Đặc biệt, tôi đã rất quan tâm tới việc giải toán qua mạng Internet
cho học sinh. Đây là một sân chơi vô cùng bổ ích và lí thú đối với những em say
mê học Toán. Trước đây trường tôi không có học sinh tham gia giải toán qua
mạng. vì một phần các em không được trang bị máy tính nhiều song việc hướng
dẫn các em tự học chưa được sâu rộng. Năm học 2012-2013 tôi đã động viên
các em cực tham gia. Ngay từ đầu năm học tôi phổ biến hình thức học, hướng
dẫn giáo viên lập nic, tìm hiểu cách làm. Trong giờ chào cờ hàng tuần tôi đôn
đốc, nhắc nhở, khuyến khích học sinh tích cực giải toán qua mạng. Chính vì thế
mà toàn trường có tới hơn 200 em/336 em tham gia. Trong đợt thi cấp huyện đã
có 6/10/em đạt cấp huyện.
*Hướng dẫn các em cách tự học: Đối với mỗi bài toán các em suy nghĩ
tự giải, thử lại kết quả rồi so sánh kết quả trong phần hướng dẫn đối chiếu cách
giải.Từ đó các em đã tự phát hiện ra phương pháp học tập tự tìm ra cách giải
hay. Đặc biệt đã gâyđược niềm say mê tìm tòi, hứng thú giải toán của các em.
Đối với các bài toán khó chưa tự giải được, các em có thể tham khảo phần bài
giải rồi suy luận tìm phương pháp giải của mình, hoặc có thể tham khảo ý kiến
thầy cô giáo còn giúp học sinh nâng cao kết quả học tập môn toán. Tôi đã tiến
hành thực tế biện pháp này rất hiệu quả với các em lớp 4A trường tôi, cụ thể là
các em: Hồ Thu Hồng, Phạm Thị Thu Hiền, Nguyễn Xuân Hiếu, Nguyễn Duy
Khánh, Chu Ngọc Huyền, Nguyễn Thị Ly. Ở cả ba thôn: Cự Thần, Động Giã,
Văn Quán.
- Cùng với việc giữ thông suốt thông tin hai chiều giữa gia đình và nhà
trường tôi tiến hành hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà. Khi đã được nghe
giảng trên lớp thì việc áp dụng kiến thức đã học vào làm bài tập là rất cần thiết
đối với học sinh. Nhưng việc chuẩn bị cho bài mới là rất quan trọng nên tôi yêu
cầu học sinh phải có thời gian biểu. Nếu các em không biết sắp xếp lịch học và
không biết tự học thì sẽ không khắc sâu đợc kiến thức đã học trên lớp áp dụng
vào thực tế . Để trở thành học sinh giỏi và nâng cao chất lượng học môn toán ,
các em cần có thời gian học lý thuyết và vận dụng làm bài tập thực hành ôn
luyện vì vậy nếu các em có thời gian xem trước bài ở nhà hoặc đọc lướt nắm yêu
cầu trọng tâm thì khi nghe giáo viên hướng dẫn các em sẽ nắm bắt kiến thức rất
nhanh và chắc chắn. Chính vì vây ,việc hướng dẫn học sinh học chuẩn bị bài
như thế nào cho khoa học để mang lại kết quả cao là rất cần thiết. Tôi đã tiến
hành giúp các em sắp xếp thời gian biểu cho phù hợp với bản thân các em. Đa số
các em soạn sách vở và đồ dùng học tập vào buổi tối. Đọc trước bài mới vào
buổi sáng lúc 6 giờ. Một số em xem bài mới lúc truy bài ( Trước giờ vào học 15
phút)
-Việc sử dụng sổ liên lạc là một biện pháp rất tích cực trong việc giữ mối
T¸c gi¶:
NguyÔn ThÞ Quúnh
20
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
liên hệ giữa giáo viên với gia đình học sinh. Trong mỗi đợt kiểm tra hồ sơ và các
loại sổ theo quy định của giáo viên, tôi yêu cầu giáo viên chủ nhiệm cho kiểm
tra sổ liên lạc của từng học sinh. Giáo viên chủ nhiệm nào quan tâm tới việc rèn
BD = n (hình a)
T¸c gi¶:
NguyÔn ThÞ Quúnh
21
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
- Để tìm công thức tính diện tích hình thoi theo độ dài 2 đường chéo, học
sinh có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau:
* Cách 1: Cắt hình tam giác AOD và hình tam giác COD rồi ghép với
hình tam giác ABC để được hình chữ nhật AMNC (hình b).
Ta có: Diện tích( hình thoi ABCD) = diện tích ( hình chữ nhật AMNC ) =
m
×
2
n
=
2
nm×
.
* Cách 2: Cắt hình tam giác COB và hình tam giác COD rồi ghép với
hình tam giác ABC để được hình chữ nhật MNBD (hình c).
Ta có: Diện tích ( hình thoi ABCD ) = diện tích (hình chữ nhật MNBD) =
2
m
×
n =
2
nm×
A
B
C
A
B
O
D
NM
M
N
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
-Giáo viên cần thường xuyên tổ chức cho các em buổi học "học mà chơi,
chơi mà học" để kiểm tra, đồng thời bổ xung kiến thức, khắc sâu kiến thức bằng
hình thức hái hoa dân chủ. Các câu hỏi là phương pháp giải một bài toán, suy
luận nhanh một vấn đề yêu cầu học sinh giải nhanh, gắn gọn dễ hiểu và chính
xác. Có phần thưởng động viên cho các em đạt kết quả tốt. Bằng hình thức này
đã rèn cho các em tư duy nhanh, nói năng lưu loát, mạnh dạn trước tập thể, tạo
ra sự say mê, hứng thú học tập môn Toán của học sinh.
IV- KẾT QUẢ THỰC HIỆN SO SÁNH ĐỐI CHỨNG:
Trên đây là một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng môn Toán cho
học sinh lớp 4 ở trường tiểu học Đỗ Động- Thanh Oai - Hà Nội. Tôi đã vận dụng
các biện pháp trên, đã giải đáp được những băn khoăn khi dạy -học toán đối với
giáo viên và học sinh trong trường Tiểu học Đỗ Động. Đặc biệt đã xây dựng
cho các em nề nếp, phương pháp học tập, thái độ tự tin trong học toán, đã nâng
cao chất lượng dạy- học toán cho giáo viên, học sinh. Các em đã tự tin không
sợ học toán, ít bị nhầm lẫn trong tính toán về: cộng, trừ, nhân, chía và giải toán.
Đã có nhiều em say mê giải toán. Không những làm được tốt các bài trong
chương trình mà còn giải được các bài toán trong sách tham khảo, trên mạng
Internet. Nhiều em giải được các bài toán phức tạp một cách nhanh hơn và có
nhiều cách giải hay khác nhau. Cụ thể với bài toán khảo sát đầu năm tôi đã thay
TB : 4 em đạt 12,0 %
So với năm học trước tăng 6 HSG
Trong đợt thi học sinh giải toán qua mạng Internet cấp trường tổng số 26
em dự thi, lớp 4A đã đạt được cả 3 giải : Nhất, nhì, ba như sau:
TT Tên HS Lớp
Xếp
thứ
Giải
1
Nguyễn Đan Quỳnh 4A 3 Ba
2
Dương Minh Hoàng 4A 2 Nhì
3
Đỗ Ngọc Huyền Trang 4A 1 Nhất
4
Nguyễn Nhật Vy 4A 4
5
Phạm Thế Lê Tùng 4A 8
6
Nguyễn Anh Thắng 4B 7
7
Nguyễn Khánh Huyền 4B 5
8
Đỗ Thị Nhàn 4B 6
Bên cạnh đó 6/6 em còn đạt học sinh viết chữ đẹp cấp huyện năm học
2012-2013 là em: Lê Nhất Phương; Nguyễn Thu Duyên; Dương Ánh Ngọc; Hồ
Thu Hồng; Nguyễn Nhật Vy; Nguyễn Khánh Huyền.
Với những kết quả trên chứng tỏ việc nâng cao chất lượng môn Toán ở
lớp không chỉ cần thiết mà còn củng cố và mở rộng những kiến thức tương ứng
và phát triển toàn diện cho các em. Tôi tin tưởng rằng lớn lên các em sẽ trở
thức thực tế tới học sinh một cách nhẹ nhàng tự nhiên mà hiệu quả. Tạo không
khí thoải mái để mỗi tiết học Toán của các em thực sự "học mà vui-vui mà
học”
2. Đối với học sinh:
- Học sinh cần có ý thức say mê học Toán: Tự giác học tập, tự tìm tòi tích
cực hoạt động tư duy, tự phân tích các vấn đề đã biết để tìm ra những dữ kiện,
điểm nút, chìa khoá và tự giải quyết vấn đề.
- Cần nắm vững các dạng bài toán cơ bản và phương pháp giải của từng dạng
bài Cần chịu khó suy nghĩ, tư duy, cẩn thận tỷ mỉ và kiên trì khi giải toán, cần
tìm nhiều cách giải khác nhau, rồi chọn một cách ngắn gọn dễ hiểu để trình bày
-Cần chăm chỉ học tập ở nhà cũng như ở lớp, chăm đọc tài liệu tham khảo về
môn Toán để nâng cao hiểu biết, mở rộng tư duy của mình. Cần nâng cao ý thức
tự học tốt hơn nữa.
VI- KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
T¸c gi¶:
NguyÔn ThÞ Quúnh
25