5
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI:
" PHỐI HỢP SƠ ĐỒ TƯ DUY VỚI HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG
MÔN SINH HỌC THPT" 6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Bước vào giai đoạn mới của cách mạng, giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước; và, để đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế, đòi hỏi sự nghiệp giáo dục Việt
Nam cũng ngày càng phát triển. Để phát triển giáo dục trước hết phải nâng cao chất lượng giáo
dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học là một trong những con đường
quan trọng và công cụ thiết yếu. Bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống được sử dụng
ở các nhà trường trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT), có nhiều trường đã
và đang kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học tích cực.
Môn Sinh học và Công nghệ (SH & CN) là một trong những môn học quan trọng trong hệ
thống kiến thức của học sinh phổ thông, và là môn học đặc thù có thể sử dụng kết hợp các
phương pháp để nâng cao chất lượng dạy của giáo viên và chất lượng học của học sinh. Những
năm qua, thực hiện chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Lắk, đội ngũ giáo viên
dụng SĐTD kết hợp hoạt động nhóm, thảo luận và rèn luyện kỹ năng báo cáo của cá nhân ở
Trường PTDTNT Tây Nguyên.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; sáng kiến được nghiên cứu và vận dụng các phương pháp
lô-gic, phân tích-tổng hợp, thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia.
7. Đóng góp khoa học:
Kết quả sáng kiến giúp giáo viên và học sinh chuyển từ phương pháp học truyền
thống sang phương pháp dạy học bằng SĐTD kết hợp với phương pháp lấy học sinh làm
8
trung tâm; rèn luyện cho học sinh kỹ năng thuyết trình và tự nghiên cứu một cách hiệu quả.
Có thể áp dụng đối với lớp có chất lượng học sinh không đồng đều, áp dụng được cho
nhiều môn học.
Sáng kiến có thể được các trường THCS và THPT khác nghiên cứu và vận dụng phù hợp
trong dạy học các đối tượng tương ứng.
8. Kết cấu của đề tài (sáng kiến):
Gồm mở đầu, hai phần, kết luận, tài liệu tham khảo.
Phần 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TRẠNG PHỐI HỢP SỬ DỤNG SƠ ĐỒ
TƯ DUY VỚI HOẠT ĐỘNG NHÓM, THẢO LUẬN, RÈN LUYỆN KỸ NĂNG BÁO
CÁO CỦA CÁ NHÂN TRONG DẠY, HỌC MÔN SINH
HỌC-CÔNG NGHỆ Ở TRƯỜNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TÂY NGUYÊN
1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học ở bậc phổ
thông cơ sở và phổ thông trung học
Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ
thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng
thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Tác giả của SĐTD là
Tony Buzan, ông là người đã thúc đẩy làn sóng cách mạng học tập bùng nổ tại nhiều
gian, có một số tác giả đã nghiên cứu và công bố các công trình nghiên cứu của mình trên
lĩnh vực áp dụng SĐTD vào việc dạy và học, nhưng vấn đề đặt ra ở đây là người giáo
10
viên phải làm gì để giúp các em làm quen với phương pháp học bằng SĐTD ? Làm sao
phát huy được khả năng sáng tạo, tư duy logic giúp các em biết cách hoạt động nhóm,
hoạt động cá nhân cho hiệu quả? Làm sao để học sinh thiết kế được SĐTD, biết cách báo
cáo và trình bày ý tưởng của mình trước tập thể?
Trong bối cảnh và thực trạng như vậy, là một giáo viên có nhiều năm thâm niên
giảng dạy học sinh THCS và THPT, đã từng thử nghiệm phương pháp dạy học theo
SĐTD, tôi nhận thấy việc đưa ra những giải pháp nhằm giúp thầy và trò chuyển đổi cách
học từ phương pháp cũ sang phương pháp mới tích cực, phối hợp các phương pháp dạy
học tích cực với nhau để tạo hiệu quả cao trong tiết học là rất cần thiết.
1.2. Thực trạng sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy với hoạt động nhóm, thảo
luận, rèn luyện kỹ năng báo cáo của cá nhân ở Trường Phổ thông Dân tộc nội trú
Tây Nguyên
Được thành lập từ năm 2004, Trường PTDTNT Tây Nguyên luôn nhận được sự
quan tâm của các cấp lãnh đạo như Học viện Khoa học Quân sự - Bộ Quốc phòng, Sở
Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Lắk Nhà trường có một cơ sở dạy và học đáp ứng được
nhu cầu của một trường nội trú, việc tiến hành sáng kiến kinh nghiệm này có những thuận
lợi đáng kể.
Học sinh của Trường có hai loại đối tượng: học sinh nội trú và học sinh bán trú. Học
sinh nội trú được học 3 buổi trong ngày nên việc tìm hiểu hoàn cảnh, nắm bắt được khả
năng tiếp thu bài của học sinh cũng như phát hiện ra những học sinh có năng khiếu rất
thuận tiện. Các em có thời gian tự học bài vào buổi tối trên lớp nên việc chuẩn bị bài mới
luôn đảm bảo. Bên cạnh đó Ban Giám hiệu luôn quan tâm, chỉ đạo kịp thời nên giáo viên
có những ý tưởng mới hay những biện pháp dạy học mới mang tính sáng tạo sẽ được ủng
hộ và triển khai vào thực tế.
11
sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số. Những em là học sinh người kinh lại rơi vào
các trường hợp học sinh cá biệt hay con em các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt như cha
mẹ li hôn, cha mẹ lo làm kinh tế nên không có thời gian chăm sóc, quản lý con cái Vì
thế việc giúp các em nâng cao trình độ nhận thức, tiếp thu bài học nhanh, phát huy tính
sáng tạo, khả năng tư duy và tự giác học tập là một vấn đề nan giải đối với đội ngũ giáo
viên của Trường. Cũng chính từ lý do này, tôi đã nghiên cứu, áp dụng và mạnh dạn đưa
ra biện pháp ban đầu, giúp học sinh biết kết hợp một số phương pháp học tập tích cực và
sử dụng SĐTD trong môn Sinh học và môn Công nghệ.
Từ năm 2010 trở về trước, với sự tìm tòi thử nghiệm, được sự giúp đỡ của tập thể,
bản thân tôi đã chủ động từng bước triển khai tiết học bằng cách cho học sinh chuẩn bị
bài mới ở nhà, trên lớp học thầy và trò cùng hoạt động nhóm, sử dụng đồ dùng học tập
phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, giáo viên dẫn dắt gợi mở vấn đề, đặt câu
hỏi, học sinh nghiên cứu và trả lời các câu hỏi mà giáo viên đưa ra. Thật vui mừng, trên
tổng thể, với phương pháp dạy học này, chúng tôi đã thu được nhiều thành tích đáng
khích lệ, tỉ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi rất cao, không có học sinh thi lại môn Sinh học.
Từ năm 2010 đến nay, tôi đã sử dụng SĐTD để dạy môn Sinh học và môn Công
nghệ trong chương trình chính khóa. Tôi nhận thấy, nếu chúng ta chuyển ngay từ phương
pháp học ghi chép sang sử dụng bản đồ tư duy thì học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn. Học
sinh sẽ lúng túng không biết phải bắt đầu từ đâu, không biết tìm từ chìa khóa, không biết
thiết kế một SĐTD cho hiệu quả.
Để đánh giá thực trạng học sinh khi chưa được hướng dẫn thiết kế SĐTD, chúng tôi
13
đã làm một phép so sánh thông qua một số bài kiểm tra 15 phút. Dạng đề thứ nhất: cho
học sinh trả lời câu hỏi bằng phương pháp truyền thống, học thuộc lòng và nghi chép lại.
Dạng đề thứ hai: yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi bằng cách sơ đồ hóa hiểu biết của các
em. Kết quả cho thấy điểm số của hai dạng bài kiểm tra là tương đương nhau. Điều này
cho thấy muốn học sinh hiểu và vận dụng tốt phương pháp học mới thì phải hướng dẫn và
giúp các em chuyển từ lối học cũ sang cách học mới một cách cụ thể.
Biện pháp nào có thể giải quyết những tồn tại gặp phải khi thực hiện sáng kiến kinh
chọn phương pháp phù hợp và đạt hiệu quả cao trong quá trình truyền thụ bài giảng.
Những nội dung này sẽ được trình bày kỹ trong phần 2.
Phần 2
BIỆN PHÁP PHỐI HỢP SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VỚI HOẠT
ĐỘNG NHÓM, THẢO LUẬN, RÈN LUYỆN KỸ NĂNG BÁO CÁO
CỦA CÁ NHÂN TRONG DẠY HỌC MÔN SINH HỌC-CÔNG NGHỆ
2.1. Mục tiêu phối hợp hoạt động nhóm, thảo luận, rèn luyện kỹ năng báo cáo của cá
nhân nhằm nâng cao chất lượng dạy, học môn Sinh học - Công nghệ
Việc sử dụng phương pháp SĐTD phối hợp với các phương pháp học tập hoạt động
nhóm, thảo luận, rèn luyện kỹ năng báo cáo của cá nhân trong dạy học nhf đạt tới các
mục tiêu sau:
15
Giúp học sinh chuyển từ cách học truyền thống sang cách học tích cực thông qua
hoạt động nhóm và rèn luyện kỹ năng báo cáo.
Tiếp tục chuyển đổi từ phương phương pháp hoạt động nhóm, thảo luận và rèn luyện
kỹ năng báo cáo sang kết hợp các phương pháp học nói trên với việc sử dụng SĐTD.
Trong đó vai trò của hoạt động nhóm, báo cáo và thảo luận cân bằng với việc sử dụng
SĐTD.
Tận dụng tối đa thời gian của tiết học vào các hoạt động tích cực của học sinh, giảm
việc ghi chép trên lớp. Do đó, giúp học sinh bớt căng thẳng, mệt mỏi để tập trung vào
việc nghe giáo viên giảng giải, phân tích bài học.
Quá trình thực hiện phương pháp SĐTD, giáo viên sẽ đóng vai trò là người tổ chức,
hướng dẫn, nhận xét, bổ sung và đánh giá học sinh, chứ không đơn thuần chỉ là người
truyền đạt kiến thức giáo khoa một cách khô khan.
Ngoài ra, với phương pháp SĐTD có thể áp dụng cho nhiều môn học, có thể sử dụng
rộng rãi ở nhiều trường học, kể cả các địa phương có điều kiện khó khăn, vùng xa xôi.
2.2. Nội dung và cách thức phối hợp hoạt động nhóm, thảo luận, rèn luyện kỹ năng
báo cáo của cá nhân trong dạy, học môn Sinh học - Công nghệ ở Trường Dân tộc nội trú
Tây Nguyên
17
- Chuẩn bị tiết học:
Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị bài trước khi đến lớp bằng cách tìm các mục
chính và nội dung chính của bài học. Học sinh trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa và
tự mình tìm những kiến thức trọng tâm của của bài học. Giáo viên cần kiểm tra việc
chuẩn bị bài trước khi tiến hành nội dung bài mới một cách kỹ lưỡng để tập cho học sinh
thói quen tự học tập nghiên cứu ở nhà. Nếu bỏ qua khâu này, học sinh sẽ không tự giác
chuẩn bị SĐTD khi giáo viên đưa ra yêu cầu ở các bước sau.
- Tiến trình tiết học: Được tiến hành thông qua các bước cụ thể sau:
Bước 1: tiến hành bài học bằng cách giải quyết hệ thống câu hỏi cho trước trên bảng.
Giáo viên yêu cầu học sinh di chuyển chỗ ngồi, về vị trí hoạt động nhóm, cùng nhau
thảo luận trả lời các câu hỏi mà giáo viên đưa ra. Hệ thống câu hỏi này bám sát nội dung
bài học. Mục đích của bước này nhằm giúp học sinh tìm ra những nội dung cơ bản nhất
trong các mục của bài mới để từ đó biết cách tìm ra từ chìa khóa sau này.
[Hình1: Hệ thống câu hỏi giáo viên cho trước để học sinh thảo luận nhóm]
18
Thời gian hoạt động nhóm thông thường sẽ chiếm 1/3 thời lượng tiết học. Giáo viên
chỉ ghi đề mục của bài học trên bảng, và chia cột theo số lượng mục lớn trong bài. Trong
quá trình học sinh thảo luận theo nhóm, giáo viên sẽ bao quát và hỗ trợ các em, định
hướng cho các em có thể tìm ra những câu trả lời hợp lý. Hết thời gian thảo luận học sinh
ở các nhóm trở về vị trí ban đầu. [Hình 2: Học sinh thảo luận theo nhóm]
Bước 2: hoàn thiện nội dung thảo luận trên bảng
Sau khi học sinh đã ổn định lại vị trí, giáo viên sẽ chỉ định các nhóm hoàn thành bài
Thời gian đầu học sinh sẽ cảm thấy bỡ ngỡ khi tự tìm tòi kiến thức cũng như đứng
trước cả lớp để trình bày một vấn đề, nhưng chỉ sau vài tiết học như thế, học sinh sẽ quen
dần với cáchhọc này, các em có thể thảo luận để tìm ra được nội dung kiến thức cơ bản
của bài học và tự tin báo cáo.
Cũng tại thời điểm này, các học sinh được cử lên ghi chép nội dung thảo luận các
mục trên bảng cũng đã hoàn thành nhiệm vụ. Giáo viên sẽ sửa và bổ sung ngay từng mục
sau báo cáo và ghi chép.
Học sinh cả lớp sẽ xem lại phần chuẩn bị ở nhà của mình và bổ sung những phần
kiến thức còn thiếu. Như vậy giáo viên sẽ không còn nặng nề về vở soạn hay vở ghi chép
của học sinh nữa, vì học sinh sẽ kết hợp hai loại vở để tích lũy thông tin cho mình.
Cứ như vậy giáo viên và học sinh sẽ báo cáo, thảo luận để giải quyết hết nội dung
bài học mới.
Bước 5: Tổng hợp kiến thức và đánh giá
Cuối tiết học toàn bộ nội dung kiến thức cần nắm bắt được thể hiện trên bảng. Học
sinh hoàn thiện bài học trong vở của mình. Kết quả của ý thức hoạt động thảo luận nhóm,
21
việc ghi chép trên bảng, kết quả báo cáo trước lớp và kết quả những ý kiến đóng góp
đúng sẽ là thành tích chung của cả nhóm.
Giáo viên đánh giá và xếp loại A, B, C, D cho các nhóm. Với những cá nhân có
thành tích tốt sẽ được cộng điểm hay cho điểm ngay sau tiết học. Điều này động viên các
em rất nhiều để học tốt hơn.
[Hình 4: Bài học đã hoàn thiện trên bảng]
Hoạt động thảo luận nhóm, tập tìm các từ chìa khóa và báo cáo như trên sẽ được áp
dụng trong 2 tới 3 tuần đầu, giúp học sinh làm quen với việc chủ động nghiên cứu và tìm
tòi kiến thức mới, giúp các em tự tin khi đứng lên báo cáo một vấn đề nào đó trước tập
thể hay trước đám đông. Hầu hết học sinh của chúng ta ở các trường có nhiều học sinh là
con em đồng bào dân tộc thiểu số, mỗi khi đứng trước tập thể để báo cáo một vấn đề, các
hạn chế, giải quyết những tồn tại này.
[Hình 6: Học sinh tham gia tiết ngoại khóa về sơ đồ tư duy]
2.2.4. Giáo viên thiết kế mẫu sơ đồ tư duy
Việc tìm hiểu lý thuyết chỉ là bước mở đầu, việc thực hành và giúp các em được tiếp
cận với SĐTD trong tiết học thực tế sẽ giúp cho các em hiểu rõ việc mình phải làm hơn.
Hoạt động nhóm như đã nêu ở mục 2.1.2 đã giúp học sinh rèn luyện khả năng bao quát
vấn đề, tìm được nội dung chính của bài học, rèn luyện kỹ năng báo cáo và ghi chép trên
24
bảng, nhưng việc tìm ra từ chía khóa và phát huy khả năng tư duy sáng tạo của các em thì
cần phải thông qua SĐTD.
Để tiến hành một tiết dạy với mục đích vừa học bài mới vừa hướng dẫn học sinh
thiết kế SĐTD đòi hỏi giáo viên phải có khả năng bao quát, tổng hợp kiến thức, cân đối
thời gian và tổ chức tiết học hợp lý, bên cạnh đó giáo viên phải có kỹ năng vẽ hình. Giáo
viên tiến hành vẽ tiêu đề bài học ở trung tâm bảng bằng phấn màu, sau đó đặt câu hỏi cho
học sinh về số lượng mục trong bài, nội dung chính từng mục và cách thiết kế cụ thể một
bài học trên bảng. Mỗi mục được thiết kế theo dạng nhánh với từng màu khác nhau. Giáo
viên đặt các câu hỏi tương tự hệ thống câu hỏi ở phần trước đã rèn luyện cho học sinh để
điền từ chìa khóa vào các nhánh của SĐTD. Kết quả sau tiết học, học sinh cùng giáo viên
thiết kế xong bài học bằng SĐTD. Giáo viên cũng nhắc học sinh những điểm tránh không
sử dụng khi tạo một SĐTD như quá lạm dụng màu sắc, chỉ chú ý tới vẽ hình mà quên nội
dung kiến thức
Giáo viên làm mẫu cho học sinh từ 2 đến 3 tiết, sau đó yêu cầu học sinh về nhà tự
thiết kế bài học mới bằng SĐTD như đã được hướng dẫn. Ở đây giáo viên không bó buộc
cứng nhắc ý tưởng của học sinh, cần tôn trọng các em và chỉ nhắc nhở khi có những học
sinh vẽ sơ đồ bằng những hình dáng không phù hợp với lứa tuổi hay nội dung kiến thức.
25
những lời khen, chỉ ra các điểm mạnh mà các em này đã làm được. Bên cạnh đó nhắc nhở
các em chưa tích cực, chỉ ra các điểm tồn tại của học sinh bằng những câu nhận xét hài
hước, tránh làm các em cảm thấy bị tổn thương vì khả năng vẽ, phối màu, tổ chức và thiết
kế bài học cần có năng khiếu và thời gian làm quen làm. Qua hoạt động kiểm tra bài soạn
27
ở nhà giáo viên sẽ khởi động tiết học, gây hứng thú cho học sinh ngay khi mới vào giờ
học.
[Hình 9: So sánh bài chuẩn bị tốt (bên trái) và bài chuẩn bị chưa tốt(bên phải)] Cũng qua thao tác này, bước đầu giáo viên đã định hình cho các em biết phải làm gì
với bài học mới thông qua các bài chuẩn bị của các học sinh được biểu dương. Giáo viên
cũng đánh giá được thái độ học tập của tập thể cũng như cá nhân, qua đây cũng có thể
cho điểm học sinh hay cộng điểm để khuyến kích học sinh.
Bước 2: Hoạt động nhóm
Kết thúc phần kiểm tra việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh, giáo viên yêu cầu học
sinh cả lớp nhìn bao quát bài mới và đọc rõ tiêu đề bài học, dẫn dắt học sinh vào bài mới
thông qua những câu chuyện hay kiến thức thực tế.
28
Nhìn bề ngoài, đây là một việc làm không cần thiết lắm đối với học sinh THCS và
THPT bởi vì các em đều có thể đọc được tiêu đề của bài, những qua quá trình dạy học
theo phương thức phối hợp hoạt động nhóm với SĐTD tôi nhận thấy, việc yêu cầu học
sinh bao quát bài mới và đọc to tiêu đề của bài là rất quan trọng. Thao tác này giúp học
Sau khi kết thúc hoạt động nhóm, giáo viên yêu cầu các nhóm cử đại diện lên bảng
thiết kế các mục của bài học, ví dụ nhóm thứ nhất thiết kế phần I, nhóm thứ hai sẽ thiết kế
phần II… như vậy các em đã thảo luận toàn bộ nội dung của cả bài học, nhưng khi thiết kế
SĐTD trên bảng thì mỗi nhóm chỉ vẽ một mục. Các nhóm sẽ không biết trước nhóm mình
sẽ thiết kế mục nào nên bắt buộc các em phải thảo luận kỹ lưỡng nội dung của cả bài,
không có hiện tượng bỏ qua kiến thức. Nếu giáo viên giao nhiệm vụ trước cho học sinh,
các em sẽ tập trung vào mục mình sẽ làm mà bỏ qua các mục khác, dẫn tới có nội dung
được nghiên cứu sâu, nhưng có những mục các em không hiểu.