SKKN vận dụng liên hệ thực tiễn trong Hóa vô cơ nhằm tạo hứng thú cho học sinh - Pdf 26



SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI:
"VẬN DỤNG LIÊN HỆ THỰC TIỄN TRONG HÓA VÔ
CƠ NHẰM TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH"
A - ĐẶT VẤN ĐỀ
Định hướng chương trình giáo dục phổ thông với mục tiêu là giúp
học sinh:

phát triển toàn diện về đạo đức, trí lực, thể chất, thẫm mĩ và các
kĩ năng cơ bản, phát

triển năng lực cá nhân, tính năng động, sáng tạo, hình


tin,…Học sinh tự mình hình thành hiểu
biết, năng lực và phẩm chất. “Dạy” là quá trình

tổ chức hoạt động nhận
thức cho học sinh: cách tự học, sáng tạo, hợp tác,…dạy

phương pháp
và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học. Học để đáp ứng những nhu

cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai…Giúp học sinh nhận thức được
những điều đã

học cần thiết, bổ ích cho bản thân và cho sự phát triển xã
hội.
Với bộ môn hóa học, định hướng đổi mới phương pháp dạy học
cũng được coi

trọng đó là: quan tâm và tạo mọi điều kiện để học sinh trở
thành chủ thể hoạt động

sáng tạo trong giờ học; để học sinh tự chiếm lĩnh
kiến thức, kĩ năng về hóa học bằng

nhiều biện pháp như:

+ Khai thác đặc thù bộ môn tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng,

hiểu, tham khảo các vấn đề thực tế liên quan phù hợp với từng đối tượng
học

sinh ở từng khu vực thích hợp như ở thành thị hay nông thôn, ở
miền núi hay đồng

bằng …; đôi lúc cần quan tâm đến tính cách sở thích
của đối tượng tiếp thu, hình thành

giáo án theo hướng phát huy tính tích
cực chủ động của học sinh, phải mang tính hợp

lý và hài hoà; đôi lúc có
khôi hài nhưng sâu sắc, vẫn đảm nhiệm được mục đích học

môn hoá học.
Tuy nhiên, thời gian dành cho vấn đề này là không nhiều, “nó như thứ

gia vị trong đời sống không thể thay cho thức ăn nhưng thiếu nó thì kém
đi hiệu quả

ăn uống ”.
I- CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

“Vận dụng liên hệ thực tiễn trong hóa vô cơ nhằm tạo sự hứng
thú cho học

sinh” bằng rất nhiều cách, chúng tôi có thể nêu ra một số như
sau:


mò của học sinh. Mặc dù vấn đề được giải thích có

tính chất rất phổ
thông.
3.

Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay
cho lời giới

thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học
sinh bất ngờ, có thể là
một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày
học sinh vẫn

gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá
trình học tập.
1.

Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua
các

bài tập tính toán. Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong
khi làm bài tập

lại lĩnh hội được vấn đề cần truyền đạt, giải thích. Vì
muốn giải được bài toán hoá đó

học sinh phải hiểu được nội dung kiến
thức cần huy động, hiểu được bài toán yêu cầu


tự tái tạo lại kiến thức qua các thí nghiệm
hay những lúc bắt gặp hiện tượng, tình

huống đó trong cuộc sống. Giúp
học sinh phát huy khả năng ứng dụng hoá học vào đời

sống thực tiễn.
4.

Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường từ đó liên hệ
với

nội dung bài giảng để rút ra những kết luận mang tính quy luật.
Làm cho học sinh

không có cảm giác khó hiểu vì có nhiều vấn đề lý
thuyết nếu đề cập theo tính đặc thù

của bộ môn thì khó tiếp thu được
nhanh so với gắn nó với thực tiễn hàng ngày.
5.

Ngoài việc giải thích những hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống
trong

các tiết học hằng ngày, giáo viên có thể đưa vào thành một chuyên
đề để bồi dưỡng

học sinh giỏi và đưa các câu hỏi giải thích những hiện
tượng thực tiễn liên quan đến
phong cách dạy “nó như tính cách của mỗi con người không thể ai

cũng
giống ai” nhưng đảm bảo được nội dung dạy học theo yêu cầu của chương
trình.

Mỗi giáo viên khi giải thích các hiện tượng trong thực tiễn liên
quan đến bài học cần

lựa chọn cách giải thích ngắn gọn, dễ hiểu theo
từng đối tượng học sinh để gây được

hứng thú đối với học sinh.
2/ Một số ví dụ minh họa thông qua một số hiện tượng trong
thực tiễn

trong số hàng nghìn, hàng vạn hiện tượng, tình huống thực
tiễn có thể áp dụng
Ví dụ 1: Đèn đá muối là gì? Có công dụng như thế nào?
Himalaya đã tồn tại trên trái đất trên 40 triệu năm như một kỳ quan
của thế giới,

nơi chứa đựng nhiều câu chuyện linh thiêng bí ẩn, nơi cội
nguồn của thánh địa Phật


hoa phát tiết trong cơ thể, thăng hoa

những cảm xúc và tăng sự lĩnh hội
về cảm nhận. p
dụn g : vấn đề được giới thiệu là một vấn đề mới, giáo viên nên
thận trọng

giảng dạy, giáo viên cần phải kết luận thật khoa học, tránh
hiện tượng tuyệt đối hóa

trong công dụng, của một sản phẩm nào, tuy
nhiên nên nhấn mạnh khả năng cung cấp

ion âm trong không khí, của đèn
đá muối. Vần đề được áp dụng trong bài “Liên kết

ion”(lớp 10) hay bài
“Kim loại kiềm và các hợp chất quan trọng của chúng” (lớp 12)
Ví dụ 2:
iện
tượng mưa
a it
là gì?
ác
hại như thế nào?
→ 2H
2
SO
4

2NO + O
2
→ 2N
2 4NO
2
+ O
2
+ 2H
2
→ 4HN
3

Axit H
2
SO
4
và HN
3
tan vào nước mưa tạo ra mưa axit. Vai trò

làm cho khả năng

quang hợp của cây giảm, cho năng suất thấp. Mưa axit
còn phá huỷ các vật liệu làm

bằng kim loại như sắt, đồng, kẽm làm
giảm tuổi thọ các công trình xây dựng, làm lở
loét bề mặt bằng đá của các công trình xây dựng, các tượng đài làm từ đá
cẩm thạch,

đá vôi, đá phiến (các loại đá này thành phần chính là CaC
3
):
CaCO
3
+ H
2
SO
4

Ca
4
+
CO
2
↑ + H
2
O

CaCO


trường.
Cụ thể giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời sau khi dạy
xong

phần
ản
u t
a it sun uric
- bài “
it
sun uric
uối
sun at
” (lớp
10), bài “
Hợp ch t

có o i của lưu huỳnh
” (lớp 10) hoặc áp dụng trong
bài : “
it
nitric và muối nitrat


(lớp 11); bài “Hóa học và vấn đề môi


phần liên hệ thực tế bài “Ankan và đồng đẳng
ankan” – lớp 11.
Ví dụ 4: Làm thế nào để biết dưới giếng có khí độc CO hoặc khí
thiên nhiên

CH
4
mà không có o i để tránh khi uống giếng bị chết ngạt?
Trong các giếng sâu ở một số vùng đồng bằng thường có nhiều khí
độc
C


CH
4
và thiếu oxi. Vì lí do nào đó mà phải ta xuống giếng thì rất nguy
hiểm. Đã có rất

nhiều trường hợp tử vong do khi xuống giếng gặp nhiều
khí độc và chết ngạt do thiếu

oxi. Điều tốt nhất là tránh phải xuống giếng,
nếu có xuống thì nên mang theo bình thở

oxi. Trước khi xuống giếng cần
thử xem trong giếng có nhiều khí độc hay không bằng

cách cột một con vật
như gà, vịt rồi thả xuống giếng. Nếu gà, vịt chết thì chứng tỏ dưới



óa





n

h

ằm

t
ạo

s


h
ứng

thú

ch

o

h
ọc

ra khí CO và CO
2
, SO
2
… Khí CO
2
không duy trì sự sống
còn khí C , SO
2
là khí rất

độc. Con người nếu hít phải khí
C ,
2
sẽ rất
nguy hiểm có thể sẽ dẫn đến tử vong.

Ví dụ: như trước đây ở thành phố
Hải Phòng, 6 thanh niên đóng kín cửa, nổ máy ôtô,

bật đèn để lấy ánh
sáng,… kết quả là tử vong cả 6 người. Hay ở thành phố Cần Thơ,

một gia
đình gồm 3 người, mới mua một chiếc xe máy, tối đến đóng kín cửa, để xe
nổ

máy trong phòng để chạy ro-đai, kết quả là cả nhà 3 người đều tử vong.

p

t

h
ực

t

i
ễn

trong

h

óa





n

h

ằm

t
ạo

s

H
2
O

C
2
H
2



Ca
(
OH
)
2

Axetilen có thể tác dụng với nước tạo
ra andehit axetic (CH
3
CH ). Các chất

này
làm tổn thương đến hoạt động hô hấp của cá vì
vậy có thể làm chết cá.
(
H

0)


2
H
2
O
p
dụng: Giáo viên có thể lựa chọn vấn đề thực tế này vào bài
“Axit

cacboxylic” (lớp 11)
Ví dụ 8: Vì sao nước rau muống đang anh, khi vắt chanh vào thì
chuyển

sang màu đỏ?
Có một số chất trong tự nhiên có chất chỉ thị màu, chúng làm cho
màu của dung

dịch thay đổi khi độ axit thay đổi.
Trong rau muống (và vài loại rau khác như bắp cải tím,…) có chất
chỉ thị này.

Trong chanh có 7% axit citric. Vắt chanh vào nước rau làm
thay đổi độ axit, do đó làm

thay đổi màu nước rau. Khi chưa vắt chanh,
nước rau muống có màu xanh lét là chứa

chất kiềm canxi.






n

h

ằm

t
ạo

s


h
ứng

thú

ch

o

h
ọc

sinh

Ta đã biết thức ăn vào dạ dày phải lưu giữ lại từ 1−2 giờ. Nếu sau
bữa ăn, ta ăn

trái cây liền sau đó, sẽ làm tăng thêm sự lưu trệ trong dạ
dày, mặt khác các vitamin

trong trái cây có thể kết hợp với một số thành
phần trong thức ăn tạo nên hợp chất

không tốt cho sức khỏe (ví dụ:
trong các loại động vật có vỏ: như tôm nước ngọt có
nhiều hợp chất asen hóa trị 5 sau khi ăn nếu uống vitamin C hay ăn những
thức ăn có

chứa vitamin C như ớt, cà chua, mướp đắng, cam quýt, chanh
sẽ làm cho asen hóa trị

5 biến thành asen hóa trị 3, túc là chất thạch tín có
độc, có thể chết. Vì vậy đã uống

vitamin C và ăn các thứ có vitamin C thì
tuyệt đối không được ăn các loại động vật có

vỏ sống trong nước.

p
dụng
:
Giáo viên có thể xen vào trong bài giảng về axit (lớp 11).


trong

h

óa





n

h

ằm

t
ạo

s


h
ứng

thú

ch

o

p
dụng: Đây là mẹo vặt thường được dùng khi không may cơm bị
khê. Người

ta còn dùng than xốp dạng bột mịn để hấp phụ các khí độc
ứng dụng trong các khẩu

trang chứa than hoạt tính, trong mặt nạ phòng
độc…. Giáo viên có thể nêu hiện tượng

trên khi dạy phần tính chất vật lí
hoặc trong phần nêu ứng dụng của cacbon trong bài

“Cacbon” – lớp 11 –
hay bài “Tinh bột” – lớp 12 – cho học sinh suy nghĩ rồi sau đó

giáo viên
nhận xét và bổ sung.
Ví dụ 11: Vì sao ban đêm không nên để nhiều cây anh trong nhà?
Ban ngày, do có ánh sáng mặt trời nên cây xanh tiến hành quá trình
quang hợp,

hấp thụ C
2
và giải phóng khí
2
.
6
nCO


sẽ gây nguy hiểm
cho con người.

p
dụng
:
giáo viên có thể xen vào bài “Tinh bột – xenlulo ơ” (lớp
12).

Ví dụ 12: Vì sao axit nitric HNO
3
đặc lại phá thủng quần áo?
Khi làm thí nghiệm hóa học, nếu quần áo bạn dính phải axit nitric
HN
3
đặc

thường sẽ bị thủng một lỗ; khi dùng axit không đặc, nhìn bên
ngoài thì không thấy gì,

nhưng sau khi phơi khô bạn sẽ thấy ngay lỗ thủng.
V
ận


n

h

ằm

t
ạo

s


h
ứng

thú

ch

o

h
ọc

sinh

3

loãng
có thể có tác dụng hóa học với xenlulo ơ

tạo thành xenlulo ơ trinitrat dễ
phân hủy thành đơn chất (dễ nổ).p
dụng
:
Giáo viên có thể nêu vấn đề trên khi nói về tính chất hóa
học của axit

nitric trong bài “Axit nitric” (lớp 11) hoặc đặt câu hỏi
sau khi dạy xong bài

“Xenlulo ơ” (lớp 12) để nhắc nhở học sinh thật
cẩn thận khi tiếp xúc với axit HN
3

đặc.

Ví dụ 13: ại sao khi đi gần các sông, hồ bẩn vào ngày nắng
nóng, người ta

thường ngửi thấy mùi khai?

Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ giàu chất
đạm, như:



Lượng NH
3
sinh ra hoà tan trong nước dưới dạng một cân bằng động:
NH

H O



NH


OH


(
H

0)Như vậy, khi trời nắng (nhiệt độ tăng), cân bằng trên sẽ dịch chuyển
theo chiều

nghịch, tức là NH
3
sinh ra do phản ứng phân hủy ure không bị



n

h

ằm

t
ạo

s


h
ứng

thú

ch

o

h
ọc

sinh
V
ận

d
ụng

l

iên

h


t

h
ực

t

i
ễn

trong

h

óa



p
dụng: Vấn đề này giúp học sinh hiểu hơn tính thiết thực của hóa
học, giáo

viên có thể vận dụng vào bài “Axit – ba ơ – muối” (lớp 11).
Ví dụ 15:
iệu
ứng nhà kính là gì? Có ảnh hưởng gì đến đời
sống?

Hiệu ứng nhà kính, xuất phát từ “effet de serre” trong tiếng Pháp, do
Jean Baptiste

Joseph Fourier lần đầu tiên đặt tên
Khí cacbonic
C
2
trong khí quyển chỉ hấp thụ một phần những tia
hồng ngoại

(tức là những bức xạ nhiệt) của Mặt Trời và để cho những tia
có bước sóng từ 50.000

đến 100.000 đi qua dễ dàng đến mặt đất. Nhưng

lớp thủy tinh của các nhà kính dùng để trồng cây, trồng
hoa ở xứ lạnh. Do đó hiện

tượng làm cho Trái Đất ấm lên bởi khí C
2
được gọi là hiệu ứng nhà kính.

p
dụng: Ngày nay hiện tượng “hiệu ứng nhà kính” trở thành một V
ận

d
ụng

l

iên

h


t

h
ực

t


ch

o

h
ọc

sinh

3O
vấn đề có

ảnh hưởng mang tính toàn cầu. Mục đích vấn đề giúp học sinh
biết được nguyên nhân

và tác hại của hiệu ứng nhà kính nhằm nâng cao ý
thức bảo vệ môi trường. Giáo viên

có thể đặt vấn đề này khi dạy phần
Cacbon đio it - bài “Hợp ch t của Cacbon” lớp
11)

hay bài “Hóa học và vấn đề môi trường” (lớp 12).

Ozon sinh ra là chất khí màu xanh nhạt, mùi nồng, có tính oxi hóa
mạnh.
on

có tác dụng tẩy trắng và diệt khuẩn mạnh. Khi nồng độ o on
nhỏ, người ta cảm giác

trong sạch, tươi mát.
Do vậy sau cơn mưa giông trong không khí có lẫn ít o on làm cho
không khí

trong sạch, tươi mát. V
ận

d
ụng

l

iên

h


t

h

ứng

thú

ch

o

h
ọc

sinh

2

3

Bên cạnh đó, ngày nay ứng dụng tính diệt khuẩn của o on, con
người sử dụng

o on để diệt trùng nước uống, một số còn sử dụng trong
máy giặt, máy rửa rau quả….

p
dụng: Đây là một hiện tượng tự nhiên không xa lạ với học sinh.
Một số học



Với một lượng ít o on trong không khí thì có tác dụng diệt khuẩn,
diệt vi trùng.

Nhưng nếu lượng o on lại vượt qua giới hạn cho phép sẽ gây
tổn hại cho đại não, phá

hoại khả năng miễn dịch bệnh, gây mất trí nhớ,
biến đổi nhiễm sắc thể, gây quái thai ở

phụ nữ mang thai, v.v Thậm chí o
on còn là chất gây ung thư nên tác hại của o on

không thể kể hết được.
Hiển nhiên là lượng o on do máy photocopy sinh ra rất bé nên nếu
ngẫu nhiên

mà tiếp xúc với nó cũng chưa có thể gây nguy hại cho cơ thể.
Nhưng nếu tiếp xúc với

o on trong thời gian dài và nếu không chú ý làm
thông gió căn phòng thì do o on tập

hợp nhiều trong phòng đến mức vượt V
ận

d


h

ằm

t
ạo

s


h
ứng

thú

ch

o

h
ọc

sinh

tiêu chuẩn an toàn thì sẽ có ảnh hưởng đến sức



giàu khí ozon (O
3
) thường được gọi là tầng o
on. Hàm lượng khí ozon trong không khí

rất thấp, chiếm một phần triệu,
chỉ ở độ cao 25 - 30 km, khí o on mới đậm đặc hơn

(chiếm tỉ lệ
1/100.000 trong khí quyển). Người ta gọi tầng khí quyển ở độ cao này là

tầng ozon. V
ận

d
ụng

l

iên

h


t


h
ứng

thú

ch

o

h
ọc

sinh

Tháng 10 năm 1985, các nhà khoa học Anh phát hiện thấy tầng khí
o on trên

không trung Nam cực xuất hiện một "lỗ thủng" rất lớn, bằng
diện tích nước Mỹ. Năm

1987, các nhà khoa học Đức lại phát hiện tầng
khí o on ở vùng trời Bắc cực có hiện

tượng mỏng dần, có nghĩa là chẳng
bao lâu nữa tầng o on ở Bắc cực cũng sẽ bị thủng.

Tin này nhanh chóng

và CF
4
cũng xâm nhập vào khí quyển. CFC có tính ổn
định cao và không bị

phân huỷ. Khi CFC đạt tới thượng tầng khí quyển
chúng sẽ được các tia cực tím phân

huỷ. Tốc độ phân huỷ CFC sẽ rất
nhanh khiến tầng ô ôn bị tổn thương và các bức xạ

cực tím tới được
những tầng khí quyển thấp hơn.
Không những tủ lạnh, máy lạnh cần dùng đến reon mà trong dung
dịch giặt tẩy,

bình cứu hoả cũng sử dụng reon và các chất thuộc dạng
reon. Trong quá trình sản

xuất và sử dụng các hoá chất đó không tránh
khỏi thất thoát một lượng lớn hoá chất

dạng reon bốc hơi bay lên phá huỷ
tầng o on. Qua đó chúng ta thấy rằng, tầng on bị

thủng chính là do các
chất khí thuộc dạng reon gây ra, các hoá chất đó không tự có

trong thiên
nhiên mà do con người tạo ra. R ràng, con người là thủ phạm làm thủng

ễn

trong

h

óa





n

h

ằm

t
ạo

s


h
ứng

thú

ch


cố gắng thì mới có
thể bảo vệ được tầng o on của Trái đất. Hiện nay chất làm lạnh
được thay thế bằng khí amoniac (NH
3
) lỏng, trên vỏ thùng chứa những
máy làm lạnh,

đều có in dòng chữ “N
N
CFC” tức là không sử dụng CFC.

p
dụng
:
“Lỗ thủng tầng O on
” hiện nay đang là vấn đề được cả
thế giới quan

tâm. Giáo viên có thể nêu vấn đề này khi dạy về “
ng
dụng của lo
” – Bài
“ Flo –

Brom – Iot”
(lớp 10) ; bài “
n
u
t halog n

↑ + 2H
2
O

p
dụng: Đây là phần kiến thức mà bất kì học sinh nào cũng phải V
ận

d
ụng

l

iên

h


t

h
ực

t

i
ễn

o

h
ọc

sinh

biết được sau

khi học bài “Flo và hợp chất của nó”. Học sinh biết giải
thích và vận dụng trong thực

tiễn tránh việc dùng bình thủy tinh đựng
dung dịch HF. Giáo viên có thể hỏi học sinh

sau khi dạy xong bài “ Flo –
Brom – Iot” (lớp 10) hay bài “ ilic và Hợp ch t silic”

(lớp11).
Ví dụ 20: Làm thế nào có thể khắc được thủy tinh ?
Muốn khắc thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy,
nhấc ra cho

nguội, dùng vật nhọn khắc hình ảnh cần khắc vào lớp sáp


tinh cũng sẽ bị ăn mòn ở những nơi cạo sáp.
CaF
2
+ 2H
2
SO
4

Ca
4
+ 2HF↑ (dùng tấm kính che
lại)au đó
i
2
+ 4HF → iF
4
↑ + 2H
2
Op
dụng: Đây là một vấn đề rất thực tế khi mà nghề khắc thủy tinh
đang phát

triển ở nước ta. au bài học, học sinh không những biết được


i
ễn

trong

h

óa





n

h

ằm

t
ạo

s


h
ứng

thú

một phần tác dụng với
nước
:

Cl
2

+
H
2
O







HCl + HClO
V
ận

d
ụng

l



t
ạo

s


h
ứng

thú

ch

o

h
ọc

sinh Axit hipoclorơ HCl sinh ra có tính oxi hóa rất mạnh nên có tác
dụng khử

trùng, sát khuẩn nước.


nhanh hơn là luộc bằng nước không. Bên cạnh đó
khi luộc rau ta thường dùng lửa lớn

để thời gian rau chín nhanh nên ít bị
mất vitamin.

p
dụng: Đây là một vấn đề rất quen thuộc mà nếu không chú ý thì
học sinh sẽ

không biết. Học sinh dễ dàng làm thí nghiệm ngay khi nấu ăn.
Từ đó góp phần tạo nên

kinh nghiệm nấu ăn cho học sinh, rất thiết thực
trong cuộc sống. Giáo viên có thể nêu

vấn đề trên sau khi kết thúc bài
“Clo” (lớp 10) hoặc bài “Các hợp ch
t
quan trọng của

kim loại kiềm” (lớp
12).
Ví dụ 23: ại sao phải ăn muối iot?
V
ận


n

h

ằm

t
ạo

s


h
ứng

thú

ch

o

h
ọc

sinh

Răng được bảo vệ bởi lớp men cứng, dày khoảng 2 mm. Lớp men
này là hợp

chất Ca
5
(PO
4)3
H
và được tạo thành bằng phản ứng:
5Ca
2+
+ 3PO
4
3-
+ OH
-








Ca
5
(PO
4
)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status