giải pháp phát triển các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiêt của đề tài
Phát triển các khu công nghiệp là đòi hỏi khách quan của quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Khu công nghiệp đóng góp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, tiếp nhận và chuyển giao công khoa học- công nghệ, đào tạo lao động có tay nghề
cao… Khu công nghiệp là trung tâm kinh tế- công nghiệp, đầu tàu và động lực kinh tế
của một vùng. Có thể nói, các khu công nghiệp là trụ cột chính, là xương sống của
nền kinh tế trong thời đại công nghiệp. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho
thấy, muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phải tập
trung phát triển mạnh các khu công nghiệp, nếu không thì công cuộc công nghiệp hóa
nền kinh tế không thể thành công
Trong những năm qua, từ Nghị quyết Đại hội biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng
xác định đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, các khu công nghiệp được hình thành và
phát triển mạnh ở hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước, trong đó có tỉnh Thanh Hóa.
Các khu công nghiệp đã góp phần quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh,
thực sự là đầu tàu và là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần giải
quyết lao động, việc làm, tăng chất lượng sản phẩm hàng hóa cho tiêu dùng và xuất
khẩu
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được trong những năm qua, việc phát triển các
khu công nghiệp trên địa bàn tình Thanh Hóa vẫn tồn tại nhiều khó khăn, bất cập .
Việc quản lí nhà nước đối với các khu công nghiệp đang còn thiếu sót như: thủ tục
hành chính còn nhiều vướng mắc, chồng chéo, việc quy hoạch các khu công nghiêp
chưa bài bản, chưa có kế hoạch tổng thể còn mang tính tự phát, chính sách liên quan
tới đất đai, giải phóng mặt bằng, đền bù cho nhân dân mất đất, vấn đề giải quyết lao
động, việc làm cho lực lượng lao động quanh khu vực công nghiệp, vấn đề xử lí vi
phạm vệ sinh môi trường…đang còn nhiều lúng túng, chưa rõ ràng. Quan điểm phát
triển khu công nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay cũng chưa thống nhất, bộ máy và
nguồn nhân lực quản lí khu công nghiệp đang còn nhiều bất cập, hoạt động kém hiệu
quả, công tác thanh tra, kiểm tra chưa phát huy hết tác dụng…
Tất cả tình hình trên đang là trở ngại cho việc thu hút đầu tư, phát triển các khu công
nghiệp trên địa bàn Thanh Hóa. Để giải quyết những tồn tại, thiếu khuyết nêu trên đòi

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG
NGHIỆP
1.1. Khái niệm và phân loại các KCN
1.1.1. Quá trình hình thành KCN
KCN hình thành và phát triển sau khi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 được ban
hành. Theo đó, cho phép các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam dưới
nhiều hình thức. Sau đó, phát triển KCN đã được Đảng và Nhà nước ta nhiều lần
khẳng định chủ trương qua các lần Đại hội Đảng. Chính sách phát triển KCN được
chính thức ra đời cùng với sự ra đời KCx Tân Thuận, thành phố Hồ Chí Minh (1991)
và việc ban hành Quy chế KCX. Đây là những cơ chế đầu tiên đư ra hệ thống các quy
định điều chỉnh hoạt động của các KCN, trong đó có những quy định tương đối đầy
đủ và cơ bản về khái niệm KCN
Bảng so sánh một số chỉ tiêu phát triển KCN ở Việt Nam (tính đến tháng 12/2010
STT
Tỷ suất đầu
tư hạ
tầng/ha đất
TN (tr.USD)
Tỷ suất đầu tư 1 dự
án/ha đất CN đã cho
thuê
Tổng số
LĐ/ha đất
CN đã cho
thuê
Dự án
FDI(tr

- Giai đoạn 4- từ 2006 đến nay
- Giai đoạn 1- Kế hoạch 5 năm 1991 – 1995:
Kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 là giai đoạn đầu và thí điểm phát triển KCN, KCX.
Trong bối cảnh nước ta chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng chính trị tại Liên
Xô, hệ thống viện trợ duy trì cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung bị cắt đứt, nước ta
đứng trước đòi hỏi phải thu hút đầu tư trong và ngoài nước để khắc phục khó khăn, ra
khỏi khủng hoảng. Đây là thời kỳ hình thành các thành phần kinh tế khác ngoài kinh tế
quốc doanh và kinh tế tập thể, trong đó cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành đầu
tư kinh doanh tại Việt Nam theo Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987. Cụ thể hoá chủ
trương này, năm 1991, Nghị định số 322/HĐBT đã ban hành quy chế KCX, nhằm thể chế
hoá mô hình KCX như một giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh xuất khẩu.
Trong giai đoạn này, một số KCX được hình thành tại thành phố Hồ Chí Minh mang
tính chất thử nghiệm, gồm KCX Tân Thuận (1991) và KCX Linh Trung (1992), đây
đều là những KCX được đầu tư hạ tầng theo hình thức liên doanh với nước ngoài
(Trung Quốc, Đài Loan).
Từ hiệu quả bước đầu của hai KCX nêu trên, KCX được chính thức công nhận trong
Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1992 và năm 1994, Chính phủ đã ban hành Quy
chế KCX (kèm theo Nghị định 192/CP) tiếp tục triển khai thêm mô hình KCN. Sau
khi mô hình KCN, KCX được thể chế hoá tại các văn bản nêu trên, một số KCN đã
được hình thành ở những tỉnh, thành phố lớn, có điều kiện thuận lợi, đầu tiên là KCN
Nomura (Hải Phòng), sau đó là KCN Nội Bài, KCN Đà Nẵng (Đà Nẵng), KCN
Amata (Biên Hoà, Đồng Nai) đều được thành lập năm 1994 và đều được đầu tư dưới
hình thức liên doanh. Năm 1995 hình thành thêm 5 KCN đầu tư bằng nguồn vốn
trong nước và 1 KCN do nước ngoài đầu tư (KCN Hà Nội - Đài Tư) nâng tổng số các
KCN, KCX trong thời kỳ này lên 12 KCN, KCX với tổng diện tích tự nhiên 2.360 ha.
Trong giai đoạn này, mới có 2 Ban quản lý các KCN được thành lập tại Hải Phòng,
Quảng Nam - Đà Nẵng vào năm 1995.
Trong kế hoạch 5 năm 1991-1995, phần lớn các KCN, KCX đang trong quá trình triển
khai xây dựng, do đó số dự án có vốn đầu tư nước ngoài thu hút được mới đạt 155 dự
án với tổng vốn 1.550 triệu USD, chủ yếu tập trung tại KCX Tân Thuận và KCX Linh

1991–1995, nâng tổng số KCN, KCX đến cuối năm 2000 lên cụ thể trong kế hoạch 5
năm 1996-2000 thành lập.
Trong số 53 KCN được thành lập trong giai đoạn này có 8 KCN do doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài làm chủ đầu tư hạ tầng.
Trong giai đoạn này, có thêm 26 Ban quản lý các KCN được thành lập thêm ở các
tỉnh, thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Cần
Thơ, Bình Dương và Ban quản lý KCN Việt Nam – Singapore, Quảng Ninh, Phú Thọ,
Tiền Giang, Long An, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Quảng Ngãi, Phú Thọ, Khánh Hoà,
Đồng Tháp, Phú Yên, Thừa Thiên Huế, Thanh Hoá, Bình Định, Nghệ An, Tây Ninh,
Vĩnh Long, Bình Thuận, Bắc Ninh.
Số dự án có vốn đầu tư nước ngoài tăng thêm đạt 588 dự án với tổng vốn đầu tư tăng
thêm đạt 7.213 triệu USD, tăng gấp 3,8 lần về số dự án và 4,65 lần về tổng vốn đầu tư
đăng ký so với kế hoạch 5 năm 1991–1996. Số dự án trong nước tăng thêm đạt 450 dự
án, tăng 9 lần so với kế hoạch 5 năm 1991–1995, tổng vốn đầu tư trên 35.000 tỷ đồng.
Giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN, KCX đều tăng dần qua các năm, trong kế
hoạch 5 năm 1996-2000, tốc độ gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp trong KCN,
KCX đều vượt so với tốc độ gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Tổng
giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN, KCX thời kỳ 1996 – 2000 đạt khoảng 9,5
tỷ USD, tăng bình quân khoảng 20%/năm, trong khi đó tốc độ tăng trưởng công
nghiệp bình quân trên cả nước chỉ đạt 12%.
Trong kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 là kế hoạch triển khai phân cấp, uỷ quyền cho Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý các KCN. Năm 1997, tại công văn số 07/KCN
ngày 16/6/1997, Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận để Bộ Kế hoạch và Đầu tư uỷ
quyền cấp, điều chỉnh, bổ sung, thu hồi Giấy phép đầu tư cho các dự án đầu tư nước
ngoài đầu tư vào KCN, KCX ở 10 địa phương gồm Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,
Hải Phòng, Đồng Nai, Quảng Nam - Đà Nẵng, Bình Dương, Cần Thơ và Bà Rịa –
Vũng Tàu và Dung Quất. Sau đó tại Quyết định 233/1998/QĐ-TTg ngày 01/12/1998,
Thủ tướng Chính phủ đã cho phép Bộ Kế hoạch và Đầu tư uỷ quyền cho các Ban
quản lý KCN cả nước cấp, điều chỉnh, bổ sung, thu hồi Giấy phép đầu tư và quản lý
hoạt động đầu tư của các dự án đầu tư vào KCN, KCX có quy mô vốn dưới 40 triệu

đầu tư vào các KCN, KCX đã vượt số dự án đầu tư nước ngoài.
Tăng trưởng sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp KCN trong giai đoạn này ở
mức cao và ổn định. Trong thời kỳ 2001 - 2005, tổng giá trị sản xuất công nghiệp của
các doanh nghiệp KCN, KCX (kể cả trong nước và nước ngoài) đạt khoảng 44,4 tỷ
USD, gấp gần 5 lần so với kế hoạch 5 năm trước và tăng bình quân khoảng 32%/năm,
trong khi đó tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân cả nước chỉ đạt 16%. Tỷ trọng
giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp KCN, KCX trong tổng giá trị sản
xuất công nghiệp của cả nước đã tăng lên đáng kể từ mức khoảng 8% năm 1996 lên
14% năm 2000 và từ mức 17% năm 2001 lên khoảng 28% năm 2005. Đến cuối năm
2005, toàn bộ 46 Ban quản lý các KCN được thành lập đều đã được Bộ Kế hoạch và
Đầu tư uỷ quyền.
Năm 2006 đến nay
Trong năm 2006, có thêm 9 KCN được thành lập mới với tổng diện tích đất tự nhiên
2.081 ha và 3 KCN mở rộng với tổng diện tích 526 ha, nâng tổng số KCN được Thủ
tướng Chính phủ cho phép thành lập lên 139 KCN với tổng diện tích 29.392 ha.
Theo Luật Đầu tư và Nghị định 108/2006/NĐ-CP, việc uỷ quyền của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư cho Ban quản lý trong quản lý hoạt động đầu tư đã chấm dứt từ thời điểm Nghị
định trên có hiệu lực (ngày 25/10/2006). Các Ban quản lý KCN được phân cấp cấp,
điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư trong KCN, KCX.
Đây là chuyển biến quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về KCN, KCX, quá
trình phân cấp sẽ nâng cao quyền hạn, trách nhiệm và tính chủ động của các Ban quản
lý KCN, KCX; đồng thời tập trung nhiệm vụ thanh tra, giám sát và hoạch định chính
sách vào cơ quan trung ương.
Tính đến 12/2011, cả nước đã có 283 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự
nhiên 76000 ha, chiếm khoảng 61% tổng diện tích đất tự nhiên. Các KCN thành lập
trên 58 tỉnh, thành phố trên cả nước, được phân bố trên cơ sở phát huy lợi thế địa lí kinh
tế, tiềm năng của các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời phân bố ở mức độ hợp lí một
số KCN ở các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nhằm tạo ddieuf kiện cho
ngành công nghiệp địa phương từng bước phát triển
Hiện nay các cơ quan quản lý nhà nước trung ương và địa phương đang có sự điều

với đặc điểm của từng khu kinh tế
Khu công nghiệp là hình ảnh của một thể chế pháp lý đơn giản hơn các mô hình phát
triển kinh tế khác, đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư một cách thỏa đáng, tạo sự an
toàn yên tâm đầu tư cho họ
1.1.3. Phân loại khu công nghiệp
Thực tiễn phát triển kinh tế thế giới trong xu thế toàn cầu hóa cùng với các điều kiện
cụ thể của mỗi quốc gia và với sức ép của thời đại, thế giới ngày nay đã định hình ra
các mô hình KCN khác nhau, các mô hình KCN này có những đặc điểm chung và các
đặc điểm riêng, song ranh giới giữa chúng rất mỏng manh, dễ sử dụng nhầm lẫn. Tuy
nhiên, xét về quy mô và tính chất hoạt động KCN có thể phân ra theo các nhóm sau:
- Phân theo quy mô: có 2 loại:
+ KCN tập trung: có quy mô từ 50 ha trở lên
+ KCN vừa và nhỏ: có quy mô nhỏ hơn 50 ha
- Phân theo chủ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng KCN: có 3 loại
+ KCN do doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài làm chủ đầu tư
+ KCN do liên doanh giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh
nghiệp trong nước
Đặc trưng của các KCN này là được xây dựng hiện đại có quy mô thường lơn hơn
100 ha, xuất đầu tư bình quân 1triệu USD/ha. Thường ở các KCN này khi xây
dựng hoàn chỉnh mới cho các nhà đầu tư xây dựng hạ tầng
+ KCN do doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư.
Đặc trưng của các KCN này thường được xây dựng theo hình thức cuốn chiếu
(xây dựng đến đâu cho các nhà đầu tư thuê sau đó mới tiếp tục xây dựng tiếp),
xuất đầu tư của các KCN này bình quân 120.000 USD/ha
Điển hình ở Việt Nam có các khu: KCN Tiên Sơn (Bắc Ninh), KCN Lễ Môn
(Thanh Hóa)
- Phân theo mục đích phát triển KCN. Có các hình thức sau:
+KCN nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, thường tập trung ở các thành phố lớn của
đất nước. quy mô thường lớn hơn 100 ha
+ KCN nhằm di dời các cơ sở công nghiệp trong các thành phố, đô thị lớn.

Khu công nghiêp được coi là nơi thử nghiệm chính sách kinh tế mới tốt nhất của mỗi
quốc gia, đặc biệt là các chính sách kinh tế đối ngoại và là đầu tầu tiên phong trong sự
phát triển nền kinh tế quốc dân. Khu công nghiệp là trọng điểm kinh tế địa phương,
đóng góp lớn cho ngân sách. Việc xây dựng các khu công nghiệp có thể thay đổi cả
diện mạo một vùng kinh tế, tạo tiền đề thúc đẩy tăng trưởng các ngành kinh tế khác.
Do vậy, khu công nghiệp đóng vai trò to lớn và rất quan trọng đối với sự phát triển
của nền kinh tế
Khu công nghiệp là nơi thu hút và chuyển giao công nghệ: KCN ra đời từ một
dụng cụ hữu hiệu đẩy nhanh khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là FDI để
đạt được tốc độ tăng trưởng cao trên cơ sở tạo lập năng lực sản xuất mới và phát huy có
kết quả nền kinh tế đất nước của các nước đang phát triển trong xu thế quốc tế ngày nay,
đặc biệt Việt Nam là một nước đang phát triển rất cần nguồn vốn thu hút đầu tư nước
ngoài
Bên cạnh việc thu hút đầu tư nước ngoài, một số đóng góp rất lớn nữa của khu công
nghiệp đối với các nước đang phát triển là góp phần vào việc tiếp thu công nghệ hiện đại.
Để tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và thị trường nội địa, các
nhà đầu tư nước ngoài
Đẩy mạnh xuất khẩu: Một trong những mục tiêu quan trọng được đặt ra khi xây dựng
các khu công nghiệp là góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nước.
Trên thực tế hoạt động của khu công nghiệp ở các nước, đặc biệt là các nước Châu Á, đá
thực hiện thành công mục tiêu này, điển hình là Đài Loan, Trung Quốc, Philippin, Thái
Lan
Tạo công ăn việc làm: Hoạt động của khu công nghiệp đòi hỏi một lực lượng lao động
tưowng đối lớn từ nước nhà, chính vì vậy rất nhiều người lao động trong nước có cơ hội
có công ăn việc làm. Ngoài ra việc xây dựng các xí nghiệp sản xuất, dịch vụ hỗ trợ bên
ngoài đã giải quyết được một số lượng lao động khá lớn cho các vùng lân cận
Bổ sung nguồn vốn: đối với Việt Nam, để tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đòi hỏi
một sản lượng vốn đầu tư rất lớn. Vốn trong nước chưa đủ để đáp ứng nhu cầu đó. Do đó
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nược ngoài vào KCN là rất quan trọng vì KCN phản ánh tiềm
năng phát triển của mỗi nước. Theo ngân hàng thế giới, các dự án thực hiện trong KCN

Khu công nghiệp là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và dịch vụ công
nghiệp
Mục tiêu của các doanh nghiệp là lợi nhuận, để khu công nghiệp phát triển thì các
doanh nghiệp cũng phải phát triển. Vì thế thị trường tiêu thụ sản phẩm cho doanh
nghiệp là vô cùng quan trọng, gần khu công nghiệp dân cư như thế nào, thị hiếu, sở
thích, thu nhập được doanh nghiệp chú ý để phát triển sản phẩm phù hợp, tiêu thụ sản
phẩm một cách tối đa
1.2.4. Thị trường lao động
phát triển khu công nghiệp đồng nghĩa với hình thành và phát triển mạnh mẽ thị
trường sức lao động, nhất là lao động có trình độ cao ở nước ta. Hiện nay, lao động
làm công ăn lương có khoảng 25,6% (khoảng 11 triệu lao động) thì 80% tập trung ở
các vùng kinh tế trọng điểm, các thành phố lớn, khu công nghiệp tập trung. Về cơ
bản, khu công nghiệp sản xuất sảnphẩm dùng cho xuấtkhẩu. ở đó, doanh nghiệp được
thử thách trong môi trường cạnh tranh sôi động không chỉ trong nước, mà còn trong
môi trường cạnh tranh quốc tế rất gay gắt, tạo động lực để người lao động không
ngừng phấn đấu, nâng cao tay nghề.
1.2.5. Sử dụng đất trong KCN
Điểm 5.d, điều 41 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về thi hđnh Luật Đất đai quy định
trường hợp được cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi người sử dụng đất
cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp: “Khi người sử dụng
đất cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp; cho thuê, cho
thuê lại quyền sử dụng đất đã có hoặc để xây dựng nhà xưởng, cơ sở dịch vụ công
nghệ cao và sản xuất, kinh doanh sản phẩm công nghệ cao trong khu công nghệ cao;
cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất trong khu phi thuế quan và khu công nghiệp,
khu giải trí đặc biệt, khu du lịch trong khu thuế quan của khu kinh tế (gọi là cho thuê,
cho thuê lại quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp)”.
Theo nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổng diện tích đất công
nghiệp của các khu công nghiệp đã được thành lập trên địa bàn lãnh thổ tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương đã cho các dự án đăng kí đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu
tư thuê đất, thuê lại đất ít nhất là 60%

Vấn đề phù hợp về quy hoạch sẽ là điều kiện tiên quyết đánh giá hiệu quả của KCN và
tiến tới “ xếp hạng” KCN đó, bởi nếu một KCN không phù hợp với quy hoạch thì sẽ ảnh
hưởng tới sự cân đối chung của ngành và của địa phương. Vì vậy, mặc dù trước mắt
KCN có tỏ ra thu hút nhiều dự án đầu tư đi nữa thì không thể đánh giá cao hiệu quả
chung của KCN đó được.
1.2.7. Cơ chế chính sách
Cơ chế chính sách nhà nước ảnh hưởng rất quan trọng tới việc phát triển của KCN,
chính sách sẽ định hướng các KCN hoạt động và phát triển theo những hướng đó khác
nhau. Ở Việt Nam, KCN được thành lập và tổ chức theo chính sách đổi mới “mở cửa
tại chỗ” do đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986. Theo đó, Nhà
nước đã thể ché hóa các chủ trương chính sách của Đảng về phát triển khu công
nghiệp như: quy hoạch, đàu tư phát triển hạ tầng, đất đại, đào tạo nguồn nhân lực, ưu
đãi đầu tư cho các doanh nghiệp vào các KCN, tổ chức hoạt động theo nguyên tắc
“mở cửa tại chỗ”.
1.2 8. KCN với kinh tế xã hội
Những hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN sẽ có mối
liên hệ với các khu vực khác như cung cấp nguyên liệu, vật liệu, dịch vụ gia công, chế
biến sản phẩm cho KCN thông qua các hoạt động sản xuất để cung cấp đầu vào cho
các doanh nghiệp trong KCN sẽ giúp các khu xung quanh KCN sẽ có điều kiện phát
triển
1.3. Các tiêu chí đánh giá phát triển KCN
1.3.1. Vị trí đặt KCN
KCN cần phải có điều kiện thuận lợi về vị trí, về giao thông và hiện trạng KCN
KCN được xây dựng ở vị trí cách biệt với dân cư nhưng đảm bảo thuận tiện trong
việc đi lại sẽ tránh được những ảnh hưởng trong hoạt động của KCN đối với dân cư,
đồng thời tạo điều kiện tận dụng đươc các nguồn lao động tại chỗ ở địa phương và vùng
xung quanh KCN
Ngoài ra, giao thông thuận tiện cũng sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp KCN dễ dàng
vận chuyển nguyên vạt liệu vào KCN phục phụ kip thời cho sản xuất và vận chuyển hàng
hóa tới thị trường tiêu thụ. Điều này sẽ góp phần vào việc giảm chi phí sản xuất của

KCN còn cao thì coi như KCN này không có khả năng đạt hiệu quả
1.3.4. Hiệu quả hoạt động của các đơn vị kinh tế trong KCN
Tiêu chí này đánh giá thực chất vấn đề hiệu quả tài chính, kinh tế trong hoạt động của
các doanh nghiệp, quyết định khả năng sống, còn của doanh nghiệp trong khu công
nghiệp. Tiêu chí này bao gồm: tổng doanh thu, tổng giá trị gia tăng, tổng lao động thu
hút, tổng vốn kinh doanh, tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng doanh thu, tổng thu trên
một đơn vị lao động, thu nhập bình quân của một đơn vị lao động
1.3.5. Chất lượng hạ tầng kỹ thuật- xã hội KCN
Trong chỉ tiêu này cần làm rõ tình hình xây dựng hạ tầng kỹ thuật cả trong hàng rào và
ngoài hàng rào KCN. Cần đánh giá rõ số các dự án và vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
KCN, có bao nhiêu dự án đo doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, bao nhiêu dự án liên
doanh, bao nhiêu dự án do doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư, việc đánh giá thông
số này có nhiều ý nghĩa, thứ nhất đánh giá chính sách Nhà nước trong việc khuyến khích
và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế,
các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN nhằm huy động
vốn của thành phần kinh tế, mặt khác trên cơ sở số dự án và vốn đầu tư do doanh nghiệp
trong nước làm chủ đầu tư, tính toán được nguồn vốn cần thiết để hỗ trợ cho các doanh
nghiệp này trong việc xây dựng kinh doanh hạ tầng KCN. Chỉ tiêu này đánh giá được giá
thành xây dựng hạ tầng kỹ thuật KCN tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý Nhà nước về
KCN có những giải pháp thích hợp cho việc tạo môi trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư
giúp cho các nhà đầu tư có thể tiến hành xây dựng ngay nhà máy để sản xuất, tiết kiệm
thời gian và tiền bạc, tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh của chính mình.
1.3.6. Mức độ thỏa mãn nhu cầu của các nhà đầu tư
Tiêu chí này đánh giá hiệu quả môi trường thu hút đầu tư vào KCN, trong tiêu chí này
cần làm rõ số các dự án mới đầu tư đang thời kỳ xây dựng nhà xưởng, số các dự án đã
đi vào sản xuất, số các dự án phải dừng hoạt động. qua các thông số này có thể đánh
giá được môi trường đầu tư ở các KCN thuận lợi cho dự án trong nước và nước ngoài
từ đó có quyết sách điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư vào KCN cho phù hợp.
Các KCN có vị trí thuận lợi, cơ sở hạ tầng hiện đại với giá thuê đất và chi phí hạ tầng
hợp lí sẽ có điều kiện thuận lợi trong thu hút các nhà đầu tư. Tổng vốn đầu tư đăng kí

Dương đã xác định vai trò và tầm quan trọng của các KCN trong việc thu hút vốn,
công nghệ, giải quyết việc làm nên đã quan tâm quy hoạch, đầu tư phát triển được 4
KCN tập trung. Không dừng ở đó, tỉnh đã tích cực nghiên cứu, xây dựng đề án và đã
được Chính phủ phê duyệt
Tình hình thu hút đầu tư vào các KCN
Các KCN của tỉnh sau khi được chính phủ cho phép thành lập đã nhanh chóng được
quy hoach động bộ và đầu tư xây dựng hạ tầng để thu hút đầu tư. Phần lớn các nhà
đầu tư đã được lựa chọn đảm bảo năng lực tài chính và có kinh nghiệm trong công tác
xúc tiến đầu tư. Các khu công nghiệp có tỉ lệ lấp đầy tương đối nhanh
Trong thời gian qua, với sự tập trung chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh, cùng với sự hỗ trợ
tích cực của các Bộ, ngành trung ương, sự phối hợp của các chủ đầu tư hạ tầng nên
công tác xúc tiến đầu tư đã được thực hiện có hiệu quả. Cho đến nay, kể cả các dự án
đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN, trong các KCN của tỉnh có 148 dự án
đầu tư có hiệu lực, trong đó có 110 dự án đầu tư nước ngoai với tổng vốn đầu tư đăng
kí trên 1,8 tỷ USD và 38 dự án đầu tư trong nwocs với tổng vốn đầu tư đăng kí gần
8000 tỉ tồng. Các dự an đầu tư vào KCN chủ yếu là các dư án có công nghệ cao thuộc
các tập đoàn lớn của các quốc gia và vùng lãnh thổ: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,
Hồng Kông, Canada, Malaysia, Pháp,…
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KCN TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH
THANH HÓA
2.1. Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của tỉnh Thanh hóa ảnh hưởng đến phát triển
KCN
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Thanh hóa nằm ở cực Bắc Miền Trung, cách thủ đô Hà Nội 150 km về phía Nam, cách
thành phố Hồ Chí Minh 1560 km. Phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hòa Bình và Ninh
Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An phía Tây giáp Hủa Phăn (nước cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào), phía Đông là Vịnh Bắc Bộ.
Thanh Hóa nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc

Nhiệt độ trung bình 23
0
C - 24
0
C, nhiệt độ giảm dần khi lên vùng núi cao
Hướng gió phổ biến mùa Đông là Tây bắc và Đông bắc, mùa hè là Đông và Đồng nam
Đặc điểm khí hậu thời tiết với lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào là điều kiện
thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiêp.
2.1.2. Tài nguyên thiên nhiên
2.1.2.1. Tài nguyên đất
Thanh hóa có diện tích tự nhiên 1.112.033 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp
245.367, đất sản xuất lâm nghiệp 553.999 ha, đất nuôi trồng thủy sản 10.157 ha, đất chưa
sử dụng 153.520 ha với các nhóm đất thích hợp cho phát triển cây lương thực, cây chưa
lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả
2.1.2.1. Tài nguyên rừng
Thanh Hóa là một trong tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích đất có rừng là 484.246
ha, trữ lượng khoảng 16,64 triệu m
3
gỗ, hàng năm có thể khai thác 50.000- 60.000 m
3
.
Rừng Thanh Hoá chủ yếu là rừng cây lá rộng, có hệ thực vật phong phú đa dạng về họ,
loài; có các loại gỗ quý hiếm như: lát, pơ mu, sa mu, lim xanh, táu, sến, vàng tâm, dổi,
de, chò chỉ. Các loại thuộc họ tre nứa gồm có: luồng, nứa, vầu, giang, tre. Ngoài ra còn
có: mây, song, dược liệu, quế, cánh kiến đỏ … Các loại rừng trồng có luồng, thông nhựa,
mỡ, bạch đàn, phi lao, quế, cao su. Thanh hóa là tỉnh có diện tích luồng lớn nhất trong cả
nước với diện tích trên 50.000 ha.
Rừng Thanh Hoá cũng là nơi quần tụ và sinh sống của nhiều loài động vật như: hươu,
nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng, các loài bò sát và các loài chim … Đặc biệt ở vùng Tây
nam của tỉnh có rừng quốc gia Bến En, vùng Tây Bắc có các khu bảo tồn thiên nhiên Pù

tiềm năng lớn cho phát triển thủy điện. Nước ngầm ở Thanh Hoá cũng rất phong phú về
trữ lượng và chủng loại bởi vì có đầy đủ các loại đất đá trầm tích, biến chất, mac ma và
phun trào.
Thanh hóa cũng là tỉnh có nguồn tài nguyên đa dạng nhưng nhìn chung nguồn tài nguyên
có trữ lượng không lớn và thường phân bố không tập trung nên rất khó cho việc phát triển
công nghiệp khai khoáng. Thanh Hóa hiện tại mới chỉ có một số nhà máy đang triển hành
khai thác nguồn tài nguyên như: nhà máy xi măng Bỉm Sơn, xi măng Nghi Sơn, phân bón
Hàm Rồng… Đa số nguồn tài nguyên đang bị thất thoát do kiểm soát không chặt chẽ.
2.1.2.5. Tài nguyên du lịch
hanh Hoá là tỉnh có tiềm năng du lịch rất lớn bao gồm tiềm năng du lịch thiên nhiên và
tiềm năng du lịch nhân văn như du lịch biển, bãi biển Sầm Sơn nổi tiếng, vườn quốc gia
Bến, động Từ Thức, động Hồ Công, hang Con Moong, hang cá Cẩm Hương, khu di tích
Lam Kinh, thành nhà Hồ, đền Bà Triệu.
2.1.3. Tình hình kinh tế của Thanh Hóa
2.1.3.1. Công nghiệp
Cũng như Việt Nam, nền công nghiệp Thanh Hóa đang phát triển. Theo số liệu của tổng
cục thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2009, chỉ số phát triển công nghiệp của toàn tỉnh
tăng 8,2 %, đây là mức tăng cao so với mức tăng bình quân của cả nước là 4,6% (trong
đó TP Hồ Chí Minh và Hà Nội chỉ tăng ở mức thấp là 0,4% và 2,7%).Trong bảng xếp
hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Thanh Hóa
xếp ở vị trí thứ 24/63 tỉnh thành.Tính đến thời điểm năm 2009, Thanh Hóa có 5 khu công
nghiệp tập trung và phân tán. Một số khu công nghiệp:
 Khu công nghiệp Bỉm Sơn - Thị xã Bỉm Sơn
 Khu công nghiệp Nghi Sơn (nằm trong khu kinh tế Nghi Sơn) - Huyện Tĩnh Gia
 Khu công nghiệp Lễ Môn - Thành phố Thanh Hóa
 Khu công nghiệp Đình Hương (Tây Bắc Ga) - Thành phố Thanh Hóa
 Khu công nghiệp Lam Sơn - Huyện Thọ Xuân
Khu kinh tế Nghi Sơn được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập và ban hành
quy chế hoạt động số 102/2006/QĐ-TTg ngày 15 tháng 5 năm 2006. Khu kinh tế này
nằm ở phía Nam của tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội 200 km, có đường bộ và đường sắt

Ngư nghiệp Thanh Hóa có nhiều điều kiện phát triển
Thanh Hóa có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km2, với những bãi cá, bãi
tôm có trữ lượng lớn. Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn, thuận lợi cho tàu thuyền ra vào. Vì
vậy Thanh Hóa có điều kiện phát triển ngư nghiệp rất tốt
2.1.3.5. Ngân hàng
Bên cạnh Ngân hàng Nhà nước, hệ thống ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh gồm
Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và
PTNT, Ngân hàng Chính sách. Hiện nay, các ngân hàng đang thực hiện đổi mới và đa
dạng hóa các hình thức huy động vốn, áp dụng các công nghệ tiên tiến trong việc chuyển
phát nhanh, thanh toán liên ngân hàng, thanh toán quốc tế bảo đảm an toàn và hiệu quả.
Tổng nguồn vốn huy động tín dụng hàng năm đạt trên 3.000 tỷ đồng, tổng dư nợ năm
2002 đạt trên 4.000 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2001.
2.1.3.6. Bảo hiểm
Là tỉnh có dân số đông thứ ba cả nước, Thanh Hóa được xác định là thị trường tiềm năng
ở tất cả các loại hình bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Hiện tại trên địa bàn tỉnh có tám
công ty bảo hiểm được cấp phép hoạt động bảo hiểm. Các công ty bảo hiểm trên địa bàn
đang không ngừng mở rộng thị trường, tạo sự cạnh tranh lành mạnh nhằm mục đích nâng
cao chất lượng phục vụ khách hàng.
2.1.3.7.Thương mại dịch vụ
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, thương mại Thanh Hóa đã có bước phát
triển quan trọng. Trên địa bàn đã hình thành hệ thống bán buôn, bán lẻ với sự tham gia
của nhiều thành phần kinh tế, tạo điều kiện lưu thông thuận tiện hàng hóa phục vụ nhu
cầu đời sống, sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Kim ngạch xuất khẩu tăng đều qua các
năm, năm 2000 đạt trên 30 triệu USD, năm 2001 đạt 43 triệu USD và năm 2002 đạt 58
triệu USD. Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, bên cạnh thị trường Nhật
Bản, Đông Nam Á, một số doanh nghiệp đã xuất khẩu sang Mỹ, Châu Âu. Những mặt
hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh là: nông sản (lạc, vừng, dưa chuột, hạt kê, ớt, hạt tiêu, cà
phê ), hải sản (tôm, cua, mực khô, rau câu), hàng da giày, may mặc, hàng thủ công mỹ
nghệ (các sản phẩm mây tre, sơn mài, chiếu cói ), đá ốp lát, quặng crôm
2.1.3.8. Giao thông

2.1.4.3. Giáo dục phổ thông
Năm học 2010-2011, kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, có 68 học sinh đoạt giải, tăng 10 giải
so với năm học 2009-2010; có 1 học sinh đoạt Huy chương Đồng Olimpic quốc tế môn Vật
lý và tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp THPT đạt 99,23%, BTTHPT đạt 99,7%; kết quả kỳ thi vào
Đại học, Cao đẳng vừa qua, Thanh Hoá được xếp thứ 3 toàn quốc có số học sinh thi đạt 28
điểm trở lên và có 8 trường trong tốp 200 trường có điểm bình quân thi đại học cao.
Theo kết quả tổng hợp sơ bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo, đầu năm học 2011-2012 toàn
tỉnh có: 2.135 trường học mầm non và trường học phổ thông các cấp với 26.659 lớp học, tăng
343 lớp; 739,1 nghìn học sinh, tăng 10 nghìn học sinh so với năm học 2010-2011. Đến cuối
tháng 8 năm 2011 toàn tỉnh có 21.011 phòng học kiên cố, chiếm 83,5% tổng số phòng học, tỷ
lệ phòng học kiên cố tăng 2,9% so với cùng kỳ.
2.1.4.4. Đào tạo
Năm học 2011-2012 trường Đại học Hồng Đức tuyển sinh được 999 sinh viên nguyện
vọng 1, đạt 54,0% kế hoạch, giảm 72 sinh viên so với năm học trước, trường đang tiếp
tục tuyển sinh theo nguyện vọng 2; Trường Cao đẳng y tế tuyển 1.053 sinh viên, đạt
66,5% kế hoạch; Cao đẳng nghề Thanh Hoá tuyển được 415 học sinh, sinh viên, đạt
47,4% so với kế hoạch.
2.1.4.5.Y tế
Đến 30/8/2011 có 401 xã, phường, thị trấn có bác sỹ, tăng 3,1%, tỷ lệ gường bệnh đạt
18,3 gường/vạn dân, tăng 0,18%; 489 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế, chiếm
76,7% tổng số xã, phường, thị trấn và tăng 5,5% so với cùng kỳ (8 tháng đầu năm công nhận
mới 2 xã).
Theo báo cáo của Ngành Y tế, tính đến 16/2/2012 trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh
lớn phát sinh; công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân trong dịp Tết Nhâm Thìn được đảm
bảo. Tuy nhiên, dịch cúm gia cầm H
5
N
1
đã xuất hiện ở Triệu Sơn, Tĩnh Gia, Bỉm Sơn và
Nông Cống có nguy cơ lây sang người; Ngành Y tế cần chủ động phối hợp chặt chẽ với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status