ĐặT VấN Đề
Paraquat là từ viết tắt của Paraquaternary - bipyridyl, là thuốc diệt cỏ có
công thức 1 - 1 dimethyl, 4 - 4 bipyridyl. Được tổng hợp đầu tiên năm 1932
do Mychaelis và được ông đặt tên methyl viologen bởi vì là chất có thể khử
thành gốc tự do bền có màu tím hay xanh dương, được sử dụng nh một chất
chỉ thị màu dùng cho phản ứng oxy khử. Năm 1955, người ta phát hiện ra đặc
tính diệt cỏ do có khả năng gián đoạn chu trình quang hợp tạo diệp lục tố, đây
là một cation tan trong nước, nhanh chóng bị bất hoạt và huỷ hoại trong đất.
Paraquat được phổ biến ra thị trường và từ năm 1962 được sử dụng rộng rãi,
vì paraquat là một trong nhóm hoá chất diệt cỏ có nhiều ưu điểm nh: hiệu quả,
rẻ tiền, được phân huỷ nhanh trong đất… Tuy nhiên nếu bị ngộ độc paraquat
qua đường tiêu hoá thì rất nguy kịch và tỷ lệ tử vong rất cao. Điều này hiện
nay cũng là một vấn đề hết sức bức xúc ở các nước đã phát triển cũng nh ở
các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam chóng ta.
Trường hợp đầu tiên tử vong do ngộ độc Paraquat được báo cáo năm
1966, sau đó số ca tử vong tăng nhiều qua các báo cáo, 60 trường hợp tử vong
một năm tại Pháp, và tại Nhật khoảng 1000 trường hợp mỗi năm. Tỉ lệ tử
vong theo các tác giả là 70 - 80% [17], [18].
Ở Việt Nam: Tại Trung tâm chống độc (TTCĐ) bệnh viện Bạch Mai
theo nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Xuân, Nguyễn Thị Dụ (2007) ngộ độc
paraquat có tỷ lệ tử vong là 72,5% [20].
Ở một số tỉnh phía nam theo nghiên cứu của tác giả Lê Hồng Hà bệnh
viện Chợ Rẫy tỷ lệ tử vong do ngộ độc paraquat là 85% [8].
Ở Bệnh viện tỉnh Bến Tre theo báo cáo của tác giả Lê Mộng Toàn về
tình hình ngộ độc hoá chất tại Bệnh viện tỉnh trong 2 năm 2004 - 2005, ngộ
độc do Paraquat có 7 bệnh nhân và cả 7 bệnh nhân này đều tử vong [12].
Hiện nay với sự tiến bộ của y học, ngày càng có nhiều trường hợp ngộ
1
độc paraquat được cứu sống, lọc máu hấp phụ và dùng các thuốc chống oxy
hoá đang được quan tâm.
Với mong muốn tìm ra các đặc điểm về lâm sàng cũng như cận lâm sàng
Paraquat là hoá chất diệt cỏ được sử dụng phổ biến nhất và đang được
tiêu thụ mạnh nhất ở hơn 100 quốc gia trên thế giới. Paraquat là loại hoá chất
3
trừ cỏ có tác dụng tiếp xúc rất nhanh và bị bất hoạt ngay khi chạm đất, không
để lại tác dụng độc hại nào trong đất. Việc sử dụng thường xuyên không gây
tác động nguy hại gì cho đời sống hoang dại và môi trường cũng như không
hề gây hại gì cho sức khỏe người đi phun. Paraquat với công dụng diệt cỏ cho
nhiều loại cây trồng khác nhau, đã giúp tăng năng suất và sản lượng nông
nghiệp ở các nước đã phát triển cũng như ở các nước đang phát triển. Tuy
nhiên, nếu bị ngộ độc do vô ý uống nhầm paraquat, hay bị đầu độc thì dẫn đến
tử vong rất cao.
Thông qua việc giảm chi phí công lao động trong canh tác đồng thời
ngăn ngừa sự sói mòn đất và giúp duy trì độ Èm của đất. Paraquat đã tạo điều
kiện thuận lợi cho việc canh tác mà không cần làm đất, tiết kiệm được thời
gian và chi phí công lao động.
1.2. Các nguy cơ gây ngộ độc hóa chất diệt cỏ.
* Hóa chất diệt cỏ luôn chiếm số lượng chủ yếu trong số các HCBVTV
và phần lớn là các hóa chất có độc tính cao.
Trong nhiều năm qua paraquat đã chiếm một phần lớn trong số các mặt
hàng hóa chất nông nghiệp bán ra nhiều nhất của hãng Zeneca (24% vào năm
1987) với sản phẩm chủ yếu là Gramoxon, paraquat ở dạng dung dịch 20%,
đóng chai nhựa 100ml, và hiện nay vẫn là một sản phẩm chính trong danh
mục vốn đầu tư hóa chất nông nghiệp của hãng.
* Nhiều vùng nông thôn trình độ dân trí thấp, nhiều nơi còn thiếu các
phương tiện thông tin đại chúng hoặc hoạt động tuyên truyền chưa hiệu quả
đến người dân về HCBVTV.
* Phần lớn người nông dân không xử dụng trang bị hoặc thiếu các trang
thiết bị an toàn lao động khi xử dụng hóa chất, không biết về các tác hại của
HCBVTV với cơ thể người.
4
Bảng 1.1: Số bệnh nhân ngộ độc cấp và tử vong do thuốc BVTV
1996 1997 1998 1999 2000
Bệnh nhân 9524 10372 8110 8339 8916
Tử vong 273 335 305 252 244
Tỉ lệ % 2,68 3,23 3,76 3,02 2,74
Tại Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai, theo nghiên cứu của tác
giả Đặng Thị Xuân, Nguyễn Thị Dụ trong hơn 3 năm từ tháng 1/2004 đến
tháng 1/2007 có 16 bệnh nhân ngộ độc paraquat tỷ lệ tử vong là (72,5%) do
suy đa tạng [16].
Ở một số tỉnh phía Nam: theo nghiên cứu của tác giả Lê Hồng Hà - Bệnh
viện Chợ Rẫy. Phân tích tình hình ngộ độc ngộ độc paraquat được gửi đến
bệnh viện Chợ Rẫy trong 3 năm (1995 - 1997) cho thấy: số bệnh nhân ngộ
độc paraquat ngày càng gia tăng. Trong 42 bệnh nhân được gửi đến bệnh viện
Chợ Rẫy 3 năm qua thì 95% là do tự tử. Tỷ lệ tử vong là (85%). Tỉnh gửi bệnh
nhân đến nhiều nhất là Đồng Nai (27 bệnh nhân), chiếm (62,8%), rồi tới Bà Rịa -
Vũng Tàu, Bình Thuận, Tiền Giang, Lâm Đồng [8].
Theo nhóm nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa, Hoàng Trọng Kim
bệnh viện Nhi đồng I - TP Hồ Chí Minh từ tháng 1/1997 đến tháng 3/2002 có 12 trẻ
em bị ngộ độc paraquat. Tỷ lệ tử vong là 58,3% [10]
Tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa còn báo cáo một trường hợp ngộ độc
paraquat sơ sinh do mẹ tự tử [11].
6
MỘT SỐ SẢN PHẨM THƯƠNG MẠI CỦA
PARAQUAT TRÊN THỊ TRƯỜNG
7
1.4. Paraquat và Diquat
Paraquat và diquat là các hợp chất bipyridylium (BHs), chất diệt cỏ qua
tiếp xúc trực tiếp và không diệt riêng loại cỏ nào; hai hợp chất nầy trước tiên
được các cơ quan chính phủ và ngành công nghiệp đưa vào xử dụng rộng rãi
hết các cơ quan của cơ thể. Nồng độ cao nhất đầu tiên thấy ở thận, và sau đó
là phổi [31]. Thận là cơ quan chủ yếu giữ vai trò chính trong việc bài xuất
paraquat ra khỏi cơ thể. Trong máu, paraquat không gắn kết với protein của
huyết tương. Chất độc này được phân bố chủ yếu vào các cơ quan bao gồm
phổi và cơ paraquat lại tái phân bố chậm vào dòng máu. Điều này, phần nào
giải thích cho việc paraquat được bài xuất liên tục vào trong nước tiểu vào
nhiều ngày tới hàng tuần sau khi uống chất độc này .
Trong vòng 24 giờ đầu tiên sau khi uống, paraquat được bài xuất một
cách đều đặn vào trong nước tiểu [47], [58], ngay cả ở những bệnh nhân xảy
ra suy thận. Trước khi suy thận xảy ra, tốc độ thanh thải của thận đối với
paraquat là lớn hơn, so với tốc độ thanh thải creatinin, vì có thêm sự chế tiết
của các ống thận [58]. Cùng với chức năng thận bị suy giảm dần, thì tốc độ
thanh thải paraquat của thận cũng giảm theo, vì vậy vào giai đoạn cuối thì
thời gian bán huỷ trong huyết tương của paraquat đã tăng lên; điều này giải
thích lý do tại sao vẫn có thể phát hiện thấy paraquat trong nước tiểu của bệnh
nhân trong nhiều ngày tới hàng tuần sau khi uống [58].
Paraquat không chuyển hoá đáng kể, và được bài xuất ra ngoài cơ thể
qua lọc ở tiểu cầu thận, và bởi chế tiết ở các ống thận [55]. Các ống thận chỉ
tái hấp thu một lượng tối thiểu paraquat. Một số lượng paraquat đã được hấp
thu lại được bài xuất qua mật vào đường tiêu hoá.
Phân tử paraquat có đường kính tương đối nhỏ (0,702nm) và không gắn
kết với protein của huyết tương. Paraquat tù do qua lọc ở tiểu cầu thận, và
không bị chuyển hoá bởi thận hoặc bất kỳ cơ quan nào [25]. Trước khi suy
9
thận cấp khởi phát, thì tốc độ thanh thải paraquat vượt quá tốc độ lọc ở tiểu
cầu thận, điều này cho phép nghĩ rằng, paraquat còn được bài xuất tích cực
bởi một hệ thống chuyển tải ở trong các ống thận [25], [44].
1.4.1.3. Độc chất học:
* Hấp thu:
- Tốc độ hấp thu của parquat và diquat giống nhau. ở đường tiêu hoá
4 - 6 lần. Không có bào thai nào sống sót. Tuy nhiên nếu người mẹ đã tiếp xóc
với paraquat còn sống thì đến lần có thai sau không nguy hiểm đến bào thai.
* Chuyển hoá, thải trừ:
- Paraquat được đào thải hầu nh hoàn toàn qua thận nhờ cả quá trình lọc
của cầu thận và quá trình bài tiết tích cực của ống thận. Trong vòng 12 - 24
giê sau uống, trên 90% paraquat được đào thải dưới dạng không đổi qua thận,
nếu chức năng thận bình thường. Tuy nhiên có thể xét nghiệm thấy paraquat
trong nước tiểu vài ngày sau do có sự tái phân bố paraquat từ các cơ quan.
Nửa đời sống của paraquat có thể kéo dài 12 - 120 giờ hoặc lâu hơn khi có
suy thận. Với diquat uống vào được đào thải qua cả thận và dạ dày ruột.
1.4.1.4. Bệnh sinh:
- Paraquat trải qua chu trình oxy hoá/ khử cùng với NADPH (Nicotinamide
Adenine Dinucleotide Phosphate) và oxy dẫn tới hình thành gốc superoxide
(CO
2
). Bipyridyls có hai ion dương bị NADPH khử thành các gốc tự do có
một ion dương và theo chu trình trở về dạng ban đầu của chúng bằng việc
cho oxy một điện tử để hình thành gốc superoxide .
- Trong giai đoạn đầu của chu trình này, paraquat hai ion dương (PQ
2+
)
cùng với NADPH trải qua một phản ứng tạo ra ion paraquat bị khử (PQ
1+
) và
NADP
+
. PQ
1+
phản ứng hầu nh ngay lập tức với oxy tái tạo lại PO
2+
2+
+ O
2
-
(Superoxide)
O
2
-
+ O
2
-
+ H
2
-
= H
2
O
2
(Peroxide hydro)
H
2
O
2
+ Fe = OH
-
(hydroxyl) phaự huyỷ maứng lipid teỏ baứo laứm cheỏt
teỏ baứo.
- Chu trình oxy hoá - khử liên quan đến paraquat, oxy, NADPH cũng như
là việc sau đó tạo thành gốc tự do hydroxyl dẫn tới nhiều cơ chế làm tổn thương
tế bào. Can thiệp NADPH dẫn tới chết tế bào. Các gốc tự do hydroxyl có độc
và tử vong.
- Ở người, chuột, chó bị ngộ độc paraquat, mổ tử thi cho thấy phổi bị phù
và xuất huyết, xuất huyết khoảng giữa các phế nang, huỷ hoại tế bào phế
nang, thâm nhập các tế bào xơ, sau đó phổi bị mất tính đàn hồi, hoạt động hô
hấp bị giảm, trao đổi khí kém hiệu quả. Trên động vật bị ngộ độc, thường
không thấy các tác dụng ngay lập tức, tuy nhiên trong vòng 10 - 14 ngày, con
vật bị suy hô hấp, các thay đổi hình thái bao gồm thoái hoá và hình thành các
không bào ở các phế bào, tổn thương với các tế bào biểu mô phế nang type I
và II, huỷ hoại màng biểu mô, tăng sinh tế bào sợi. Gan bị hoại tử trung tâm tiểu
thuỳ, thận bị hoại tử ống thận, cầu thận. Trọng lượng phổi của con vật tăng đáng
kể nhưng cân nặng toàn thân của con vật lại bị giảm.
13
Hình 1.1. Bệnh sinh của ngộ độc paraquat
1. Cấu trúc của paraquat và putrescine cả hai có khoảng cách giữa hai nguyên tử N
+
(mang điện tích dương) gần bằng nhau: paraquat 0,702nm và putrescine là 0,622nm.
2. Receptor được coi là chịu trách nhiệm trong hoạt động gắn paraquat vào tế bào biểu
mô phế nang (alveolar epithilial cells).
3. Ban đầu nhờ có các enzyme mà paraquat (PQ
2+
) trở thành gốc đơn (PQ
+
•
). Trong sự
có mặt của oxy, phản ứng tự nhiên giữa (PQ
+
•
) với O
2
sẽ tạo thành các gốc tự do
thấp làm cho không có khả năng người ta hít phải hơi này. Tuy nhiên, nếu hít
phải nhiều quá các hạt phun mù paraquat, thì có thể gây ra viêm miệng, chảy
máu mũi, nhức đầu, và đau họng [22].
Paraquat với dung dịch đậm đặc, có tác động kích thích mạnh. Nếu bị
phơi nhiễm lâu hoặc với dung dịch đậm đặc, thì có thể xuất hiện các nếp
ngang và móng tay lõm thành các rãnh, tiến triển dần tới thân móng (nail
plate) biến dạng không đều và mất móng. Sau nhiều tuần phơi nhiễm với
paraquat, thì có thể nhìn thấy rõ các vết nằm ngang màu trắng do mất màu ở
phần thân móng [67], [75]. Nếu ngừng phơi nhiễm với paraquat, thì một thời
gian sau móng bình thường lại mọc lại.
Đã có các báo cáo cho biết phơi nhiễm với paraquat gây ra các tổn
thương da sau đây: ban đỏ, bọng nước, kích thích và loét [24], [59], viêm da
chàm (eczematous dermatitis) [67]. Cũng đã xảy ra trường hợp tử vong do
paraquat tiếp xúc với da [21]. Có trường hợp một người đi xe đạp đèo bình
paraquat, người này bị ngã xe và sau đó 12 ngày thì chết. Do sử dụng nhầm,
15
paraquat đã gây ra suy thận và suy hô hấp. Đôi khi người ta đã sử dụng sai
paraquat để giết chấy rận và điều trị ghẻ [42], [53].
* Mắt: Nếu mắt bị phơi nhiễm với dung dịch paraquat đậm đặc, thì có
thể gây ra viêm mắt nặng [59]. Viêm mắt tiến triển dần, và đạt tới đỉnh điểm
sau 12 đến 24 giờ, và có thể tiến triển tới loét kết mạc và giác mạc [65]. Mặc
dù thời gian phục hồi các tổn thương mắt này kéo dài, nhưng thường là khỏi
hoàn toàn [40]. Người ta chưa biết liệu có thể xảy ra các biến chứng mắt khác
nữa không, nếu mức phơi nhiễm với paraquat là nghiêm trọng, ví dụ: giảm thị
lực đáng kể vì phù giác mạc hoặc giác mạc bị đục [65], biến chứng hẹp ống
dẫn lệ sau khi phơi nhiễm với paraquat cũng đã được báo cáo.
1.4.2.2. Gây độc toàn thân (hệ thống)
Mức độ gây độc toàn thân của paraquat phụ thuộc vào lượng thuốc mà
bệnh nhân đã uống [37]. Cũng đã từng có trường hợp ngộ độc toàn thân do
tiêm dưới da, tiêm vào ổ phúc mạc, và tiêm tĩnh mạch dung dịch paraquat
nhân phổ biến gây tử vong trong các trường hợp ngộ độc paraquat [32].
* Phổi: Hầu hết các bệnh nhân ngộ độc paraquat đều có triệu chứng ho,
có thể ho có đờm và có lẫn máu. Khó thở là đặc điểm nổi bật của biểu hiện
phổi ở các bệnh nhân đã uống một lượng lớn paraquat, và trong các trường
hợp này, khó thở là biểu hiện của hội chứng suy hô hấp cấp người lớn. Ở các
bệnh nhân mà ngộ độc paraquat nhẹ hơn, thì triệu chứng khó thở có thể
khởi phát muộn hơn và là biểu hiện của xơ phổi. Các trường hợp hiếm gặp
hơn là tràn khí màng phổi kết hợp với viêm trung thất, tràn dịch màng phổi
và phù phổi do thầy thuốc, các thương tổn này làm cho triệu chứng khó thở
càng nặng thêm.
17
Cộng thêm với các sự kiện là yếu tố chuyển vận khí và dung lượng sống
của phổi bị giảm, các bệnh nhân ngộ độc paraquat nặng còn có phân áp oxy
thấp và giảm dần, tạo thành tình trạng tím tái trung ương. Các biến đổi
xquang không phải bao giờ cũng song hành với các triệu chứng lâm sàng.
Hình ảnh xquang lồng ngực có thể bình thường, đặc biệt là ở các bệnh nhân tử
vong sớm do suy đa cơ quan. Xảy ra phổ biến hơn là hình ảnh thâm nhiễm
từng mảng, có thể từ đó tiến triển tới mờ toàn bộ một hoặc cả hai phế trường.
Các bệnh nhân ngộ độc paraquat sống sót, có thể còn lại di chứng là rối loạn
chức năng phổi thuộc týp hạn chế.
* Hệ thống tim mạch: Ngoại trừ dấu hiệu nhịp xoang nhanh, thường
không phát hiện thấy các biến chứng ở hệ tim mạch, cho tới khi ngộ độc tiến
tới pha cuối cùng. Nhịp nhanh nhất, rối loạn dẫn truyền nội - thất, và các biến
đổi sóng T không đặc hiệu trên điện tâm đồ có thể xuất hiện ở pha cuối cùng
này. Cũng có thể bất ngờ xảy ra nhịp tim chậm, tụt huyết áp, và ngừng tim.
Hình ảnh xquang lồng ngực cho thấy bóng mờ tim rất to, và khám nghiệm tử
thi cho thấy các dấu hiệu viêm cơ tim do độc chất [29], [56].
* Hệ thống thần kinh: Ở các bệnh nhân ngộ độc paraquat nặng, hôn mê
là sự kiện xảy ra cuối cùng và phổ biến, mặc dù đôi khi cũng có thể xuất hiện
một số dấu hiệu khác ví dụ như thất điều và liệt mặt nhẹ [74]. Đã có báo cáo
vào số lượng paraquat.
1.4.3.1. Ngộ độc nặng:
- Uống ion paraquat với số lượng lớn hơn 40mg/kg (>20ml) dẫn tới suy
đa phủ tạng tiến triển nhanh chóng, tử vong trong 2, 3 ngày đầu.
- Các triệu chứng sớm bao gồm tổn thương tại chỗ với đường tiêu hoá,
bao gồm cả thực quản. Lúc đầu bỏng miệng họng, hoại tử và bong niêm mạc
miệng, họng, viêm dạ dày ruột nặng với tổn thương thực quản, dạ dày. Bệnh
19
nhân nôn nhiều, đau bụng, chảy máu đường tiêu hoá cũng như các triệu chứng
toàn thân. Các biến chứng của giai đoạn sớm này gồm tràn khí màng tim, tràn
khí trung thất và tràn khí màng phổi.
- Hô hấp: khó thở, ho, suy hô hấp tiến triển.
- Tổn thương thận bao gồm hoại tử ống thận, cầu thận, xuất hiện rõ sau
24 giờ, biểu hiện protein niệu, tế bào và trụ, tăng urê, creatinin máu, thiểu
niệu, vô niệu. Trong một nghiên cứu, suy thận báo hiệu một tiên lượng xấu
95% (19/20) bệnh nhân có suy thận đã tử vong.
- Thượng thận/gan: giải phẫu bệnh thấy hoại tử vỏ thượng thận, tổn
thương gan biểu hiện sớm với tăng bilirubin, AST, ALT, suy gan.
- Tim mạch: điện tim thay đổi từ nhịp nhanh xoang đến các loạn nhịp
thất, suy tim.
- Thần kinh: Hôn mê, phù não, co giật, xuất huyết vỏ não, thân não.
- Máu: tăng bạch cầu, DIC. Giai đoạn sau, tuỷ xương bị ức chế biểu hiện
bằng thiếu máu, giảm tiểu cầu và giảm bạch cầu.
- Bệnh nhân bị hoại tử cơ lan rộng, hoặc suy tuỵ, có thể tử vong trong
thời gian tính bằng giờ tới tối đa là vài ngày, thường do sốc tim.
1.4.3.2. Ngộ độc trung bình:
- Uống paraquat với số lượng từ 20mg - 40mg/kg (10ml - 20ml) gây một
bệnh cảnh âm thầm hơn.
- Các triệu chứng tại chỗ da, niêm mạc tiến triển từ từ hơn.
- Phổi: Suy hô hấp tiến triển nặng dần. Lúc đầu, trong vòng vài ngày đầu
21
gây ngộ độc toàn thân. Mắt tiếp xúc với paraquat đậm đặc sẽ bị tổn thương ăn
mòn phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc và nồng độ.
- Ở California, cộng đồng dân cư tiếp xúc với môi trường bị ô nhiễm
paraquat đã biểu hiện rất nhiều- triệu chứng tại chỗ và một số triệu chứng
toàn thân, bao gồm ho, ỉa chảy, đau đầu, mệt mỏi, chảy nước mũi, chảy nước
mắt nhiều. Các triệu chứng này tăng đáng kể so với nhóm cộng đồng làm
chứng. Tiếp xúc trong nghề nghiệp do bất cẩn có thể gây kích ứng niêm mạc,
viêm kết mạc, giác mạc, chảy máu mũi và đau họng.
1.4.4. Cận lâm sàng
- Các xét nghiệm gián tiếp có thể giúp đánh giá bệnh nhân và tránh phải
tiến hành các biện pháp xâm nhập và không hiệu quả ở những bệnh nhân
không có hy vọng sống sót. Làm hàng loạt các xét nghiệm chức năng thận bao
gồm creatinin máu, urê máu, điện giải máu giúp đánh giá mức độ nặng và tiến
triển của tổn thương ống thận. Sự có mặt của hoại tử ống thận cấp là một dấu
hiệu xấu trong bệnh cảnh ngộ độc các thuốc trừ cỏ nhóm bipyridyl. Cần chụp
phim xquang phổi ban đầu cho tất cả các bệnh nhân ngộ độc paraquat để giúp
đánh giá, theo dõi sau này.
* Các phương pháp xét nghiệm paraquat
- Xét nghiệm độc chất nhanh: sự có mặt của cả paraquat và diquat có thể
được xác định nhanh chóng bằng xét nghiệm định tính nước tiểu có dùng
kiềm/natri dithionite. Xét nghiệm này được dùng chủ yếu để chẩn đoán loại
trừ tiếp xúc của bệnh nhân. Xét nghiệm này được tiến hành bằng cách thêm
10ml nước tiểu vào 2ml dung dịch natri dithionite 1% trong NaOH 1N. Khi
có màu xanh da trời xuất hiện cho thấy có paraquat trong khi diquat cho màu
xanh nõn chuối. Nguyên lý của xét nghiệm là thuốc trừ cỏ nhóm bipyridyl bị
khử thành gốc ion dương, gây nên sự thay đổi màu của nước tiểu. Thời gian
xét nghiệm chỉ tốn 5 phút. Với chức năng thận bình thường, xét nghiệm này
22
có thể phát hiện được paraquat trong nước tiểu trong 24 giờ, nếu suy thận, trong
/PO
2
.
24
RI = 713 x FiO
2
- PCO
2
[FiO
2
+ (1 - FiO
2
)/R] - PO
2
= A - DO
2
/PO
2
Thương số hô hấp R được cho là 0,8.
1.4.5. Chẩn đoán xác định
- Tiếp xúc với paraquat
- Tổn thương niêm mạc: miệng, họng, thực quản,…
- Nếu bệnh nhân đến trong vòng 24 giờ: xét nghiệm nhanh paraquat,
trong nước tiểu giúp khẳng định chẩn đoán.
1.4.6. Chẩn đoán phân biệt
Một bệnh nhân đến viện với bệnh sử uống BHs và có suy đa tạng thì
chẩn đoán không có gì quá khó khăn. Các trường hợp khó khăn là do vô tình,
tai nạn, mức độ nhỏ, đầu độc hoặc bệnh nhân cố tình che đậy.
- Ngộ độc Diquat: cũng là hóa chất diệt cỏ nhưng không gây xơ phổi,
liều tử vong ở người lớn 30-60ml dd 20%, triệu chứng chính là niêm mạc dạ