ĐỀ TÀI:
I)
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
QUA TIẾT ÔN TẬP HÌNH 9 (CHƢƠNG I)
II)
1) Sự cần thiết khách quan và tác dụng của việc vận dụng công nghệ thông tin trong
giảng dạy ôn tập hình học lớp 9.
Tiết ôn tập môn hình học luôn cần thiết cho giáo viên và học sinh qua mỗi chương
học. Nhưng sự chăm chỉ của học sinh yếu và trung bình môn toán chưa cao, do đó đến
tiết ôn tập học sinh đại trà cảm thấy luôn bị dồn tải lượng kiến thức. Việc hệ thống lý
thuyết chương bằng phương pháp bảng phấn chưa hấp dẫn học sinh; bài tập ôn tập
chương thường là các bài tổng hợp kiến thức, phong phú và đa dạng. Việc tư duy nhanh
khi hệ thống các kiến thức, vận dụng các định lý, kỹ năng tính toán, cách lập luận trong
chứng minh hình học của học sinh đại trà còn hạn chế; do đó học sinh chưa thấy thích
học tiết ôn tập và luôn cho đó là trở ngại lớn.
Thực hiện việc dạy học tích cực đòi hỏi người thầy phải rèn cho học sinh từng bước
nắm vững và vận dụng tốt kiến thức đã học, hình thành cho học sinh phương pháp tự học
tốt. Một trong những phương tiện để dạy tốt tiết ôn tập nhằm giúp học sinh nắm vững
chắc kiến thức và biết tư duy một cách độc lập là người thầy biết vận dụng công nghệ
thông tin qua bài giảng điện tử có hiệu quả.
- Tác dụng: bài giảng điện tử của tiết ôn tập đem lại sự lôi cuốn, hấp dẫn, giúp học
sinh tập trung học tập, giúp học sinh tự tái hiện được các kiến thức đã học qua kênh hình,
tâm của cả học kỳ. Thống kê chất lượng sau mỗi học kỳ cho thấy số điểm bài làm bộ
môn hình của học sinh khá giỏi vẫn còn khiếm khuyết, còn học sinh đại trà luôn cho bài
tập hình trong các đề kiểm tra là một trở ngại lớn.
3) Nguyên nhân:
Những tồn tại trong thực trạng vừa nêu trên do các nguyên nhân sau:
- Trong các tiết giảng dạy trên lớp, việc chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy về đặt
và giải quyết vấn đề của giáo viên chưa được thường xuyên. Khâu hướng dẫn học và làm
bài tập về nhà cho học sinh chưa được cụ thể, công việc cho học sinh làm về nhà để phục
vụ cho tiết học sau chỉ được giáo viên dặn dò sơ sài. Việc chuẩn bị bài mới hay bài tập về
nhà cho tiết ôn tập của đa số học sinh trung bình thường thiếu sót do việc nắm kiến thức
và vận dụng kiến thức vào giải bài tập ở học sinh còn sai sót, tính chịu khó khi làm bài
tập về nhà lại chưa cao. Giáo viên và phụ huynh chưa có thời gian để thường xuyên kiểm
tra hầu uốn nắn sai sót, chỉnh sửa tính cẩu thả của học sinh nên hứng thú học toán Hình
nhất là chuẩn bị bài cho tiết ôn tập thì đa số học sinh đại trà chuẩn bị chưa tốt.
- Một số học sinh ít chú ý đến việc sử dụng trang thiết bị hiện đại phục vụ học tập như
truy cập mạng tìm hiểu các kiến thức có liên quan đến môn học, hoặc tự tham gia các
chương trình vui học đang phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng hay trao
đổi thông tin học tập với nhau qua internet, mà phần đông học sinh chỉ thích sử dụng
sách giải.
Từ những tồn tại trên, tôi đã lên kế hoạch và tìm giải pháp để phát huy tính tích cực học
tập của học sinh qua bài giảng điện tử. Tôi đã tăng cường đổi mới phương pháp dạy học
qua đặt và giải quyết vấn đề trong giảng dạy hình học trên bài giảng điện tử và ghi nhận
được:
- Trong tiết học, với phương pháp đặt vấn đề trên các hình ảnh trình chiếu của giáo viên,
học sinh nắm được nhanh các yêu cầu của bài học, sự tập trung của học sinh vào vấn đề
cần giải quyết của một bài tập được học sinh lớp tham gia tích cực hơn.
- Việc rèn kỹ năng giải bài tập cho học sinh đại trà cũng như phát huy trí lực học sinh
giỏi có chuyển biến tốt. Thực tế giảng dạy cho thấy đa số học sinh biết vận dụng kiến
thức vừa hệ thống ở phần lý thuyết vào giải quyết vấn đề mà giáo viên nêu ra đạt mục
tiêu của tiết học.
đường cao trong tam giác vuông.
- Tiết 3: Luyện tập.
- Tiết 5: Tỉ số lượng giác của góc
nhọn.
- Tiết 11: Một số hệ thức về cạnh
và góc trong tam giác vuông.
- Tiết 13: Luyện tập
- Tiết 17 & 18: Ôn tập chương I. III) C
Mục tiêu giáo dục cấp Trung Học Cơ Sở trong giai đoạn mới:
Việc đổi mới phương pháp dạy học thực hiện đúng theo quyết định số 16/ 2006/
QĐ- BGD & ĐT ngày 5/ 5/ 2006: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện
của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”
Với giáo viên: Thực hiện đúng một trong các nhiệm vụ năm học là ứng dụng công
nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học: dạy học theo “phương pháp dạy học
tích cực” nhằm giúp học sinh hình thành được các năng lực: tự học, sáng tạo, hợp tác
theo nhóm, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập,
kỹ năng vận dụng kiến thức Toán vào đời sống và các môn học khác, hình thành được
nhận thức đúng ở học sinh: học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và
tương lai
Từ đó, học sinh tự hình thành hiểu biết, năng lực
và phẩm chất để hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đi vào cuộc
sống lao động với đầy đủ trách nhiệm người công dân mới tham gia xây dựng đất nước.
quan với nhau, chưa thật sự có cách học nhớ, khắc sâu kiến thức.
- Bài học, bài tập về nhà của học sinh đại trà vẫn còn vài tiết chưa chuẩn bị tốt, việc sử
dụng 15 phút truy bài đầu giờ để chép bài giải của bạn vẫn còn.
- Khi hoạt động nhóm với yêu cầu giải quyết vấn đề của giáo viên nêu ra, thường chỉ có
học sinh khá giỏi tham gia.
- Khả năng diễn đạt ngôn ngữ toán cho một sơ đồ phân tích ở một bài tập, hay hệ thống
kiến thức trên sơ đồ tư duy khi giáo viên đặt vấn đề cho lớp, đa số học sinh lúng túng,
cách ghi bài giải toán chưa chuẩn.
Tôi đã thống kê kết quả điểm kiểm tra một tiết chương I của năm học 2011- 2012
trước khi giáo viên chưa tăng cường giảng dạy đặt và giải quyết vấn đề có vận dụng ứng
dụng công nghệ thông tin cho thấy phần hạn chế:
2011-
2012
8.0
-> 10.0
6.5 ->
7.8
5.0
-> 6.3
3.5-> 4.8
2.0
-> 3.3
LƯỢNG
5
TỈ LỆ:
12,5 %
SỐ
LƯỢNG
3
TỈ LỆ:
7,5 %
SỐ
LƯỢNG
1
TỈ LỆ:
2,5 %
– Số
điểm đạt
từ 5 trở
lên 31/40
HS
chiếm
77,5 %
- Số
điểm
dưới 2:
vẫn còn
1 HS.
Phòng bộ môn và hỗ trợ đắc lực của phụ huynh
học sinh.
1) Biện pháp 1: Rèn
học sinh đổi mới
phương pháp học tập
qua các bài trong
chương I.
2) Biện pháp 2:
Tăng cường hoạt
động học của học
sinh qua vui học, hoạt
động nhóm.
MINH HOẠ CÁC BIỆN PHÁP:
1) Biện pháp 1: Đầu tƣ soạn giảng, đổi mới việc thiết kế bài soạn qua các phần mềm
tin học.
Đầu tư soạn giảng đổi mới thiết kế bài soạn là khâu quan trọng cho việc đổi mới tư
duy trong cách học của học sinh. Tôi đã đầu tư bài soạn, lên phương án thiết kế bài mới,
phần nào cần vận dụng tin học, đơn vị kiến thức nào cần rèn luyện kỹ năng cho học sinh.
Ví dụ khi dạy ôn tập chương, tôi đã thiết kế bài soạn: ôn tập lý thuyết theo sơ đồ tư duy
trên phần mềm iMindMaps 6.0 kết hợp Powerpoint, phần bài tập: cho học sinh nắm yêu
cầu bài, giáo viên giúp học sinh định hướng giải quyết theo sơ đồ tư duy, từ sơ đồ cho
học sinh hoạt động nhóm hay luyện ngôn ngữ giải toán đồng thời rèn kỹ năng giải bài tập
cho học sinh qua từng bước trình bày bài làm. Ví dụ ôn tập lý thuyết tôi đã tiến hành:
Kến thức phần lý thuyết hệ thức lượng trong
tam giác vuông được giáo viên hướng dẫn
học sinh tự hệ thống các đơn vị kiến thức
xét và hoàn chỉnh nội
dung lý thuyết cần ôn.
(Xin xem thêm minh họa trong dĩa mềm tiết 17: ôn tập chương)
Hay bài tập cần rèn kỹ năng, trên Powerpoint tôi đã xây dựng nội dung:
- GV lần lượt trình chiếu
các hình ảnh, cho học sinh
quan sát rồi từng bước gợi
ý để học sinh biết tự hình
thành đề bài toán.
?ABM
Vì sao?
- Tìm cạnh MK ta vận dụng kiến
thức nào?
Trên sơ đồ tƣ duy, về lý thuyết: học sinh tự hệ thống đƣợc các kiến thức cần học, giáo
viên kiểm tra đƣợc việc nắm kiến thức cũ của học sinh với thời gian nhanh nhất. Phần
bài tập: Với từng hình ảnh động trên màn hình, học sinh biết tƣ duy xây dựng đƣợc
bài tập mới, giáo viên giúp học sinh động não liên hệ các kiến thức đã học, sáng tạo
trong nếp nghĩ, biết lập sơ đồ minh họa các bƣớc giải qua các hình ảnh trình chiếu
cùng câu hỏi gợi ý của giáo viên và từ sơ đồ: học sinh tự trình bày bài, biết nhận xét
lẫn nhau khi giải quyết vấn đề của bài tập. Việc tự xây dựng đƣợc đề bài tập và biết
vạch hƣớng cụ thể giải quyết bài toán là một việc cần thiết trong ôn tập và rèn kỹ năng
cho học sinh, nhất là phát huy đội ngũ học sinh khá giỏi. Điều này giúp học sinh biết
tƣ duy khoa học và sáng tạo trong nếp nghĩ, làm cơ sở cho nề nếp tự học, xây dựng
đƣợc sự tự tin khi giải quyết mỗi yêu cầu bài toán.
(Xin tham khảo thêm bài ôn tập tiết 17 & 18 trên powerpoint trong phần phụ lục trên
word và trong dĩa mềm).
2) Biện pháp 2: Chú trọng khâu chuẩn bị bài học, rèn phƣơng pháp tự học cho học
sinh ở nhà đồng thời tổ chức cho học sinh tăng cƣờng các hoạt động học ở lớp.
Khâu chuẩn bị bài của học sinh luôn đem lại chất lượng cho mỗi tiết học, nhất là
tiết ôn tập. Với cách đặt vấn đề của giáo viên qua sơ đồ tư duy, học sinh biết tự hệ thống
lại kiến thức trọng tâm trong chương đã học, tự củng cố lại phần lý thuyết với thời gian ít
nhất, đồng thời giúp giáo viên ôn luyện được nhiều dạng bài tập, sự tương tác giữa trò
với trò; thầy với trò luôn đạt mục tiêu bài học. Tôi đã rèn phương pháp tự học ở nhà cho
học sinh qua khâu hướng dẫn bài tập về nhà vào cuối mỗi tiết học.
Ví dụ: khi dạy tiết ôn tập 17 & 18, trong tiết dạy 16 tôi đã hướng dẫn về nhà cho
học sinh tự học phần lý thuyết của chương, sau đó đến lớp hướng dẫn học sinh tự hệ
thống phần lý thuyết qua sơ đồ tư duy:
- Các tỉ số lượng giác của
góc nhọn trong tam giác
vuông gồm các đại lượng
nào? Hãy nêu định nghĩa
từng đại lượng đó?
- Tỉ số lượng giác trong tam
giác vuông còn có tính chất
gì?
- Vận dụng tỉ số lượng giác
trong các bài tập ta cần nhớ
các công thức nào?
- Các tỉ số lượng giác này
giúp ta giải quyết những vấn
đề nào trong bài tập?
Phương pháp tương tự cho
hệ thức giữa cạnh và góc
- Sơ đồ tƣ duy giúp học sinh tự thu
thập, sắp xếp các kiến thức cùng các
mối liên hệ giữa định nghĩa và tính
chất, các công thức về hệ thức lƣợng
trong tam giác vuông một cách khoa
học hơn, biết phát biếu thành lời các
công thức một cách trôi chảy, học sinh
có đƣợc cách học nhớ lâu của từng đơn
vị kiến thức trong chƣơng, tự học sinh
rèn cho mình cách học nhớ và hiểu.
- Sơ đồ tƣ duy giúp giáo viên tóm tắt nội
dung ôn tập từng chủ đề kiến thức
trong chƣơng, các mối liên hệ của nội
được phát triển.
- Phần đông học
sinh đều có thông
tin phản hồi lại giáo
viên khi tham gia
làm bài tập trên
mạng. Mọi thắc mắc
của học sinh đều
được giải đáp, học
sinh luôn có tự tin
trong học tập. Học
sinh khá giỏi dần có
thói quen tự học, tự
trao đổi thông tin
kiến thức qua tham
khảo bài trên
Internet. Kỹ năng
giao tiếp của học
sinh được dần hoàn
thiện, Thầy và Trò
luôn có niềm vui
trong giảng dạy và
học tập.
Để tăng cường các hoạt động học của học sinh tại lớp, tôi đã trình chiếu nội dung
câu hỏi trắc nghiệm rồi rèn kỹ năng giải bài tập trên bảng con của mỗi học sinh: qua đó
tôi đã đánh giá được việc nắm bài học đồng thời luyện ngôn ngữ toán học cho học sinh
trong thời gian ít nhất, sự tương tác của học sinh luôn làm không khí học tập sôi nổi.
- Gv trình chiếu nội dung câu hỏi
giá kỹ năng tính toán của học sinh qua các bài tập trắc nghiệm khách quan cũng được
thường xuyên đổi mới. Tôi đã hướng dẫn học sinh tự đánh giá lẫn nhau bằng hình thức
kiểm tra chéo bài làm tự luận lẫn nhau có cộng điểm tốt. Ví dụ:
- Nhóm 1 quan sát hình ảnh trình
chiếu, nắm yêu cầu đề, tự thảo luận
- Phương pháp tương tự cho nhóm
để giải bài tập, đại diện nhóm lên
bảng trình bày bài, học sinh lớp
nhận xét
2 * Hiệu quả:
Học sinh tự tƣ duy lại kiến thức, vận dụng giải bài tập với các nội dung kiểm tra
khác nhau làm học sinh phải tự thân vận động, phát huy đƣợc tính độc lập trong hoạt
động nhóm, đƣợc cùng nhau đối thoại đa số học sinh tập trung, nắm chắc bài học.
Học sinh khá giỏi phát huy tốt vai trò trƣởng nhóm, học sinh đại trà cũng dần tự hình
thành tính vƣợt khó, có tự tin hơn trong học tập.
*Biện pháp 4: Kết hợp tốt sự quan tâm và hỗ trợ tối đa của tổ chuyên môn, của Ban
giám hiệu, Phòng bộ môn, Phụ huynh học sinh.
Với biện pháp này, ngay từ đầu năm, theo kế hoạch tôi đã tham mưu tốt với Hiệu
phó chuyên môn, thực hiện tốt việc thực tập giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp, cùng nhau
trao đổi các hình thức và phương pháp giảng dạy mới qua việc tiếp cận và triển khai các
chuyên đề của Phòng Giáo Dục & Đào Tạo thành phố Tam Kỳ đã chỉ đạo trong thực hiện
nhiệm vụ năm học.
Ví dụ: Hệ thức giữa cạnh và góc là một đơn vị kiến thức mà bài tập thường mang tính
thực tế, nhưng học sinh đại trà ít tư duy trừu tượng, thường cho là loại bài tập khó. Để rèn
kỹ năng giải bài tập cho học sinh, tôi đã đổi mới hình thức và thống nhất định hướng cách
giải: đưa nội dung bài với phương pháp qui lạ về quen trên các hình vẽ, rồi hướng dẫn
H
B
C
- Giáo viên hướng dẫn học sinh định
hướng cách giải bài tập qua sơ đồ tư
duy.
- Yêu cầu học sinh trình bày lại các
bước làm và gọi học sinh lên bảng ghi
bài làm.
- Cho học sinh lớp nhận xét, chốt kiến
thức vận dụng
*Hiệu quả:
Từ hình ảnh trực quan với
câu hỏi dẫn dắt của giáo viên,
học sinh biết định hƣớng
cách giải quyết bài toán qua
sơ đồ tƣ duy, từ đó học sinh
biết cách trình bày bài giải
của mình, hình thành đƣợc
cách ghi bài đúng, học sinh
biết vận dụng kiến thức đã
học vào bài tập, kiến thức
trọng tâm đƣợc ghi nhớ, học
sinh không còn sợ các bài tập
có tính thực tế nhƣ trƣớc.
(Xin xem minh họa trong phụ
lục tiết ôn tập chương ở dĩa
mềm)
Định hƣớng cách giải:
6,31cm
Độ dài BC
Tỉ số
AC
BC5,21 cm
6,52 cm
8,11 cm
11,90 cm
- GV gợi ý: dùng máy tính casio, tính tỉ số
AC
BC
rồi điền kết quả vào các ô trống từ đó nêu
nhận xét.
- Học sinh nhận xét được: khi độ dài các cạnh tăng, tỉ số giữa hai độ dài cạnh AC và BC
đều bằng 0,53 là một số không đổi.
- Giáo viên trình chiếu tiếp hình ảnh trên Sketchpad: giới thiệu cạnh huyền BC và độ dài
AC là cạnh đối của góc B trong tam giác vuông ABC, giáo viên cho học sinh quan sát
điểm C di chuyển chậm trên tia BM đồng thời nắm bắt sự thay đổi độ dài của hai cạnh,
từ đó học sinh thấy được: khi độ lớn cạnh đối của một góc nhọn và cạnh huyền trong tam
giác vuông thay đổi thì tỉ số giữa chúng vẫn là một số không đổi.
m
BG
=
0.53
GH
=
6.67
cm
BG
=
12.63
cm
m
JK
m
BJ
=
0.53
JK
=
9.80
cm
BJ
=
18.57
cm
EL
=
2.75
cm
G
K
E
T
B
L
H
D
C
- Từ đó giáo viên giới thiệu khái niệm tỉ số lượng giác của một góc nhọn trong tam giác
vuông, giới thiệu tiếp: đại diện cho tỉ số đó mà chúng ta vừa tính gọi là sin góc B, kí hiệu
là sin B.
- Tương tự, giáo viên trình chiếu trên bảng kê độ dài cạnh AB (hàng tiếp theo) với số
liệu tăng dần, cho học sinh hoạt động nhóm tính các tỉ số còn lại (kề- huyền, đối- kề; kề-
đối) để hình thành các tỉ số lượng giác của góc nhọn B. Sau khi học sinh nắm định nghĩa
tỉ số lượng giác của góc nhọn trong tam giác vuông, giáo viên trình chiếu tiếp sự tăng
C
A
B
giảm kích thước đồng thời tăng giảm độ lớn góc (qua chuyển động của điểm C) để học
sinh được ghi nhớ tỉ số lượng giác qua quan sát các số liệu
AB
=
3,57
cm
=
0,61
m
CBA
=
37,85
°
TSLG GOC B
Cot B =
tan B =
Cos B =
sin B =
Gim nh gc
Tăng độ lớn góc
Tăng kích thước
Gim kch thưc
A
B
C
Tiếp theo giáo viên trình chiếu khung sơ đồ tư duy, cho học sinh tự củng cố lại định
nghĩa tỉ số lượng giác bằng hoạt động luyện nói cho mỗi học sinh.
Và củng cố kiến thức vừa học bằng bài tập trắc nghiệm: Giáo viên trình chiếu hình ảnh và
nêu yêu cầu công việc
Mỗi học sinh tự làm trên bảng con.
45B
,
0
30C
. Tính diện tích
ABC
.
Nội dung đặt vấn đề cho bài
mới
Hoạt động của giáo viên và học sinh
H
B
C
A
- Học sinh nắm yêu cầu bài
toán và hiểu được: tìm diện tích
ABC
bằng kiến thức mới trong
tiết học.
- GV: Công thức tính diện tích tam
giác là gì?(HS:
1
.
2
S a h
với a: đáy,
h:chiều cao)
- Vậy ta cần làm gì? (HS: vẽ thêm
luyện giải trên sơ đồ tƣ duy: số lƣợng giải bài tập củng cố kiến thức cho học sinh
thƣờng là hai bài tập.
Năm học này, khi vận dụng phƣơng pháp giảng dạy: đặt và giải quyết vấn đề với
các biện pháp trên, học sinh luôn đƣợc tăng cƣờng các hoạt động học, đƣợc thực
hành nhiều hơn, học sinh nắm chắc kiến thức và có sự chuyển biến rõ nét trong cách
học ở lớp cũng nhƣ tự học ở nhà.
2) Biện pháp 2:
Tăng cƣờng hoạt động học của học sinh qua vui học, hoạt động nhóm.
Khi không giảng dạy bằng bài giảng điện tử, tôi đã tận dụng các tiết dạy phụ đạo
(trong thời khóa biểu chính khóa), hay hướng dẫn học sinh trong sinh hoạt 15 phút đầu
giờ truy bài để tăng cường thêm các hoạt động học của học sinh như: cho học sinh giải
bài tập bằng cách lập và trình bày cách giải bài toán qua sơ đồ phân tích đi lên hay tổ
chức cho học sinh tham gia vui học. Ví dụ: trò chơi đối mặt với hỏi đáp nhanh có thưởng
(điểm tốt).
Phân chia học sinh lớp thành hai nhóm. Mời đại diện hai nhóm lên tham gia trò
chơi đối mặt, khi học sinh đại diện nhóm không trả lời được thì các bạn trong nhóm mình
được quyền trả lời, tất cả học sinh trong nhóm không trả lời được, nhóm đó bị loại. Minh
họa:
- Giáo viên: Với từ H gắn với tam giác vuông; nhóm I có mấy đáp án? Còn nhóm hai
có đáp án nhiều hơn không?
- Học sinh nêu được các đáp án: Hệ thức giữa cạnh và đường cao trong tam giác vuông;
hệ thức giữa cạnh và góc trong tam giác vuông; hệ thức liên quan về tỉ số lượng giác hai
góc phụ nhau.
- Giáo viên: Các nhóm hãy ghi các công thức của nhóm mình lên bảng? Rồi cho học sinh:
từ các công thức đó phát biểu thành lời. Nhóm nào hoàn thành số lượng nhiều nhất với
thời gian ít nhất là thắng.
V
Khi tăng cường giảng dạy bằng phương pháp đặt và giải quyết vấn đề có ứng dụng
công nghệ thông tin, tôi ghi nhận:
-> 6.3
3.5->
4.8
2.0
->3.3
0.0
->1.8
So sánh
19
Bài
kiểm
tra tiết
19
học kỳ
I năm
2012-
2013
(Lớp
SỐ
LƯỢ
NG:
6
SỐ
LƯỢ
NG:
0
TỈ
LỆ:
- Tỉ lệ
điểm khá
giỏi bài
kiểm tra
tiết 19 kỳ I
năm học
2012 -
2013 cao
hơn điểm