Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho đội ngũ cán bộ khuyến nông huyện Bảo Thắng - Lào Cai - Pdf 26

PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau công cuộc thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và
Nhà nước, nền nông nghiệp nước ta đã có những bước phát triển nhanh, đạt
nhiều thành tựu to lớn. Từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự
cấp, quy mô nhỏ, Việt Nam đã vươn lên để từng bước trở thành một nước có
nền nông nghiệp hàng hoá, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và có tỷ suất
hàng hoá ngày càng lớn, có vị thế đáng kể trong khu vực và thế giới. Nước ta
đã đứng thứ nhất về xuất khẩu hạt tiêu; đứng thứ hai về xuất khẩu gạo, cà phê,
hạt điều; đứng thứ tư về xuất khẩu cao su và đứng thứ sáu về xuất khẩu chè.
Ngoài ra Việt Nam còn xuất khẩu nhiều loại nông sản có giá trị khác như hoa,
quả, rau, thịt lợn.
Đồng hành cùng người nông dân để chia sẻ những thuận lợi, khó khăn trên
con đường hướng tới phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững là
những cán bộ, nhân viên, tình nguyện viên hệ thống Khuyến nông Việt Nam.
Trải qua trên 17 năm hoạt động, kể từ ngày 02/3/1993, khi Chính phủ ban
hành Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông, hệ thống khuyến nông Việt
Nam đã được hình thành, củng cố và ngày càng phát triển một cách toàn diện.
Khuyến nông khuyến ngư đã tích cực chuyển giao những TBKHKT và công
nghệ mới, đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ kỹ thuật, canh tác cho nông
dân, chuyển tải kịp thời mọi chủ trương, đường lối, chính sách phát triển sản
xuất nông lâm ngư nghiệp của Đảng và Nhà nước… Khuyến nông Việt Nam
thực sự đã góp phần tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ về năng suất, chất lượng
sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, đóng vai trò
quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo và sự nghiệp phát triển nông
nghiệp, nông thôn, nông dân.
1
1
Tuy vậy, sau hơn 12 năm thực hiện Nghị định 13/CP, công tác khuyến
nông đã gặp không ít khó khăn, vướng mắc, chưa đáp ứng được nhu cầu đòi

có giải pháp gì giúp họ nâng cao hiệu quả hoạt động của mình hay không?
Xuất phát từ thực tiễn trên và được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Ban chủ nhiệm khoa Khuyến Nông &
PTNT, cùng với sự giúp đỡ của các cán bộ Phòng Nông nghiệp & PTNT
huyện Bảo Thắng - Lào Cai, Trạm khuyến nông huyện Bảo Thắng, Thầy giáo
TS. Bùi Đình Hòa, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng
và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho đội ngũ cán
bộ khuyến nông huyện Bảo Thắng - Lào Cai”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng hoạt động và vai trò của đội ngũ CBKN tại huyện
Bảo Thắng - Lào Cai, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động cho đội ngũ CBKN tại huyện Bảo Thắng - Lào Cai.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá lại những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động khuyến nông.
- Đánh giá được cơ cấu tổ chức và thực trạng hoạt động của đội ngũ
CBKN huyện Bảo Thắng - Lào Cai.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho đội ngũ
CBKN tại huyện Bảo Thắng - Lào Cai.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng
dụng kiến thức đó vào thực tiễn.
- Rèn luyện các kỹ năng thu thập xử lý số liệu, viết báo cáo.
3
3
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đánh giá một cách tổng quát thực trạng hoạt động và vai trò của đội ngũ các CBKN
tại huyện Bảo Thắng, do đó có thể làm tài liệu tham khảo cho Trạm Khuyến nông, Phòng NN
& PTNT huyện Bảo Thắng trong việc rà soát bố trí lại đội ngũ CBKN trên địa bàn huyện và
làm tài liệu cho các khoá học tiếp theo.

5
Khuyến nông hiểu theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là một tiến trình giáo
dục không chính thức mà đối tượng của nó là nông dân. Tiến trình này đem
đến cho nông dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giải
quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống. Khuyến nông hỗ
trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không
ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ [3].
2.1.2. Mục tiêu của khuyến nông
Mục tiêu của khuyến nông là làm thay đổi cách đánh giá, cách nhận thức của nông dân
trước những khó khăn trong cuộc sống. Khuyến nông không chỉ nhằm những mục tiêu phát
triển kinh tế mà còn hướng tới sự phát triển toàn diện của bản thân người nông dân và nâng
cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn.
Mục tiêu tổng quát của khuyến nông Việt Nam là thúc đẩy và hỗ trợ sản
xuất, nâng cao đời sống nhân dân nhằm đáp ứng nhu cầu của quốc gia và địa
phương trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và PTNT, đồng thời bảo tồn
được các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái.
Một số hoạt động mà khuyến nông có thể tiến hành để thực hiện các mục tiêu:
- Cùng nhau chia sẻ những kiến thức bản địa cũng như các thông tin KHKT tiên tiến.
- Tăng cường mối quan hệ, kết nối giữa các cá nhân và cộng đồng.
- Tăng cường năng lực của các cá nhân và các nhóm hộ nông dân thông
qua sự giáo dục bán chính thức.
- Thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức khuyến nông và PTNT nhằm phục vụ cho việc
quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên đất, rừng và tiếp cận thị trường.
- Lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, theo dõi và đánh giá của các cộng
đồng dựa vào nhu cầu của người dân.
Quan điểm về mục tiêu của công tác khuyến nông hiện nay có 2 xu
hướng như ở bảng dưới đây:
6
6
Bảng 2.1: Những quan điểm khác nhau về mục tiêu của hoạt động khuyến nông

dục
Chính
sách
Tài
chính
Công
nghệ
Thị
trường
Tín
dụng
lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến,… và sản xuất nông nghiệp
chiếm 37 - 40% giá trị sản phẩm xã hội [3].
Mặc dù nông nghiệp và nông thôn có vai trò quan trọng trong quá trình
xây dựng và phát triển đất nước nhưng hiện nay ở nhiều vùng nông thôn, mức
sống và trình độ dân trí còn rất thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ sản xuất
lạc hậu. Đây là những thách thức rất lớn và khuyến nông được coi là một
trong những con đường góp phần giải quyết những thách thức đó.
Thông qua các hoạt động khuyến nông, nông dân và những người bên
ngoài cộng đồng có cơ hội trao đổi thông tin, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm
lẫn nhau để phát triển sản xuất và nâng cao đời sống kinh tế xã hội. Đặc biệt
khuyến nông còn tạo ra cơ hội cho nông dân trong cộng đồng cùng chia sẻ,
học hỏi kinh nghiệm, truyền bá thông tin kiến thức và giúp đỡ nhau cùng phát triển.
Ngày nay, công tác khuyến nông khuyến lâm trở nên không thể thiếu
được ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương và từng hộ nông dân. Toàn bộ những cố
gắng phát triển kinh tế xã hội sẽ bị hạn chế nếu thiếu một nền sản xuất nông
nghiệp tăng trưởng bền vững. Vì vậy công tác khuyến nông cần phải được
tăng cường củng cố và phát triển.
2.1.3.2. Vai trò trong chuyển giao công nghệ
Hình 2.2: Mối quan hệ giữa việc nghiên cứu với nông dân

- Trao đổi, truyền bá thông tin: bao gồm việc xử lý, lựa chọn các thông
tin cần thiết, phù hợp từ các nguồn khác nhau để phổ biến cho nông dân giúp
họ cùng nhau chia sẻ và học tập.
- Giúp nông dân giải quyết các vấn đề khó khăn tại địa phương: tạo điều kiện giúp họ
có thể phát hiện, nhận biết và có thể phân tích được các vấn đề khó khăn trong sản xuất, đời
sống và bàn bạc cùng nông dân tìm biện pháp giải quyết.
- Giám sát và đánh giá hoạt động khuyến nông: Dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra đánh giá và dân hưởng lợi.
9
9
- Phối hợp với nông dân tổ chức các thử nghiệm phát triển kỹ thuật mới,
hoặc thử nghiệm kiểm tra tính phù hợp của kết quả nghiên cứu trên hiện
trường, từ đó làm cơ sở cho việc khuyến khích lan rộng.
- Hỗ trợ nông dân về kinh nghiệm quản lý kinh tế hộ gia đình, phát triển
sản xuất quy mô trang trại.
- Tìm kiếm và cung cấp cho nông dân các thông tin về giá cả, thị trường
tiêu thụ sản phẩm.
2.1.5. Một số nguyên tắc của khuyến nông
- Khuyến nông làm cùng dân, không làm thay cho dân
- Khuyến nông không bao cấp
- Khuyến nông là một công việc đầy trách nhiệm
Một mặt, khuyến nông chịu trách nhiệm trước nhà nước là cơ quan quyết định những
chính sách phát triển nông thôn cho nên phải tuân theo đường lối và chính sách của Nhà
nước trong khi thực thi nhiệm vụ. Mặt khác, khuyến nông là đầy tớ của nông dân, có trách
nhiệm đáp ứng nhu cầu của nông dân trong vùng.
- Khuyến nông là nhịp cầu thông tin hai chiều
Hình 2.3: Nhịp cầu thông tin giữa cơ quan nghiên cứu và nông dân
2.1.6. Nội dung hoạt động của Khuyến nông
Theo Nghị định 02 của Chính Phủ về khuyến nông, khuyến ngư, nội dung
hoạt động khuyến nông, khuyến ngư gồm [9]:

4. Tổ chức triển khai
a) Việc đào tạo nông dân và đào tạo người hoạt động khuyến nông do các
tổ chức khuyến nông quy định tại điểm b khoản 2 Điều 1 Nghị định này đảm trách.
b) Giảng viên nòng cốt là các chuyên gia, cán bộ khuyến nông có trình
độ đại học trở lên, các nông dân giỏi, các cá nhân điển hình tiên tiến, có nhiều
kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh, có đóng góp, cống hiến cho xã hội,
cộng đồng, đã qua đào tạo về kỹ năng khuyến nông.
Điều 5: Thông tin tuyên truyền
11
11
1. Phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
thông qua hệ thống truyền thông đại chúng và các tổ chức chính trị xã hội.
2. Phổ biến tiến bộ khoa học và công nghệ, các điển hình tiên tiến trong
sản xuất, kinh doanh thông qua hệ thống truyền thông đại chúng, tạp chí
khuyến nông, tài liệu khuyến nông, hội nghị, hội thảo, hội thi, hội chợ, triển
lãm, diễn đàn và các hình thức thông tin tuyên truyền khác, xuất bản và phát
hành ấn phẩm khuyến nông.
3. Xây dựng và quản lý dữ liệu thông tin của hệ thống thông tin khuyến nông.
Điều 6: Trình diễn và nhân rộng mô hình
1. Xây dựng các mô hình trình diễn về tiến bộ khoa học và công nghệ
phù hợp với từng địa phương, nhu cầu của người sản xuất và định hướng của
ngành, các mô hình thực hành sản xuất tốt gắn với tiêu thụ sản phẩm.
2. Xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.
3. Xây dựng mô hình tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh nông nghiệp
hiệu quả và bền vững.
4. Chuyển giao kết quả khoa học và công nghệ từ các mô hình trình diễn,
điển hình sản xuất tiên tiến ra diện rộng.
Điều 7: Tư vấn và dịch vụ khuyến nông
1. Tư vấn và dịch vụ trong các lĩnh vực quy định tại khoản 1 Điều 1
Nghị định này về:

nông thôn” của Enstienne và Liebault nghiên cứu về kinh tế nông thôn và khoa học nông
nghiệp. Tác phẩm diễn trường nông nghiệp của Oliver de Serres đề cập tới nhiều vấn đề trong
nông nghiệp như cải tiến giống cây trồng vật nuôi [3].
Thế kỷ 18, cụm từ Phổ cập nông nghiệp (Vulgazigation Agricole), hoặc
chuyển giao kỹ thuật đến người nông dân (Transfert des Technologies
Agrcoles au Payan) được sử dụng phổ biến [3].
13
13
Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) đến nay.
Trung tâm CETA (Centre d’Etuder Techniques Agricoles) nghiên cứu kỹ
thuật nông nghiệp đầu tiên được tổ chức do sáng kiến của nông dân vùng Pari
hoạt động với nguyên tắc:
- Người nông dân có trách nhiệm và chủ động trong công việc
- Sáng kiến từ cơ sở
- Hoạt động nhóm rất quan trọng
2.2.1.2. Mỹ
Năm 1845 tại Ohio, N.S.Townshned chủ nhiệm khoa Nông học đề xuất
việc tổ chức những câu lạc bộ nông dân tại các quận, huyện và sinh hoạt định
kỳ. Đây là tiền thân của khuyến nông Mỹ.
Năm 1891 Bang New York dành 10.000 USD cho khuyến nông đại học.
Năm 1892 Trường đại học Chicago, trường Wicosin bắt đầu tổ chức
chương trình khuyến nông đại học.
Năm 1907, có 42 trường đại học trong 39 Bang đã thực hiện công tác
Khuyến nông
Năm 1910, có 35 trường Đại học đã có Bộ môn khuyến nông
Năm 1914 tổ chức khuyến nông được hình thành chính thức ở Mỹ, có
1861 hội nông dân với 3.050.150 hội viên
Thuật ngữ Extension Education đã được sử dụng để chứng tỏ rằng đối
tượng giáo dục của trường đại học không nên chỉ hạn chế ở những sinh viên
do nhà trường quản lý, mà nên mở rộng tới những người đang sống ở khắp

đường phố kiếm việc làm vì thu nhập từ nông nghiệp quá ít do chất lượng
nông sản thấp [3].
Từ năm 1995 trở đi, Trung Quốc áp dụng chính sách hỗ trợ nông nghiệp
sản xuất sản phẩm chất lượng cao. Các chương trình khuyến nông chuyển
15
15
giao giống cây trồng, lúa lai chất lượng cao, sản xuất đỗ tương xuất khẩu kết
hợp cải tạo đất; dự án sản xuất giống vật nuôi, nâng cao sản lượng sữa được
tập trung góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cho nông dân.
Cơ sở hạ tầng nông thôn được đầu tư xây dựng, góp phần đẩy mạnh tiêu thụ
nông sản thông qua chương trình khuyến nông quốc gia, giống mới cung cấp
cho nông dân gần như cho không, hàng loạt các hoạt động tập huấn, mô
hình trình diễn được tổ chức giúp người nông dân nắm bắt được những kỹ
thuật mới. Nhờ những chính sách đúng đắn của Nhà nước và hoạt động
hiệu quả của khuyến nông, nông nghiệp Trung Quốc đã đạt được kết quả
không ngờ sau vài năm thực hiện.
Từng bước Khuyến nông trên khắp các vùng miền của Trung Quốc đã
giúp nông dân hiểu được vai trò, trách nhiệm của họ dưới sự phát triển chung
của nông nghiệp. Các Khuyến nông viên giúp nông dân nâng cao trình độ
canh tác, giúp họ hiểu được phải làm gì, làm khi nào và làm như thế nào?
Cùng họ nghiên cứu ngay trên mảnh ruộng của mình để chính họ trở thành
những chủ nhân - chuyên gia kỹ thuật viên [3].
Hai mươi năm gần đây Nhà nước Trung Quốc đã đầu tư đồng bộ cả về
hệ thống tổ chức, cơ sở thiết bị nghiên cứu cho khuyến nông, nhờ vậy điều
kiện sống của khuyến nông viên được nâng cao.
Cuối năm 1997, trên toàn đất nước Trung Quốc đã có hơn 48.500 tổ
chức khuyến nông với hơn 317.000 khuyến nông viên (từ Trung ương tới
tỉnh, huyện, xã, làng bản); khuyến nông viên phối hợp hoạt động cũng khoảng
400.000 tổ chức nông dân là kỹ thuật viên. Hiện nay khuyến nông Trung
Quốc đã là một hệ thống hoàn thiện trên quy mô cả nước sau nhiều năm

hóa đã được phục hồi, sản xuất phát triển [3].
17
17
Đến thời kỳ nhà Nguyễn (1807 - 1884) đã định ra chức đinh điền sứ.
Nguyễn Công Trứ được giao chức vụ này. Ông đã có công khai khẩn đất hoang
để lập ra hai huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình) và Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình) [3].
Như vậy trong thời kỳ phong kiến ở nước ta các vị vua không những
quan tâm tới việc đánh đuổi giặc ngoại xâm xâm lược bảo vệ tổ quốc mà còn
chú trọng tới việc phát triển sản xuất nông nghiệp, củng cố đê điều để xây
dựng đất nước, tạo cho nhân dân một cuộc sông ấm no [3].
Thời kỳ pháp thuộc (1884 - 1945) phát triển nông nghiệp và khuyến nông
chủ yếu phục vụ chính sách thuộc địa phong kiến của thực dân pháp. Người
Pháp tổ chức các Sở canh nông ở Bắc Kỳ, các Ty khuyến nông ở các tỉnh [3].
Từ sau cách mạng tháng 8/1945 – 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt
quan tâm tới nông nghiệp, người kêu gọi quốc dân “tăng gia sản xuất! tăng
gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa! đó là những việc cấp bách của chúng
ta lúc này”. Nghe theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, toàn dân bắt tay vào khôi
phục kinh tế, phát triển sản xuất [3].
Từ năm 1958 - 1975 nông nghiệp Miền Bắc Việt Nam phát triển trong
sự tác động mạnh mẽ của mô hình HTX nông nghiệp. Từ đổi công (1956),
đến HTX bậc thấp năm 1960, đến HTX cấp cao (1968), đến HTX toàn xã
năm 1974. Thành lập các đoàn cán bộ nông nghiệp ở Trung ương, cấp tỉnh,
huyện chỉ đạo sản xuất ở cơ sở. Giai đoạn 1976 – 1988 nông nghiệp Việt
Nam thống nhất thành một mối hai miền cùng tăng gia phát triển sản xuất.
Song diễn biến tình hình có nhiều phức tạp, do sự tác động của quan hệ sản
xuất tập thể và mô hình quản lý tập chung, kế hoạch hóa tập chung. Nhiều
thiếu sót đã nảy sinh trong quản lý kinh tế và quản lý nông nghiệp, đã làm cho
nông nghiệp phát triển chậm lại đời sống nông thôn nảy sinh nhiều vướng
mắc, nông dân không yên tâm sản xuất và sinh sống [3].
18

Tới ngày 08/01/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ-CP
về khuyến nông để sửa đổi, bổ sung một số nội dung thay thế cho nghị định
56CP/2005/CP. Cụ thể các nội dung, công tác tổ chức khuyến nông, chính
sách đối với khuyến nông.
2.2.2.2. Một số kết quả đạt được của hoạt động khuyến nông Việt Nam
trong giai đoạn 1993 - 2008
a) Xây dựng các mô hình trình diễn
Trong giai đoạn 1993 - 2008, khuyến nông Việt Nam đã xây dựng được rất nhiều mô
hình trình diễn. Dưới đây là một số chương trình có hiệu quả rõ rệt nhất:
* Chương trình khuyến nông sản xuất hạt giống lúa lai F1:
Sau 15 năm, khuyến nông đã đào tạo, hướng dẫn, chuyển giao công nghệ
sản xuất hạt lai thông qua mô hình cho nông dân ở 26 tỉnh, thành phố với gần
40 đơn vị tham gia. Quy mô trình diễn 10.818 ha, kinh phí 57,745 tỷ đồng,
đưa diện tích lúa lai F1 từ 173 ha (1992) lên 1.500 ha của những năm 2000 -
2005; 1.300 ha của những năm 2006 - 2008 (do ảnh hưởng thời tiết). Năng
suất hạt giống từ 300 kg/ha (1992) lên 2.500 kg/ha những năm 2000. Nhiều
đơn vị sản xuất ở những vùng thuận lợi về thời tiết năng suất đạt 38 - 40 tạ/ha,
chất lượng hạt giống tốt, đạt tiêu chuẩn ngành. Giá thành hạt giống sản xuất
trong nước chỉ bằng 60% so với giống nhập khẩu, hàng năm tiết kiệm cho
Nhà nước hàng trăm tỷ đồng. Từ chỗ chúng ta hoàn toàn nhập nội hạt giống,
đến nay đã tự túc được khoảng 25% nhu cầu hạt giống lúa lai cho sản xuất,
góp phần khống chế giá nhập khẩu vào Việt Nam [6].
Nhờ áp dụng sáng tạo quy trình công nghệ sản xuật hạt giống F1 của thế
giới cho một số tổ hợp nhập khẩu như Nhị ưu 838, Nhị 63, Bác ưu 64, Bác ưu
903, Dưu 527 Đến nay đã có nhiều tổ hợp được lai tạo trong nước đạt kết
quả tốt như TH3-3, TH3-4, VL20, VL24, HYT83, HYT100, HYT102,
20
20
HYT103 Một số tỉnh có diện tích sản xuất lớn là: Lào Cai, Yên Bái, Nam
Định, Thanh Hoá, Quảng Nam, Đắc Lắc, Hà Nam

con người. Mục tiêu của chương trình là cải tạo nâng cao thể trạng và tỷ lệ
thịt xẻ của đàn bò Việt Nam bằng cách lai tạo giữa bò đực giống Red Sindhi,
Brahman, Sahiwal với bò cái nền Việt Nam. Chương trình đã thu hút gần
600.000 hộ của trên 50 tỉnh, thành và đã góp phần đưa tỷ lệ bò lai Zebu từ
10% năm 1993 lên 32% vào năm 2008, khối lượng bò trưởng thành từ 180
kg/con lên 250 - 280 kg/con và tỷ lệ thịt xẻ từ 38% lên 45 - 50%. Một số tỉnh
đã hưởng ứng và thực hiện tốt chương trình cải tạo đàn bò, đưa tỷ lệ bò lai
Zebu đạt rất cao như: Hà Tây (tỷ lệ bò lai 85%), Vĩnh Phúc (tỷ lệ bò lai 65%),
Tây Ninh (tỷ lệ bò lai 83%), Bình Dương (tỷ lệ bò lai 75%), Bình Định (tỷ lệ
bò lai 40%) Để chương trình cải tạo đàn bò đạt hiệu quả cao và bền vững,
các lớp Truyền giống nhân tạo bò cấp Quốc gia đã liên tục được mở ra, đào
tạo cho trên 1.000 dẫn tinh viên chính quy, 2.500 dẫn tinh viên cấp huyện và
trên 7.000 khuyến nông viên chăn nuôi thú y. Kỹ thuật truyền giống nhân tạo
và sử dụng tinh bò đông lạnh chất lượng cao ngày càng được áp dụng rộng rãi
và hiệu quả, từ chỗ chỉ sử dụng vài chục ngàn liều tinh năm 1993, nay đã sử
dụng gần nửa triệu liều tinh trong chương trình cải tạo đàn bò, đưa tỷ lệ bò
được TTNT lên 55% [6].
* Chương trình khuyến nông chăn nuôi gia cầm
Chương trình đã đưa một số giống gà lông màu như gà Tam Hoàng,
Lương Phượng, Isa-colour, Kabir vào nuôi ở một số tỉnh đạt kết quả rất tốt,
khối lượng gà đạt 2,2-2,5 kg ở 3 tháng tuổi, năng suất trứng đạt 140-160
quả/mái/ năm. Đây là chương trình được bà con nông dân cả nước hưởng ứng
rất nhanh, thực hiện tương đối dễ và có hiệu quả cao.
22
22
Chương trình khuyến nông chăn nuôi gia cầm ATSH với kinh phí thực
hiện là 50,103 tỷ đồng, với quy mô 2.800.625 con đã được triển khai ở gần
hết các tỉnh thành trong cả nước. Việc nuôi tập trung, đảm bảo an toàn sinh
học các giống gà thả vườn, giống vịt, ngan có chất lượng thịt thơm ngon, ít
mỡ, da vàng và mỏng, điển hình là các giống gà Lương Phượng, Sasso, gà lai

ngày nay,… để cung cấp và truyền tải thông tin về hoạt động khuyến nông tới
các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý và bà con nông dân.
Tờ tin Khuyến nông Việt Nam xuất bản 4 số/năm, từ tháng 1/2006 tăng
lên 6 số/năm (mỗi số từ 4000 - 4500 bản). Trang web khuyến nông Việt Nam
khai trương tháng 8/2003, hàng ngày có ít nhất 10 bài và hàng chục tin mới,
mỗi người có hàng trăm người truy cập. Trong thời gian qua,ở cấp trung ương
đã có hơn 12 vạn bản sách kỹ thuật, gần 30.000 tranh kỹ thuật, tờ gấp; trên 40
băng hình kỹ thuật được phát hành miễn phí dùng làm tài liệu chuyển giao
TBKT. Ngoài ra, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia còn tập hợp được trên
120 bộ phim hướng dẫn kỹ thuật làm tư liệu cho các địa phương [6].
d) Hoạt động tư vấn, dịch vụ khuyến nông
Đây là những vấn đề mới đối với khuyến nông Việt Nam. Thực tế một vài
năm gần đây mới xuất hiện phương thức tư vấn - dịch vụ trong công tác
khuyến nông và cũng mới chỉ xuất hiện lẻ tẻ ở một số tỉnh như: Thái Bình, Hà
Nội, An Giang, Tiền Giang, Đồng Lai, Bình Phước,… Sở dĩ như vậy bởi vì
đại bộ phận nông dân nước ta còn nghèo, Nhà nước vẫn phải bao cấp, hỗ trợ
cho nông dân thông qua các chương trình, dự án phát triển.
24
24
PHẦN III
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các hoạt động khuyến nông chính của huyện
- Các cán bộ khuyến nông và một số hộ nông dân trên địa bàn.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Tập trung vào xác định vai trò của đội ngũ CBKN trên địa bàn huyện Bảo
Thắng trong chuyển giao các TBKHKT; phát triển kinh tế nông nghiệp nông
thôn; cầu nối giữa nông dân với các cơ quan nhà nước, các viện, trường, cơ sở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status