Áp dụng một số biện pháp phòng, trị bệnh phân trắng lợn con nuôi trong nông hộ ở một số xã thuộc huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 26

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta đang trên đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá, phấn đấu cơ bản trở
thành nước công nghiệp vào năm 2020, cùng với sự phát triển của nhiều
ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân, ngành chăn nuôi cũng từng bước
phát triển vượt bậc cả về số lượng cũng như chất lượng sản phẩm chăn nuôi.
Trong chăn nuôi, chăn nuôi lợn đóng vai trò quan trọng và thiết thực đối với
đời sống nhân dân bởi sự đa dạng từ các sản phẩm mà chăn nuôi lợn cung
cấp. Hằng năm, ngành chăn nuôi lợn đã cung cấp một khối lượng lớn thịt,
mỡ làm thực phẩm cho con người, da cho ngành công nghiệp thuộc da, phân
bón cho ngành trồng trọt và nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến.
Thịt lợn chiếm vị trí hàng đầu trong việc sản xuất và tiêu thu thịt ở trong nước
và trên thế giới. Do đóng vai trò quan trọng nên Đảng và Nhà nước đã chú
trọng quan tâm hỗ trợ phát triển chăn nuôi lợn trên nhiều phương diện như
cơ chế chính sách, vốn, các nhà khoa học từng bước lai tạo, cải tiến giống lợn
phù hợp với điều kiện chăn nuôi nước ta cũng như thị hiếu người tiêu dùng và
kinh tế thị trường cạnh tranh. Tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong chăn nuôi
cũng dần dần được người chăn nuôi áp dụng giúp tăng hiệu quả kinh tế cao.
Trong chăn nuôi "Giống là tiền đề, thức ăn là cơ sở" song công tác thú y cũng
đóng vai trò quan trọng đặc biệt và là nhân tố thứ ba góp phần quyết định đến
hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.
Trong chăn nuôi lợn, giai đoạn lợn con từ sơ sinh đến cai sữa có ý nghĩa hết
sức quan trọng nhằm tiền đề tạo con giống khoẻ mạnh không bệnh ngay từ
ban đầu. Bởi giai đoạn này cơ thể lợn con còn yếu, chưa phát triển hoàn chỉnh,
khẳ năng chống đỡ bệnh tật kém, dễ mắc một số bệnh truyền nhiễm nguy
hiểm, đặc biệt là bệnh phân trắng lợn con nếu không được chữa trị kịp thời,
1
đúng phương pháp lợn con sẽ chết. Đây là bệnh phổ biến trong chăn nuôi lợn
con giai đoạn sơ sinh gây thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi.
Qua điều tra sơ bộ ban đầu, công tác chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tam

khổ và yêu nghề.
- Đã được thầy, cô, nhà trường trang bị một lượng kiến thức cơ bản để có thể
áp dụng vào thực tiễn sản xuất góp phần phát triển ngành chăn nuôi thú y cho
địa phương.
1.3.2. Điều kiện cơ sở của địa phương
1.3.2.1. Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Tam Dương là một huyện trung du miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc, với
diện tích 10.718,55 ha, đất nông nghiệp 6.617 ha, đất phi nông nghiệp
3.764,65 ha, dân số 96.736 người, mật độ 902 người/km
2
. Tam Dương hiện
có 13 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 01 thị trấn và 12 xã.
Phía Bắc giáp huyện Lập Thạch, phía Nam giáp huyện Bình Xuyên,
phía Đông giáp huyện Tam Tảo, phía Tây giáp thành phố Vĩnh Yên.
* Khí hậu thuỷ văn
Khí hậu Tam Dương thuộc vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu
nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa.
Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung
bình 28,1 °C. Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa đông với
nhiệt độ trung bình 18,6 °C. Tam Dươmg có độ ẩm và lượng mưa khá lớn,
trung bình 114 ngày mưa một năm. Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào
tháng 4 và tháng 10, huyện có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu và Đông.
1.3.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
3
Những năm gần đây, kinh tế - xã hội của huyện Tam Dương có sự phát
triển mạnh mẽ và toàn diện. Cơ cấu kinh tế đã có những bước chuyển biến
tích cực, từ một huyện thuần nông đã chuyển sang cơ cấu kinh tế mới là Công
nghiệp - Dịch vụ - Du lịch - Nông nghiệp.
Song song với phát triển kinh tế, sự nghiệp văn hóa xã hội cũng đã

;;;;;;;;;;;;;;Ơ
STT Xã, thị trấn Trâu, bò Lợn nái Gà Vịt
Ghi chú
1 An Hoà 1.433 462 113.000
22.50
0
2 Duy Phiên 1.345 815 28.000 6.500
3 Đạo Tú 1.330 1.202 3.000 1.000
4 Đồng Tĩnh 2.227 776 101.000
10.30
0
5 Hoàng Đan 951 523 19.000 3.500
6 Hoàng Hoa 1.853 553 30.000 5.000
7 Hoàng Lâu 1.371 691 64.700 3.000
8 Hướng Đạo 1.970 638 29.350 4.000
9 TT. Hợp Hoà 1.798 472 70.000 9.000
10 Hợp Thịnh 438 474 11.000 3.000
11 Kim Long 1.439 1.210 27.000 4.000
12 Thanh Vân 1.195 658 28.000
10.30
0
13 Vân Hội 598 712 127.000 5.000
Cộng 17.948 9.186 651.050
87.10
0
(Thống kê ngày 01/10/2010)
Qua bảng 1.1 cho thấy tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện Tam
Dương, tỉnh Vĩnh Phúc khá phát triển, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm, chăn
nuôi lợn. Trên địa bàn huyện có Trung tâm Giống gia súc, gia cầm là nơi
cung cấp con giống đạt tiêu chuẩn cho người chăn nuôi địa phương cũng

tỉnh, tỷ trọng trong chăn nuôi chiếm tỷ lệ cao. Do đó được sự quan tâm của
Đảng bộ Tỉnh, huyện trong công tác định hướng phát triển chăn nuôi.
7
Huyện có nguồn lao động có tay nghề và tri thức sẽ đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
1.4.2. Khó khăn
Tuy nhiên Tam Dương cũng đang phải đối mặt với không ít khó
khăn về các vấn đề xã hội khác do tác động của đô thị hóa. Nổi lên là tình
trạng ô nhiễm môi trường, giải quyết công ăn việc làm cho người bị thu
hồi đất
Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ chăn nuôi còn thiếu thốn nên hiệu
quả kinh tế chưa cao. Bên cạnh đó chăn nuôi còn nhỏ lẻ chưa tập trung vì vậy
mà là điều kiện cho dịch bệnh bùng phát.
Lực lượng thú y cơ sở còn mỏng, trang thiết bị chưa đầy đủ, chưa kiểm
soát hết được việc buôn bán và lưu thông gia súc, gia cầm.
1.5. MỤC TIÊU SAU KHI KẾT THÚC CHUYÊN ĐỀ
- Xác định tỷ lệ nhiễm phân trắng lợn con tại các xã Kim Long, Đạo
Tú, Thanh Vân và Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Xác định, xây dựng được quy trình phòng, trị bệnh phân trắng lợn con.
1.6. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.6.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.6.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con bú sữa
* Lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh
Lợn con hay gia súc nói chung, trong thời kỳ bào thai phát triển tốt sẽ ảnh
hưởng tốt đến sự phát triển về sau. Khả năng phát triển của lợn con nhanh so
với một số gia súc khác. (Khối lượng cai sữa của lợn con khi 2 tháng tuổi gấp
10 – 15 lần so với khối lượng sơ sinh, trong khi đó bê nghé chỉ tăng 3- 4 lần ).
Qua nghiên cứu thí nghiệm và qua thực tế sản xuất người ta thấy rằng: so với
khối lượng sơ sinh, thì sau 10 ngày tuổi trọng lượng lợn con tăng gấp 2 lần, sau
30 ngày tuổi gấp 4 lần, sau 60 ngày tuổi gấp 10 lần trọng lượng lúc sơ sinh.

9
nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ.
Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải prôtêin mà chỉ có
khả năng làm vón sữa đầu và sữa. Còn huyết thanh quản chứa Albumin và
Globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu.
Ở lợn con từ 14 – 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn là
trạng thái sinh lý bình thường nữa. Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng
thúc đẩy bộ máy tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện, vì
thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl. Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì
thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và
tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành
là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày).
Theo Từ Quang Hiển và cs (1995) [3], lợn con dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị
không có HCl, vì lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nó nhanh chóng liên kết với
niêm dịch. Hiện tượng này gọi là Hypoclohyđric và là một đặc điểm quan
trọng trong tiêu hoá dạ dày ở lợn con. Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có
tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát
triển gây ra các bệnh về đường tiêu hoá của lợn con.
Nhiều thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh
ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh như: vi
khuẩn phó thương hàn, vi khuẩn sinh thối rữa. Ở lợn con mới sinh, hệ vi sinh
vật đường ruột chưa phát triển, chưa đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa đủ
khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh, nhất là các
bệnh đường tiêu hoá.
* Cơ năng điều tiết thân nhiệt
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh. Vì vỏ đại não của
lợn con phát triển chưa hoàn thiện cho nên việc điều tiết thân nhiệt kém, năng
lực phản ứng yếu, dễ bị ảnh hưởng xấu của khí hậu nóng ẩm và lạnh từ môi
trường bên ngoài. Lợn con trong thời kỳ này nếu như trong chuồng có nhiệt
độ thấp, ẩm độ tương đối cao sẽ làm cho thân nhiệt lợn con hạ xuống nhanh.

bệnh do vi khuẩn E.coli gây ra có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt trong
các bệnh nhiễm ở lợn con.
Bệnh do Escherichia coli thuộc dòng Enterobacteriaceae, nhóm Escherichia.
Trong các vi khuẩn đường ruột, loại Escherichia là loại phổ biến nhất. Loại
này xuất hiện và sinh sống trong đường tiêu hoá của động vật chỉ vài giờ sau
khi sinh và tồn tại cho đến khi con vật chết. E.coli sống bình thường trong
đường tiêu hoá của động vật và người. Khi các điều kiện nuôi dưỡng, khẩu
phần thức ăn, vệ sinh thú y kém, sức chống đỡ bệnh tật của con vật yếu thì
E.coli trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh.
Những nguyên nhân có thể làm cho lợn con tăng mức độ nhiễm E.coli là:
- Lượng sữa mẹ ít, lợn con đói phải gặm mút lung tung, trong đó có nước,
rơm, chất độn chuồng, chất thải bị nhiễm E.coli.
- Chuồng bẩn, lợn con luôn bú lợn mẹ có bầu vú bị nhiễm E.coli.
- Lợn mẹ bị viêm vú, đặc biệt là do E.coli gây ra. Khi bú sữa của lợn mẹ bị
viêm vú, lợn con sẽ bị tiêu chảy ngay sau đó.
- Lợn con không được bú sữa đầu, trong khi đó khả năng miễn dịch của lợn
con phụ thuộc chủ yếu vào lượng kháng thể hấp thụ được từ sữa của lợn mẹ.
Do đó, sức đề kháng của cơ thể lợn con yếu, dễ mắc bệnh.
- Chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái chửa không đảm bảo kỹ thuật, thức ăn của
lợn mẹ không đảm bảo vệ sinh, thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn
không cung cấp đủ nhu cầu của lợn nái chửa. Do đó, lợn con sinh ra đã bị
nhiễm E.coli từ lợn mẹ hoặc sinh ra còi cọc, sức sống yếu, khả năng chống đỡ
các yếu tố bất lợi của môi trường bị giảm nên lợn dễ bị mắc bệnh.
- Do trữ lượng sắt của lợn con từ bào thai chưa đủ, khi sinh ra không được sữa
mẹ cung cấp đủ nhu cầu, thiếu cả coban, B12, nên dẫn đến sinh bần huyết, cơ
thể suy yếu không hấp thụ được đầy đủ các chất dinh dưỡng sinh ra không
tiêu, ỉa chảy.
- Thời tiết lạnh, mưa phùn, ẩm độ cao, gió màu đông Bắc, chuồng nuôi ẩm
thấp làm cho lợn con dễ mắc bệnh phân trắng.
12

0
C, chúng mọc thành những khuẩn lạc ẩm ướt, ánh màu xám
trắng, có kích thước trung bình, dạng tròn, mặt khuẩn lạc hơi lồi lên, có nếp
nhăn và bề mặt láng. Từ xanh xám, giữa đục xám để vài ba ngày sau khuẩn
lạc có màu nâu nhạt và mọc rộng ra.
- Trong môi trường nước thịt, khuẩn lạc phát triển tốt, môi trường rất đục, có
cặn lắng xuống đáy, màu tro nhạt, đôi khi hình thành màu xám nhạt. Canh
trùng có mùi hôi thối. Khi lắc mạnh, cặn tan đều trong môi trường. Ngoài ra
có một số biến chủng chúng tạo nên bề mặt môi trường bề mặt mỏng.
13
- Trên môi trường Gelatin, vi khuẩn mọc theo vết cấy trên mặt ống thành một
lớp bựa xám.
- Môi trường E.M.B.E, chúng hình thành những khuẩn lạc màu tím đen.
+ Đặc tính sinh vật, hoá học
Trực khuẩn E.coli có biểu hiện các đặc tính sinh vật hoá học rất rõ rệt.
- E.coli lên men và sinh hơi đường: Glucozo, Galactoz, Malto, Lactoz, Levulo,
Manitol, Mannit, Fructo.
- Có thể lên men hay không lên men các đường: Saccazo, Glyxerin, Salixin,
Druxit.
- Không lên men: Dextrin, Amidin, Glycogen, Xenlobio.
Trực khuẩn E.coli làm đông sữa sau 24 – 37 giờ ở nhiệt độ 37
0
C. Không làm
tan chảy Gelatin, thường sinh Indol, không sản sinh H
2
S, không làm tan chảy
huyết thanh đông, long trắng trứng đông. Phản ứng R.M dương tính, V.P âm
tính, hoàn nguyên nitrat thành nitrit.
+ Sức đề kháng của mầm bệnh
Trực khuẩn E.coli không chịu được nhiệt độ cao, chúng bị diệt ở 60

trong vòng 1 giờ. Trong điều kiện đó kháng nguyên mất khả năng ngưng kết,
kết tủa và không giữ được tính kháng nguyên.
+ Kháng nguyên B: Là kháng nguyên không chịu được nhiệt độ. Dưới tác
dụng 100
0
C trong vòng 1 giờ cũng sẽ bị phá huỷ. Khi đó kháng nguyên B chỉ
mất tính kháng nguyên nhưng vẫn giữ được khả năng ngưng kết và kết tủa.
+ Kháng nguyên A: Là kháng nguyên vỏ, chịu nhiệt, không bị phá huỷ khi bị
đun sôi ở 100
0
C trong vòng 2giờ 30 phút, tính kháng nguyên, khả năng ngưng
kết, kết hợp đều giữ nguyên.
+ Độc tố
Theo Lý Thị Liên, ( 2001) [4],
Ngoại độc tố: là độc tố nhiễm khuẩn tiết ra khuếch tán vào môi trường. Ngoại
độc tố của vi khuẩn E.coli là một chất không chịu được nhiệt, dễ bị phá huỷ ở
56
0
C trong vòng 10 – 30 phút. Dưới tác dụng của formol và nhiệt, ngoại độc tố
chuyển thành giải độc tố. Ngoại độc tố chưa thành công, mà chỉ có thể phát
hiện canh trùng của những chủng mới phân lập được. Khả năng tạo độc tố sẽ
mất đi khi các chủng được giữ lâu dài hoặc cấy chuyển nhiều lần trên môi
trường dinh dưỡng.
Nội độc tố (là độc tố có trong tế bào vi khuẩn, chỉ được giải phóng ra ngoài
môi trường khi tế bào vi khuẩn bị chết, bị dung giải hoặc bị phá vỡ): là yếu tố
gây hại chủ yếu của trực khẩn đường ruột E.coli chúng có trong tế bào vi
khuẩn và gắn vào tế bào vi khuẩn rất chặt. Nội độc tố có thể chiết suất bằng
15
nhiều phương pháp như phá vỡ vỏ tế bào, bằng cơ học, chiết suất bằng axit
triloaxetic, phenol, dưới tác dụng của enzyme.

bệnh.
Đất đồi núi mà lợn con gặm ăn là một điều kiện ngăn ngừa bệnh, vì đất đồi có
nhiều nguyên tố vi lượng bổ sung sự thiếu hụt của thức ăn.
+ Đường nhiễm bệnh
Đường nhiễm bệnh chủ yếu là do ăn uống. Khi bị nhiễm, E.coli phát triển
nhanh trong đường ruột, chúng tự huỷ hoại và giải phóng ra các độc tố, độc tố
này xâm nhập vào dòng limpho, do đó máu bị nhiễm độc và con vật chết.
Từ khi mới sinh, hệ sinh vật ở đường tiêu hoá rất đa dạng, tỷ lệ, số lượng vi
trùng rất khác nhau ở các đoạn ruột khác nhau.
Mầm bệnh có thể truyền trực tiếp từ lợn mẹ bị nhiễm E.coli sang lợn con khi
còn là bào thai. Thực tế đã chứng minh, bệnh do E.coli không những xuất
hiện vào những ngày đầu tiên mới đẻ mà thậm chí vào những giờ đầu tiên sau
khi sinh. Điều đó cho thấy đã có sự nhiễm bệnh của bào thai ngay từ khi trong
bụng mẹ, do đó con vật đẻ ra đã là con vật bệnh. Đây là vấn đề có ý nghĩa
quan trong việc kịp thời đề xuất những biện pháp nhằm phòng trừ có hiệu
quả ngay từ khi con vật trong bụng mẹ (theo Đào Trọng Đạt, Phan Đình
Phượng, Lê Ngọc Mỹ, ( 1995) [2]),
+ Quá trình sinh bệnh
Đối với lợn con khoẻ mạnh, vi trùng E.coli và các vi trùng khác chỉ cư trú ở
một đoạn ruột già và ở phần cuối ruột non, phần đầu, phần giữa hầu như
không có vi trùng, chỉ có ít liên cầu khuẩn, Lactobacillus.
Quá trình sinh bệnh liên quan đến nhiều đặc điểm sinh lý của cơ thể lợn
con. Hệ thống thần kinh của lợn con hoạt động với chức năng chưa thành
thục. Việc điều khiển thần kinh hầu hết bằng những phản xạ không điều kiện.
Ngoài ra, có những đặc điểm đáng chú ý như: độ tan của dịch dạ dày thấp, độ
thẩm thấu của biểu bì thành ruột cao, chức năng điều tiết của gan kém. Sự thu
17
nhận quá dễ dàng qua hang rào bảo vệ đã tạo điều kiện cho sự xâm nhập của
các độc tố do chúng sinh ra vào các nhu mô chính, đó là những điều kiện gây
nên bệnh.

thường, ăn, bú, đi lại nhanh nhẹn. Phân thường đặc hoặc nát với màu trắng
xám. Từ đó lợn có thể tự lành, thường ít chết. Nhưng nếu kéo dài, lợn gầy sút
và sau này có thể còi cọc, chậm lớn.
+ Bệnh tích
Bệnh tích thể hiện chủ yếu ở quanh bụng. Ruột non bị viêm cata kèm theo
xuất huyết, mạch máu vàng héo, ruột sưng, mềm, đỏ tấy do xung huyết. Niêm
mạc ruột non và dạ dày sưng, phủ một lớp nhầy, có nhiều dạng xuất huyết
khác nhau. Gan bị thoái hoá màu đất sét, túi mật căng và dài ra do chứa đầy
mật. Cơ tim nhão, dạ dày, manh tràng chứa đầy sữa đặc. Chất chứa trong
ruột lỏng, có màu vàng. Máu loãng, màu thẫm. Xác chết của lợn gầy, bụng
hóp.
1.6.1.4. Một số hiểu biết về thuốc điều trị phân trắng lợn con.
+ Thuốc Colistin 1200:
Thành phần:
Trong 100 gr Colistin 1200 chứa:
Colistin sulphate: 120.000.000 UI
Tá dược vừa đủ: 100 g
Colistin sulphate là một kháng sinh thuộc nhóm Polypeptid, có hoạt tính diệt
khuẩn cao đặc biệt so với vi khuẩn Gram(-) như: E.coli, Enterobacter
aerogenes, Slamonella, Shigella, Pasteurella, Pseudommas aeruginosa. Nó
không có tác dụng với các vi khuẩn và các vi khuẩn Gram(+).
Colistin không bị hấp thụ qua đường tiêu hoá, vì vậy sau khi uống, thuốc giữ
nồng độ cao ở ruột và các tác dụng diệt khuẩn tại chỗ. Colistin không gây sự
kháng độc, kháng chéo của vi khuẩn, đặc biệt Colistin 1200 có khả năng khử
được hoạt tính của các độc tố của E.coli tiết ra.
Liều sử dụng: 2g/10kg TT/lần x 2 lần/ 1 ngày.
+ Thuốc Enrovet 5% (Enrofloxacin 5%)
Thành phần:1ml chứa 5mg Enrofloxacin
19
Enrofloxacin là một kháng sinh tổng hợp, nhóm Fluroquynolone thế hệ có 3

phát triển quanh năm, nhưng nhiều nhất là cuối đông và sang xuân, cuối xuân
sang hè.
Theo Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Quang Tuyên, (1993), cho biết bộ máy
tiêu hoá ở lợn con phát triển nhanh, song khả năng chống đỡ bệnh tật của
đường ruột và dạ dày rất yếu. Do đó cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn,
máng uống, và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng bệnh đường tiêu hoá
cho lợn.
Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ [6], cho rằng bổ sung Fe – Dextran cho lợn
con có tác dụng làm tăng lượng huyết sắc tố (Heamglobin), tăng số lượng hồng
cầu. Giúp cho gia súc non, đặc biệt là gia súc sơ sinh khoẻ mạnh hồng hào,
phát triển tốt lơn nhanh và phòng các bệnh truyền nhiễm nhất là bệnh phân
trắng.
Theo Từ Quang Hiển và cs, (1995) [3], lợn con dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị
dạ dày không có HCl tự do. Vì vậy lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh
chóng liên kết với dịch nhầy. Hiện tượng này gọi là Hypoclohydrit và là một
đặc điểm tiếu hoá quan trọng dạ dày ở lợn con, vì thiếu HCl tự do trong dịch
vị nên vi sinh vật có điều kiện phát triển, gây bệnh trong đường tiêu hoá và dạ
dày lợn con.
Theo Phan Đình Thắm, (1995) [10], nhất thiết lợn con sơ sinh phải được bú
sữa đầu để giúp lợn con có sức đề kháng chống lại bệnh tật. Vì trong sữa đầu
có Albumin và Globulin cao hơn sữa thường, đây là chất chủ yếu giúp lợn con
có sức đề kháng. Vì thế cần cho lợn con sơ sinh bú sữa trong 3 ngày đầu, phải
đảm bảo được toàn bộ số con trong đàn được bú hết lượng sữa đầu của lợn
mẹ.
Theo Lê Văn Phước, (1997), trong bài “ Ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ
không khí đến tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng” tác giả nêu tỷ lệ nhiễm bệnh
phân trắng ở lợn con thay đổi theo sự biến đổi của nhiệt độ, độ ẩm trung bình
21
thay đổi theo hàng tháng, có tương quan thuận với ẩm độ và tương quan
nghịch với nhiệt độ không khí. Do đó để hạn chế tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân

CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Lợn con lai (Landrace, Yorkshire lai cái địa phương) giai đoạn từ sơ
sinh đến 60 ngày tuổi.
- Hai loại thuốc điều trị bệnh phân trắng lợn con là Colistin 1200 và
Enrovet 5%.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Các xã, thị trấn: Kim Long, Đạo Tú, Thanh Vân, Hợp Thịnh của huyện
Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc.
23
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 01/12/2010 đến ngày 15/03/2011.
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1. Công tác phục vụ sản xuất
- Cùng với cán bộ trạm thú y, thú y cơ sở điều tra tình hình dịch bệnh
trên địa bàn huyện Tam Dương, từ đó đề ra biện pháp phòng, chống dịch bệnh
có hiệu quả.
- Tham gia công tác tuyên truyền đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
- Kết hợp với cán bộ Trạm Thú y tiêm phòng, chẩn đoán, điều trị bệnh
cho gia súc, gia cầm.
2.2.2. Nội dung nghiên cứu
Áp dụng một số biện pháp phòng, trị bệnh phân trắng lợn con nuôi
trong nông hộ ở một số xã thuộc huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc.
24
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Phương pháp điều tra bệnh phân trắng lợn con
- Điều tra ngẫu nhiên các đàn lợn nuôi trong nông hộ của 4 xã thuộc
huyện Tam Dương – Vĩnh Phúc.
- Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con của huyện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status