Mở đầu
Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến, có hiệu quả cao
đã được hình thành từ lâu ở nhiều quốc gia trên Thế giới, cũng như ở Việt Nam. Xu
thế phát triển kinh tế trang trại đang là một vấn đề cần được quan tâm hiện nay ở
các nước trên Thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng, sự phát triển kinh tế
trang trại là sản phẩm của quá trình phát triển sản xuất, từ thấp đến cao, từ sản xuất
tự cấp, tự túc sang sản suất hàng hoá với quy mô lớn dần . Kinh tế trang trại đã tạo
ra cho xã hội phần lớn sản phẩm hàng hoá chứ không nh các hộ tiểu nông dùng đại
bộ phận sản phẩm làm ra, mua bán càng Ýt càng tốt.
Việc đưa ra mô hình kinh tế trang trại phát triển theo cơ chế thị trường hiện nay
đang gặp phải những vấn đề khó khăn như: đất đai, vốn, công nghệ và thị trường
Hiện nay nước ta về kinh tế trang trại cũng đã khá phát triển cả về quy mô và số
lượng song chỉ phát triển mang tính tự phát. Khi có chủ trương mới về đổi mới tổ
chức và quản lý “Nền kinh tế hàng hoá cơ cấu nhiều thành phần theo tinh thần đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986)“ Kinh tế trang trại phát triển một cách
mạnh mẽ nhất là từ năm 1993 trở lại đây.
Riêng đối với tỉnh Phú Thọ việc phát triển kinh tế trang trại đẫ được hình thành
và phát triển từ năm 1986 trở lại đây, số lượng các trang trại tăng lên và đã khẳng
định vị trí của mình trong điều kiện kinh tế thị trường. Nhưng các trang trại ở Phú
Thọ phát triển mạnh ở các hình thức như: trang trại Lâm nghiệp , trang trại thuỷ
sản, trang trại trồng cây lâu năm, còn một số loại hình như trang trại trồng trọt,
chăn nuôi chưa phát triển. Đây là một yếu tố tạo nên sự mất cân đối trong việc
phát triển kinh tế trong nông, lâm - ngư nghiệp của tỉnh Phú Thọ
Để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung, thì cần phải đẩy mạnh
phát triển cân đối giữa nông- lâm- ngư nghiệp việc đẩy mạnh và phát triển kinh tế
1
trang trại trồng trọt và chăn nuôi là cần thiết để tạo nên sự phát triển bền vững trong
nông nghiệp cả nước nói chung và ở tỉnh Phú Thọ nói riêng.
Trong lĩnh vực này em đưa ra đề tài thực tập tốt nghiệp về “Thực trạng và
giải pháp phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở tỉnh Phú Thọ“ . Đây là một
vấn đề nếu được giải quyết tốt có thể phần nào đó giúp cho kinh tế trang trại ở Phú
đề chưa được giải quyết triệt để, rất mong được sự giúp đỡ của Sở Nông nghiệp &
PTNT tỉnh Phú Thọ , Khoa kinh tế NN&PTNT trường Đại học kinh tế quốc dân Hà
Nội. Em xin chân thành cảm ơn!3
Phần I : cơ sở lý luận chung về kinh tế trang trại
I. Khái niệm, bản chất của kinh tế trang trại:
a. Khái niệm về trang trại :
- Trang trại nói chung là cơ sở sản xuất nông nghiệp, ở đây nói về trang trại
trong nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá, với các khái niệm cụ thể sau:
+ Trang trại là tổ chức sản xuất cơ sở của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá
trong thời kỳ công nghiệp hoá.
- Trang trại là đơn vị sản xuất nông nghiệp độc lập tự chủ, là chủ thể pháp lý có
tư cách pháp nhân trong các quan hệ kinh tế xã hội.
- Trang trại có cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo sản xuất nông nghiệp, có tổ
chức lao động sản xuất kinh doanh, có quản lý kiểu doanh nghiệp (hạch toán kinh
tế).
- Trang trại là tổ chức sản xuất nông nghiệp có vị trí trung tâm thu hút các hoạt
động kinh tế của các tổ chức sản xuất tư liệu sản xuất, các hoạt động dịch vụ và các
tổ chức chế biến tiêu thụ nông sản.
+ Trang trại là loại hình sán xuất đa dạng và linh hoạt về tổ chức hoạt động sản
xuất kinh doanh trong nông nghiệp.
- Trang trại có các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất và phương thức quản lý
khác nhau.
+ Trang trại gia đình là loại hình trang trại phổ biến nhất trong nông nghiệp ở
tất cả các nước, thường do các chủ gia đình làm chủ và quản lý sản xuất kinh doanh
của trang trại, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu và có thể sử dụng lao động thuê
ngoài, sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất (ruộng đất, công cụ sản xuất,
vốn …) cũng có thể đi thuê ngoài một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất trên.
5
lượng chủ lực trong sản xuất nông sản hàng hoá cũng như hàng nông nghiệp nói
chung phục vụ công nghiệp hoá.
- Kinh tế trang trại phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, phục vụ nhu cầu
sản xuất hàng hoá trong công nghiệp là phù hợp với quy luật phát triển kinh tế, là
một tất yếu khách quan của nền kinh tế nông nghiệp trong quá trình chuyển từ sản
xuất tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá.
- Kinh tế trang trại là loại hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp mới có
tính ưu việt hơn hẳn so với các lạo hình sản xuất nông nghiệp khác như: Kinh tế
nông nghiệp phát canh thu tô, kinh tế tư bản tư nhân, đồn điền, kinh tế cộng đồng,
nông nghiệp tập thể, kinh tế tiểu nông.
- Kinh tế trang trại đến nay đã khẳng định vị trí của mình trong sản xuất hàng
hoá thời kỳ công nghiệp hoá ở các nghành sản xuất nông- lâm– ngư nghiệp ở các
vùng kinh tế ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Đã thích ứng với các
trình độ công nghiệp hoá khác nhau.
Thời gian tới bước vào thế kỷ 21 theo dự báo của nhiều nhà kinh tế trên thế
giới, kinh tế trang trại có bước phát triển mạnh mẽ, với số lượng ngày càng nhiều ở
các nước đang phát triển, trên con đường công nghiệp hoá và vấn đề còn tồn tại ở
các nước công nghiệp hoá cao, trên cơ sở điều chỉnh số lượng và cơ cấu trang trại
cho phù hợp .
c- Khái niệm về kinh tế trang trại chăn nuôi:
- Còng nh khái niệm về kinh tế trang trại nói chung, ta đi vào xem xét khái
niệm cụ thể về kinh tế trang trại chăn nuôi.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền sản xuất kinh tế trong nông nghiệp với
nông sản hàng hoá là sản phẩm của chăn nuôi đại gia sóc, gia cầm…Đó là tổng thể
các mối quan hệ kinh tế của các tổ chức sản xuất hoạt động kinh doanh nông
nghiệp, xét ở phạm vi chăn nuôi. Bao gồm các hoạt động trước và sau sản xuất
6
nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại chăn
nuôi ở các vùng kinh tế khác nhau.
trường. Là loại hình sản xuất hàng hoá với tỷ trọng hàng hoá chiếm từ 70% đến
80% trở lên, đáp ứng phần lớn hàng hoá ra thị trường không chỉ ở trong nước mà
còn xuất khẩu ra nước ngoài.
- Kinh tế trang trại với hình thức sản xuất nông nghiệp theo kiểu tập chung, quy
mô lớn và đã có từ lâu trên Thế giới và ở Việt nam.
+ Ở Trung Quốc kinh tế trang trại có từ thời hán với các hình thức: hoàng
trang, cung trang, gia trang và điền trang
+ Ở Việt Nam kinh tế trang trại đã có từ thời Lý, Trần với các hình thức như
thái Êp, các điền trang trong nông nghiệp. Thời nhà Lê_Nguyễn, kinh tế trang trại
tồn tại dưới các hình thức như: đồn điền, điền trang
- Đến thời kỳ chủ nghĩa tư bản : Lực lượng sản xuất phát triển thì hình thức sản
xuất tập chung qui mô lớn trong nông nghiệp theo kiểu trang trại.
- Đến Nghị quyết 10 của Bộ chính trị khoá VI (4/1988) về phát huy quyền làm
chủ kinh tế hộ, đã đặt nền móng cho sự phát triển một cách nhanh chóng. Vì vậy
kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp theo nghĩa rộng bao
gồm : Nông -Lâm; Thuỷ sản có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản
xuất thuộc quyền sở hữu hay sử dụng của một chủ trang trại, sản xuất được tiến
hành trên qui mô ruộng đất với các yếu tố sản xuất tập chung đủ lớn, trình độ kỹ
thuật cao hơn phương thức tổ chức sản xuất tiến bộ gắn với thị trường có hạch toán
kinh tế theo kiểu doang nghiệp .
b. Bản chất của kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một đơn vị kinh doanh cơ sở trực tiếp sản xuất
về chăn nuôi trong chuồng trại với qui mô lớn, trình độ sản xuất và quản lý tiến bộ,
8
là hình thức sản xuất với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá là các sản phẩm
chăn nuôi để cung ứng ra thị trường, tỷ trọng hàng hoá chiếm từ 70 đến 80% trở
lên, đáp ứng được sản phẩm hàng hoá ra thị trường trong và ngoài nước.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng được phát triển rất sớm, nhưng với qui mô
nhỏ, tỷ trọng hàng hoá chưa cao cho nên hàng hoá cung ứng ra thị trường còn Ýt.
- Cho đến hiện nay thì kinh tế trang trại chăn nuôi đã phát triển cả về qui mô số
+ Kinh tế trang trại là đơn vị sản xuất có qui mô lớn hơn kinh tế hộ, vì vây có
khả năng áp dụng hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất, nâng
cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực.
+ Với cách thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh tiên tiến, trang trại là
nơi tiếp nhận và chuyền tải các tiến bộ khoa học công nghệ đến hộ nông dân thông
qua chính hoạt động sản xuất của mình.
+ Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế trang trại làm tăng hộ giàu ở nông thôn, tạo
thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động và dân cư ở nông thôn, góp
phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn là tấm gương cho các hộ nông
dân về cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh tiên tiến và có hiệu quả. Tất cả những
vấn đề đó góp phần quan trọng giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội ở nông thôn.
+ Về mặt môi trường: Phát triển kinh tế trang trại góp phần cải tạo và bảo vệ
môi trường sinh thái. Thực hiện phát triển kinh tế trang trại nước ta đã đem lại
nhiều kết quả về kinh tế xã hội và môi trường. Nhưng phát triển kinh tế trang trại ở
nước ta phải phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế từng vùng và từng địa phương.
nhất là những vùng địa phương có điều kiện đất đai và điều kiện sản xuất hàng
hoá .
2. Đặc trưng của kinh tế trang trai nói chung và kinh tế trang trại công
nghiệp nói riêng :
10
a. Đặc trưng của kinh tế trang trại nói chung:
Từ những khái niệm về kinh tế trang trại đã nêu ở trên ta đi vào tìm hiểu đặc trưng
của kinh tế trang trại có những điểm gì khác so với các loại hình tổ chức sản xuất
nông nghiệp khác:
- Ngay khi kinh tế trang trại mới hình thành ở một số nước công nghiệp hoá
Tây Âu, Các Mác đã là người đầu tiên đưa ra nhận xét chỉ rõ đặc trưng cơ bản của
kinh tế trang trại khác với kinh tế tiểu nông…Người chủ trang trại sản xuất và bán
tất cả các sản phẩm của họ làm ra và mua vào tất cả kể cả thóc giống, còn người
tiểu nông sản xuất và tự tiêu thụ hầu hết các sản phẩm làm ra mua, bán càng Ýt
càng tốt, cho đến nay trải qua hàng thế kỷ phát triển kinh tế trang trại đã chứng
+ Dung nạp các cấp trình độ công nghệ sản xuất khác nhau từ thô sơ đến hiện
đại, riêng biệt hoặc đan xen.
+ Liên kết các loại hình kinh tế khác nhau (cá thể, tư nhân, hợp tác, quốc doanh
với các hình thức hợp tác sản xuất kinh doanh đa dạng).
+ Chính vì vậy mà kinh tế trang trại có khả năng thích ứng với các trình độ, với
các thời kỳ công nghiệp hoá từ thấp đến cao, ở các nước đang phát triển cũng như
các nước công nghiệp phát triển.
- Kinh tế trang trại có đặc trưng là tạo ra năng lực sản xuất cao về nông sản hàng
hoá do các đặc điểm về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của các trang trại
quyết định. Chủ trang trại, chủ doanh nghiệp là người có ý chí, năng lực tổ chức
quản lý, có kiến thức và kinh nghiệm nhất định về sản xuất kinh doanh nông nghiệp
và thường là người trực tiếp quản lý trang trại. Trang trại gia đình có tổ chức quản
lý sản xuất kinh doanh thích hợp, tiến bộ và sử dụng có hiệu quả hơn các tư liệu sản
xuất (đất đai, vốn ,công nghệ …) Chọn và ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa
học công nghệ tiên tiến, tạo ra năng lực sản xuất và hiệu quả kinh tế cao của các
12
trang trai, thể hiện qua các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chủ yếu về sản lượng, năng xuất
và giá thành sản phẩm.
- Tổ chức quản lý sản xuất của trang trại tiến bộ hơn, trang trai có nhu cầu cao
hơn nông hộ về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và thường xuyên tiếp cận với thị trường
biểu hiện.
+ Do mục đích của trang trại là sản xuất hàng hoá, nên hầu hết các trang trại
đều kết hợp giữa chuyên môn hoá với phát triển tổng hợp, đây là điểm khác biệt so
với hộ sản xuất tự túc, tự cấp.
+ Do sản xuất hàng hoá đòi hỏi các trang trại phải ghi chép hạch toán kinh
doanh, tổ chức sản xuất khoa học trên cơ sở những kiến thức về nông học, kinh tế
thị trường.
+ Sự hoạt động của trang trại đòi hỏi phải tiếp cận với thị trường để biết được
thị trường cần những sản phẩm gì, số lượng bao nhiêu, chất lượng và chủng loại,
giá cả và thời điểm cung cấp nh thế nào… Nếu chủ trang trại không có những
nhỏ, vừa và lớn và thậm chí đến cực lớn. Dung nạp các cấp độ công nghệ sản xuất
khác nhau từ thô sơ đến hiện đại, riêng biệt hoặc đan xen. Liên kết các loại hình
kinh tế khác nhau cá thể, tư nhân, hợp tác quốc doanh…Với các hình thức hợp tác
sản xuất kinh doanh đa dạng. Chính vì vậy mà kinh tế trang trại chăn nuôi có khả
năng thích ứng với các nước đang phát triển và ở các nước công nghiệp phát triển .
- Kinh tế trang trai chăn nuôi có đặc trưng là tạo ra năng lực sản xuất cao về nông
sản hàng hoá mà chủ yếu là sản phẩm thịt, trứng, sữa …do đặc điểm về tính chất
quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại quyết định. Chủ trang trại là người có ý
chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và có kinh nghiệm trong sản xuất
chăn nuôi, cũng như kinh doanh trong cơ chế thị trường.
14
III-Điều kiện ra đời và phát triển kinh tế trang trại nói chung và trang trại
chăn nuôi nói riêng:
1-Điều kiện ra đời và phát triển kinh tế trang trại nói chung :
a-Điều kiện về môi trường pháp lí.
- Có sự tác động tích cực và phù hợp của nhà nước .
- Có quỹ ruộng đất cần thiết và chính sách tập trung ruộng đất .
- Có sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến.
- Có sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng, trước hết là giao thông, thuỷ lợi .
- Có sự hình thành vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hoá.
- Có sự phát triển nhất định của các hình thức liên kết kinh tế trong nông nghiệp
. - Có môi trường pháp lý thuận lợi cho các trang trại ra đời và phát triển.
b-Các điều kiện đối với chủ trang trại và trang trại:
- Chủ trang trại phải là người có ý chí quyết tâm làm giàu từ nghề nông
- Chủ trang trại phải có sự tích luỹ nhất định về kinh nghiệm sản xuất về tri
thức và năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh.
- Có sự tập chung nhất định về quy mô các yếu tố sản xuất trước hết là tiền vốn
và ruộng đất, đây là một điều kiện rất cần thiết đối với một trang trại.
- Quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại phải dựa trên cơ sở hạch toán kinh
tế (lỗ, lãi) và phân tích kinh doanh nh các doanh nghiệp.
- Chủ trang trại phải là người có ý chí quyết tâm làm giàu từ nghề nông, cụ thể
là từ chăn nuôi phát triển tới một trình độ quy mô một trang trại chăn nuôi.
- Chủ các trang trại chăn nuôi phải có sự tích luỹ nhất định về kinh nghiệm sản
xuất và kinh doanh về tri thức và năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh.
16
- Có sự tập trung nhất định về quy mô các yếu tố sản xuất trước hết là tiền vốn
và đất đai.
- Quản lý sản xuất kinh doanh của các trang trại chăn nuôi phải dựa trên cơ sở
hạch toán kinh tế (lỗ, lãi) và phân tích kinh doanh.
IV-Các loại hình kinh tế trang trại nói chung và chăn nuôi nói riêng:
1-Xét về tính chất sở hữu:
Xét về tính chất sở hữu thì đối với kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang
trại chăn nuôi nói riêng nó cũng bao gồm các loại hình sau:
a-Trang trại gia đình :
- Là loại hình trang trại chủ yếu trong nông, lâm, ngư nghiệp với các đặc trưng
được hình thành từ hộ nông dân sản xuất hàng hoá nhỏ mỗi gia đình là một chủ
kinh doanh có tư cách pháp nhân do chủ hộ hay người có uy tín ,năng lực trong gia
đình đứng ra làm quản lý.
+ Ruộng đất tuỳ theo thời kỳ có nguồn gốc khác nhau (từ địa chủ thực dân
chuyển cho nông dân, từ nhà nước giao do thừa kế, mua bán chuyển nhượng) Quy
mô ruộng đất khác nhau giữa các trang trại ở các nước và ngay cả trong một nước,
nhưng so với các loại hình trang trại khác, trang trại gia đình thường có quy mô
ruộng đất nhỏ hơn.
+ Vốn của trang trại do nhiều nguồn vốn tạo nên, như vốn của nông hộ tích luỹ
thành trang trại, vốn vay và vốn cổ phần, vốn liên kết và vốn trợ cấp khác. Nhưng
trang trại gia đình nguồn vốn tự có chiếm tỷ trọng lớn chủ yếu tích luỹ theo phương
châm “Lấy ngắn nuôi dài “ Điều tra 3044 trang trại năm 1999 cho thấy vốn tự có
của chủ trang trại chiếm 91,34%, có nơi như Đắk Lắk chiếm 96% có nơi tỷ trọng
vốn tự có nhỏ cũng chiếm 79,9% như Sơn La. Cho đến nay thì tỷ trọng vốn tự có
của chủ gia đình các trang trại nói chung và chăn nuôi nói riêng giảm dần và tăng
+ Trang trại nuôi trồng đặc sản (hươu, trăn, rắn, ba ba, dê, cây dược liệu…)
nằm ở những nơi thuận lợi cho nuôi trồng và tiêu thụ.
+ Trang trai nuôi trồng thuỷ sản: Tôm,cá…Loại này thì phất triển khá phổ biến
ở các vùng đồng bằng, trung du và miền núi nhưng mạnh nhất là ở đồng bằng và
các vên biển.
+ Trang trại chăn nuôi : Đây là loại hình trang trại đang được phát triển rất
mạnh trong cả nước, nhưng chưa thực sự chuyên môn hoá mà chủ yếu phát triển
chăn nuôi tổng hợp kết hợp với trồng trọt. Loại này được phân ra các loại hình sau
- Trang trại chăn nuôi đại gia sóc nh: Trâu, bò…loại hình này phát triển mạnh ở
các cùng đồng bằng, trung du miền núi nơi có đồng cỏ chăn thả và có thị trường
tiêu thụ.
- Trang trại chăn nuôi gia sóc nh lợn ; loại hình này thì phát triển tập trung ở
các vùng đồng bằng và trung du có địa hình thấp và có thị trường tiêu thụ dễ dàng.
- Trang trại chăn nuôi gia cầm; Gà, vịt loại hình này còn chưa phát triển mạnh ở
nước ta hiện nay, tuy nhiên cũng đã phát triển tập trung ở các vùng đồng bằng, nơi
có thị trường tiêu thụ thuận lợi.
- Trang trại kinh doanh nông nghiệp tổng hợp; loại hình này thường phát triển
mạnh ở các vùng trung du, miền núi có điều kiện về đất đai nhưng thị trường tiêu
thụ còn hạn chế.
- Trang trại kinh doanh nông, công nghiệp và dịch vụ đa dạng, nhưng hoạt động
nông nghiệp vẫn là chủ yếu.
V-Tình hình phát triển kinh tế trang trại nói chung và trang trại chăn nuôi
nói riêng ở nước ta và một số nước trên thế giới :
1-Tình hình phát triển kinh tế trang trại nói chung và trang trại chăn nuôi
nói riêng ở nước ta:
a-Tình hình phát triển kinh tế trang trại nói chung ở nước ta :
19
Ở nước ta hiện nay, phần lớn các nông hộ đều là các hộ tiểu nông. Tuy nhiên,
trên thực tế đã và đang có xu hướng hình thành các hộ sản xuất hàng hoá theo kiểu
trang trại. Các trang trại xuát hiện không những ở những vùng sản xuất hàng hoá,
gốc xuất thân từ hộ nông dân làm ăn giỏi là chủ yếu chiếm tới 71,19%. Ngoài ra
chủ trang trại còn là các thành phần xuất thân khác nh các cán bộ hưu trí, công
chức, đương chức, nhưng cũng đều xuất thân từ nông dân.
Quy mô các trang trại ở mức độ khác nhau, tuỳ theo từng loại hình kinh
doanh ,vùng và thành phần xuất thân. Nhưng nhìn chung các trang trại có quy mô
nhỏ là chủ yếu, quy mô diện tích của các trang trại không đồng đều và phụ thuộc
vào nghành nghề chuyên canh cây trồng hay vật nuôi. Có những loại trang trại lấy
chăn nuôi làm nghề chính thì diện tích chỉ có 1 đến 2ha. ở các tỉnh miền núi phía
Bắc phát triển mạnh các loại hình trang trai trồng rừng. ở đồng bằng sông Cửu
Long phát triển các trang trại lấy sản xuất lương thực làm trọng điểm và kết hợp
với trồng cây ăn quả, gắn liền với điều kiện thiên nhiên hình thành và phát triển
trang trại nuôi trồng đánh bắt hải sản, thuỷ sản. Có những trang trại có quy mô lên
đến 1.860ha. Ở Tây Nguyên với chủ trương giao đất, nhất là trồng rừng, thực hiện
chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc đã giúp cho nhiều trang trại phát triển theo
hướng sản xuất hàng hoá làm mục tiêu.
Về số lượng thì ở nước ta tính đến năm 1989 thì cả nước có 5215 trang trại các
loại như trang trại trông cây lương thực, và trang trại kết hợp trồng cây ăn quả,
trang trại thuỷ sản …Cho đến năm 1992 cả nước đã có 13.246 trang trại các loại
nhiều gấp 2,53 lần so với năm 1989. Đên sngày 01/07/1999 cả nước có 90.167
trang trại tăng gấp 6,8 lần so với năm 1992. Đến năm 2000 có Nghị Quyết
03/200/NQ-CP. Về kinh tế trang trại và thôn tư liên tịch số 69/2000/TTLT-TCTK
21
của Bộ NN&PTNT và Tổng Cục thống kê ra để hướng dẫn tiêu chí xác định kinh tế
trang trại thì cả nước tính đến thời điểm 01/10/2001. Cả nước có 60.762 trang trại
đạt tiêu chí trong đó.
+ 21.798 trang trại trồng cây hàng năm.
+ 16.614 trang trại trồng cây lâu năm.
+ 16.951 trang trại nuôi trồng thuỷ sản.
+ 2006 trang trại trồng cây lâm nghiệp.
+ 1762 trang trại chăn nuôi.
- Trình độ của chủ trang trại chưa đáp được với yêu cầu của thực tế, trong Nghị
Quyết 03/2000/NQ-CP của Chính Phủ có thống nhất nhận thức về kinh tế trang trại
với ưu điểm là mặc dù vẫn dựa vào kinh tế hộ nhưng mở rộng quy mô và nâng cao
hiệu quả sản xuất hàng hoá, gắn sản xuất hàng hoá với chế biến và tiêu thụ sản
phẩm ; có tác dụng tăng thu nhập trên cơ sở sử dụng hiệu quả sử dụng đất đai, vốn,
lao động, kỹ thuật. Kinh tế trang trại cũng phân bố lại lao động dân cư , góp phần
xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất là một
quá trình khách quan và được chấp nhận. Chính vì vậy nhà nước đảm bảo một số
chính sách khuyến khích lâu dài đối với kinh tế trang trại đó là về đất đai, thuế đầu
tư tín dụng, lao động, khoa học công nghệ, môi trường, thị trường và bảo hộ tài sản
của trang trại .
Kinh tế trang trại như đã nói thì tính ưu việt “vượt trội”so với kinh tế cá thể hoặc
hộ nông dân ở chỗ mở rộng được quy mô sản xuất, gắn được sản xuất với ché biến
và tiêu thụ, sử dụng hiệu quả đất trống hoang hoá, sức lao động dư thừa , tiền vốn
đầu tư từ nông dân. Mặt khác chính ở đây cũng phát huy được động lực kinh tế để
phân phối lại lao động, giảm nhẹ thất nghiệp và đặc biệt là nơi áp dụng tiến bộ kỹ
thuật để nâng cao chất lượng hàng hoá và năng xuất lao động. Đó chính là
23
phương thức sản xuất tiến bộ sẽ phát triển tốt nếu nhà nước đảm bảo việc tổ chức
và có chính sách khuyến khích thích đáng đi vào cuộc sống.
Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ song nền kinh tế thị
trường đã kích thích sản xuất và đạt được sự tăng trưởng đáng kể, các chủ trương
chính sách hiện tại chưa đầy đủ, nhưng đảm bảo cho sự phát triển đúng hướng,
trước mắt là kinh tế hộ đồng loạt phát triển trên cơ sở một điều kiện công bằng
chung về thị trường về đầu tư tín dụng. Xong xã hội sẽ phân hoá và các hộ có năng
lực đầu tư, có năng lực tổ chức quản lý sẽ có lãi, tích luỹ tái sản xuất tốt hơn do đó
có tiềm năng phát triển trang trại chăn nuôi tốt hơn. Sử dụng khoa học công nghệ
cao hơn sẽ kích thích kinh tế phát triển mạnh hơn so với giai đoạn hiện nay. Tổng
thu nhập trên đơn vị diện tích sẽ ngày càng tăng cao hơn và môi trường sinh thái tốt
hơn, bền vững đó chính là tiềm năng phát triển theo quy luật chuyển từ sản xuất
Đến nay kinh tế trang trại chăn nuôi cũng đã dần dần được phát triển từ quy
mô kinh tế hộ hoặc chăn nuôi theo mô hình kết hợp VAC. Tuy nhiên vẫn còn hạn
chế về số lượng. Khi có Nghị Quyết 03/2000/NQ-CP của Chính Phủ và Thông Tư
liên tịch số 69/2000/BNN-TCTK của Bộ NN&PTNT và Tổng Cục Thống kê đã
thúc đẩy và phát triển cho các trang trại phát triển theo những định hướng của nhà
nước. Cho đến 01/10/2001mới có 1.762 trang trại chăn nuôi trong cả nước so với
tổng 60.762 trang trại mới chiếm 2,9%. Chủ yếu tập trung ở các vùng Đồng bằng,
còn ở các tỉnh ven biển và Trung du miền núi phía bắc còn chưa phát triển, như tỉnh
Phú Thọ năm 2001 chưa xuất hiện trang tại chăn nuôi.
Đến nay trang trại chăn nuôi đã phát triển mạnh ở các tỉnh miền núi phía Bắc,
số lượng trang trại đã tăng lên khá nhanh chư có con số chính xác về số lượng các
trang trại chăn nuổitong cả nước, nhưng chỉ xét riêng ở Phú Thọ là tỉnh miền núi
phía Bắc theo con số thhóng kê năm 2001 thì Phú thọ chưa có một trang trại chăn
nuôi nào, nếu có thì chỉ ở quy mô hộ gia đình chăn nuôi. Nhưng đến năm 2003 đã
25