Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam chóng ta là một nước nông nghiệp từ lâu đời. Hiện nay sản
lượng lương thực – thực phẩm đã đáp ứng đủ nhu cầu cho gần 86 triệu dân
trong nước và chúng ta còn đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo. Trong
sản xuất nông nghiệp nói chung thì ngành chăn nuôi chiếm một vị trÝ quan
trọng, vì nó cung cấp một khối lượng thịt, mỡ dùng làm thực phẩm cho con
người. Ngoài ra nó còn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản
phẩm phô cho ngành chế biến.
Nhờ các đặc tính, đặc điểm sinh vật học ưu việt của con lợn nh: khả
năng sinh sản cao, khả năng cho thịt lớn, tạp ăn, chi phí thức ăn trên 1kg tăng
trọng thấp. Mặt khác thịt lợn có giá trị dinh dưỡng cao và phù hợp với thị hiếu
con người. Do vậy ngành chăn nuôi lợn chiếm tỷ trọng cao trong các ngành
sản xuất chăn nuôi nói chung. Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh
tế nước nhà, đời sống kinh tế xã hội của nhân dân ngày càng được nâng cao
thì nhu cầu của con người về sản phẩm chăn nuôi và sản phẩm thịt lợn nói
riêng ngày càng tăng lên trong đời sống hàng ngày của nhân dân.
Hiện nay có tới 80% - 90% tổng số đàn lợn trong nước được nuôi trong
khu vực gia đình, đõy là điều rất phù hợp với điều kiện sản xuất nông nghiệp
của nước ta bởi vì tại đây nguồn phế phụ phẩm sẵn có, đồng thời tận dụng
nguồn lao động phụ và thời gian nhàn rỗi trong mỗi hộ gia đình. Bên cạnh đó
nó là hoạt động kinh tế quan trọng và góp phần tăng thu nhập cho các nông hộ.
Đảng và nhà nước ta đã nhận thức rõ vai trò ý nghĩa và tầm quan trọng
của ngành chăn nuôi lợn thịt trong nền kinh tế quốc dân, do đó trong những
năm gần đây Đảng và Nhà nước đã có chủ trương chỉ đạo phát triển ngành
nghề này. Để nâng cao năng xuất, chất lượng thịt lợn trong nhiều năm qua
1
Đảng và nhà nước đã chủ trương nhập nhiều giống lợn ngoại. Tạo ra các tổ
hợp lai nâng cao năng xuất và tỷ lệ nạc, đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho đời
sống người dân cũng như một phần cho xuất khẩu. Trà lĩnh là một trong
ở địa bàn làm cơ sở cho việc khẳng định hướng phát triển ngành chăn nuôi
lợn của huyện.
1.3. Điều kiện thực hiện chuyên đề
1.3.1. Điều kiện bản thân
Trên cơ sở được học lý thuyết từ các môn cơ sở và chuyên ngành ở 4
năm đại học đã giúp em có thêm kiến thức để thực hiện chuyên đề này.
- Môn cơ sở: Thức ăn, giải phẫu, sinh lý, dược lý
- Môn chuyên ngành: Chăn nuôi lợn, bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng
thú y cơ bản
Được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, Khoa chăn nuôi thú y, đặc biệt là sự hướng dẫn và chỉ bảo
nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn KS. Phạm Diệu Thùy đã giúp đỡ em hoàn
thành chuyên đề này.
1.3.2. Điều kiện cơ sở
1.3.2.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý:
Trà Lĩnh là huyện miền núi phía Bắc của tỉnh Cao Bằng có đường quốc
lộ 3 chạy dọc theo chiều dài của huyện. Trung tâm huyện cách thị xã Cao
Bằng khoảng 40 km.
+ Phía Đông giáp huyện Trựng Khánh – Cao Bằng
+ Phía Tây giáp huyện Hà Quảng – Cao Bằng
+ Phía Nam giáp huyện Trưng Vương – tỉnh Cao Bằng
3
+ Phía Bắc giáp Trung Quốc
b. Điều kiện địa hình và đất đai
Huyện Trà Lĩnh có địa hình rất đa dạng, mang đặc thù của địa hình
miền núi, được phân bố từ cao xuống thấp, đất canh tác chủ yếu là đất dốc
với địa hình miền núi, trong đó núi đá chiếm một phần đáng kể. Do địa
hình đồi núi như vậy làm cho việc đi lại của nhân dân trong huyện gặp rất
nhiều khó khăn đặc biệt là vào mùa mưa lũ. Bên cạnh những khó khăn trên,
qua Đảng bộ và Chính quyền từ huyện đến cơ sở đã tập trung chỉ đạo đầu tư
đúng mức cho phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với ngành chăn nuôi tạo nên
tốc độ cho phát triển kinh tế nhanh và toàn diện trên mọi lĩnh vực.
Với thực trạng tăng trưởng kinh tế của huyện trong năm 2008 theo giá
trị sản xuất tăng bình quân 17%. Trong đó, Nông – Lâm nghiệp tăng 6,8%;
tiểu thủ công nghiệp và xây dựng tăng 19,8%; dịch vụ tăng 21,7%, lương thực
thực phẩm theo đầu người tăng 643kg/người/năm vào năm 2007 tăng lên
720kg/người/năm vào năm 2008.
b. Điều kiện về xã hội
Toàn huyện Trà Lĩnh có 180 thôn bản nằm trong địa giới hành chính
của 13 xã, thị trấn trong đó có 8 xã đặc biệt khó khăn. Theo số liệu thống kê
năm 2008 của phòng thống kê huyện Trà Lĩnh thì huyện có 6 dân tộc anh em
đó là: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Hoa. Trong đó dân tộc Tày và Nùng
chiếm chủ yếu, các dân tộc rất đa dạng về tập quán canh tác lẫn đời sống văn
hoá. Tổng dân số toàn huyện là 28.935 người trong đó có:
- Sè người ở độ tuổi lao động là 15.361 người, chiếm 53,087% tổng dân
số toàn huyện.
- Dân số phân theo nông thôn là 25.130 người, chiếm 90,58% dân số
toàn huyện.
5
- Dân số phân theo thành thị là 3.515 người, chiếm 12,14% dân số
toàn huyện.
- Mật độ dân số trung bình là 45,76 người/km
2
. Toàn huyện có 6534 hé
trong đó:
+ Số hộ làm nông nghiệp là 5.765 hộ, chiếm 88,23%.
+ Số hộ làm lâm nghiệp là 85 hộ, chiếm 1,3%.
+ Số hộ làm thương nghiệp là 407 hộ, chiếm 6,22%.
+ Sè hộ làm các ngành nghề khác là 308 hộ, chiếm 4,71%.
hạn chế cần khắc phục từng bước như trình độ chuyên môn, cơ sở vật chất và
các trang thiết bị chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân
dân…Ngoài ra cũng còn phải tuyên truyền hơn nữa về y tế tới bà con nhân
dân, đặc biệt là ở các vùng cao, vùng sâu bởi vì ở đây bà con dân tộc vẫn còn
mang nặng phong tục mê tín dị đoan lạc hậu.
- Về giao thông: Trà Lĩnh là một huyện miền núi, có địa hình phức tạp tập
trung chủ yếu là đồi núi đá, chính vì vậy giao thông là vấn đề hết sức khó khăn
của huyện, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng xa. Nơi mà các phương tiện giao
thông chưa đến được việc đi lại của bà con nông dân là rất khó khăn. Quốc lộ 3
là quốc lộ duy nhất chạy qua trung tâm huyện và một số xã của huyện, vừa qua
quốc lộ này đã được nâng cấp và mở rộng, góp phần đáng kể về việc đi lại giao
lưu buôn bán của bà con dọc hai bên quốc lộ có nhiều thuận lợi hơn trước.Tuy
nhiên công tác phát triển giao thông huyện còn chậm, công tác xây dựng chưa
hoàn chỉnh, bê tông hoá đường giao thông thôn xóm gần như chưa có.
Về thuỷ lợi: hệ thống công trình thuỷ lợi đã được chú trọng, đặc biệt là
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng với sự hỗ trợ vốn của tỉnh hệ thống
thuỷ lợi đã được kiên cố hoá hàng năm. Cụ thể toàn huyện có 300 công trình
7
thuỷ lợi trong đó có 95 công trình kiên cố (đập, mương) đảm bảo diện tích
chủ động tưới nước cho 1.262 ha.
- Về tập quán canh tác:
Trồng trọt: Chủ yếu theo phương thức luân canh và chuyên canh một số
cây trồng truyền thống nh: lúa, ngô, đậu tương, thuốc lá, Đến nay do thay đổi về
nhận thức và được sự quan tâm chỉ đạo của phòng NN và PTNT của huyện như
chuyển giao kỹ thuật trồng trọt, cung cấp các giống mới có năng suất cao nên đã
đáp ứng được nhu cầu của người dân cả huyện và một số địa phương khác.
Chăn nuôi: Trước đây nhân dân trong vùng chủ yếu là chăn nuôi
theo phương thức chăn thả. Ngành chăn nuôi nhìn chung chưa có sự đầu tư
về giống, chuồng trại, kỹ thuật và chăm sóc. Do vậy năng suất còn thấp và
chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân trong huyện. Ngoài ra do người dân
bước chuyển mình đáng kể. Đặc biệt là trong vài năm gần đây có thể nói đó là
bước phát triển lớn đối với các nghành chăn nuôi của huyện.
Bên cạnh đó, huyện Trà Lĩnh có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho
việc phát triển nghành chăn nuôi trâu bò, dê và gia cầm, do địa phương có
diện tích đất bãi tự nhiên rộng, có nguồn thức ăn phong phó cho chăn nuôi
trâu, bò, dê. Ngoài ra đất ở đây cũng rất thích hợp cho việc trồg cỏ, để chủ
động trồng cỏ, để chủ động về nguồn thức ăn. Tổng số đàn gia sóc, gia cầm
của toàn huyện trong những năm gần đây. Điều này được thể hiện ở bảng sau.
Bảng 1.2: Tổng đàn gia sóc, gia cầm qua các năm
Năm
Chỉ tiêu
Đơn
vị
2006 2007 2008 2009
So sánh năm
09/08(%)
Trâu con 12.981 11.852 11.971 12.267 102,4
Bò Con 8.571 8.301 8.886 9.832 110,6
Lợn con 17.756 18.344 20.434 20.712 101,3
Gia cằm con 131.632 125.886 119.700 115.521 96,5
(Nguồn : Phòng NN &PTNT huyện Trà Lĩnh)
9
+ Chăn nuôi trâu bò: Cả huyện có tổng số trâu là 12.166 con (năm
2009) đạt 102,47% so với năm 2008 (11.971 con). Đối với đàn bò trong năm
2009 có số lượng là 9.832 đạt 110.971% so với năm 2008 (8.886 con).
Nhìn chung trâu bò là đối tượng gia sóc quan trọng phù hợp với điều
kiện của một huyện miền núi mà sản xuất nông nghiệp là chính. Trâu bò được
nuôi ở gia đình với mục đích sử dụng chính là sức kéo và lấy phân bón cho
ngành trồng trọt, với quy mô nhỏ, số trâu bò nuôi trong hé gia đình còn Ýt.
Trâu = 1,89 con/hộ; Bò = 1,48 con/hộ
thuật nông nghiệp cũng góp phần không nhỏ vào sản xuất.
1.5. Đánh giá chung
Từ những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình
sản xuất của huyện Trà Lĩnh cho phép em được đánh giá sơ bộ những thuận
lợi khó khăn của huyện như sau:
1.5.1. Thuận lợi
+ Huyện Trà Lĩnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển
mô hình nông – lâm kết hợp.
+ Huyện có đường giao thông quốc lộ 3 chạy qua và hiện nay có một số
tuyến đường giao thông liên xã đã đi vào sử dụng do đó tương đối thuận tiện
cho việc đi lại, vận chuyển, tiêu thụ hàng hoá, giao lưu văn hoá và chuyển
giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
+ Huyện có lực lượng lao động dồi dào, chịu khó tham gia tích cực
thực hiện các chương trình của huyện.
+ Bộ máy chính quyền vững mạnh với đội ngũ cán bộ đông đảo, có
chuyên môn làm việc tận tuỵ và có tinh thần trách nhiệm cao.
11
1.5.2. Khó khăn
+ Do trình độ dân trí trong huyện không đồng đều nên việc phổ biến,
chuyển giao kỹ thuật vào sản xuất gặp rất nhiều khó khăn.
+ Mật độ dân số phân bố không đồng đều làm cho công tác dân vận của
địa phương gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế .
+ Nông nghiệp là thế mạnh nhưng chưa đầu tư đúng mức. Số lượng
trang trại còn rất Ýt và cũng chỉ mới bắt đầu hình thành, tập quán chăn nuôi
còn lạc hậu. Thêm vào đó là các sản phẩm của nông nghiệp chưa có thị
trường tiêu thụ ổn định.
+ Lực lượng cán bộ cơ sở chưa qua đào tạo chuyên sâu, còn nhiều hạn
chế đặc biệt là các nghành đòi hỏi kỹ thuật cao.
1.6. Nội dung và phương pháp thực hiện
1.6.1. Nội dung thực hiện
NN. Từ đó có điều kiện thuận lợi cho quá trình tiến hành công việc của mình,
vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế sản xuất và phải luôn chú y lắng
nghe ý kiến của người dân, bên cạnh đó còn phải học hỏi kinh nghiệm của cán
bộ cơ sở trạm thú y về công tác phòng và điều trị bệnh cho các loại gia sóc gia
cầm trong toàn huyện.
+ Tham gia hội thảo giao lưu tiến bộ khoa học – kỹ thuật giữa phòng
NN với người dân ở các xã.
1.7. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
1.7.1. Công tác chăn nuôi
Qua tiếp xúc và tìm hiểu phong tục tập quán của người dân trong
huyện, em đã nhận thấy rằng hầu hết tập quán chăn nuôi của bà con còn rất
lạc hậu. Do vậy việc tuyên truyền vận động nhân dân áp dụng tiến bộ khoa
13
học kỹ thuật và thực tiễn chăn nuôi là rất quan trọng. Chính vì vậy em đã
nhiệt tình phổ biến khoa học kỹ thuật cho bà con chăn nuôi, vận động bà con
chăn nuôi hợp vệ sinh, chuồng trại Êm áp về mùa đông và mát mẻ về mùa hè,
vệ sinh sạch sẽ chuồng trại phải có hố ủ phân rác để tránh các mầm
bệnh đảm bảo sức khoẻ con người và vật nuôi. Ngoài ra em còn phổ
biến cho bà con một số giống mới, các loại thức ăn cho gia sóc gia cầm
theo hướng chăn nuôi công nghiệp.
14
1.7.2. Công tác thú y
Thực hiện phương châm: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Cho nên trong
thời gian thực tập tốt nghiệp em đã kết hợp với cán bộ phòng NN và trạm thú
y huyện tiến hành tiêm phòng và điều trị bệnh cho gia sóc, gia cầm. Công tác
tiêm phòng được trạm thú y tiến hành hai đợt (tháng 3 – 4 và tháng 9 - 10)
tiêm phòng chủ yếu các loại vaccin như: Tụ huyết trùng trâu bò, vaccin tụ dấu
lợn và dịch tả lợn, vaccin phòng dại ở chó, vaccin Newcastle cho gà…Nhờ
công tác tiêm phòng được duy trì đều cho nên hàng năm Ýt xảy ra dịch bệnh.
Bảng 1.3: Kết quả tiêm phòng cho đàn gia sóc trong huyện năm 2009
ngoài ra dùng các loại lá đắng chát như: Búp ổi, búp hồng xiêm cho lợn uống.
* Bệnh ở trâu bò
+ Bệnh giun đũa ở bê nghé: Trong quá trình thực tập trên địa bàn em
thấy 1 số bê nghé của một số hộ gia đình có triệu chứng mắc giun đũa, khả
năng vận động của bê nghé chậm chạp, dáng vẻ mệt mỏi, cong đuôi, bú kém.
Kiểm tra phân thấy sự chuyển mầu từ xanh đen sang mầu vàng có lẫn chất
nhầy rồi chuyển sang màu trắng xám.
Điều trị: Dùng Levamisol 1ml/90 kg thể trọng (tiêm bắp) sau 2 ngày
theo dõi thấy kết quả giun ra và bê, nghé khỏi dần.
Kết quả công tác phục vụ sản xuất được thể hiện qua bảng sau:
16
Bảng 1.4: Kết quả công tác phục vụ sản xuất
TT Nội dung công việc
Số lượng
(con)
Kết quả Tỷ lệ (%)
1 Phòng bệnh An toàn
- Vaccin tụ huyết trùng trâu bò 80 80 100
- Vaccin tô – dấu lợn 140 140 100
- Vaccin phó thương hàn lợn 115 115 100
- Vaccin phòng dại chó 20 20 100
Điều trị Khái
- Phó thương hàn lợn 12 10 83,33
- Tụ huyết trùng lợn 15 13 86,66
- Lợn con ỉa phân trắng 15 10 66,6
- Giun đũa bê nghé 10 10 100,0
2 Công việc khác
- Thô tinh nhân tạo lợn 5 4 80,0
- Đỡ đẻ lợn 2 2 100,0
- Tiêm Dextran – Fe cho lợn con 70 70 100,0
các đặc tính này để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc, quản lý và phát
triển chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp với quy mô lớn, bằng cách tạo ra
cho con lợn các phản xạ có điều kiện như: ăn uống đúng chỗ, đúng giờ quy
định, đối với lợn đực giống huấn luyện nhảy giá trong công tác thụ tinh nhân
tạo để lai tạo giống.
b. Khả năng sinh sản và cho sản phẩm của lợn
- Lợn là loại gia súc đa thai nên sức sinh sản của lợn rất cao đõy cũng
là một tiêu chuẩn để xác định gớa trị của con vật. Khả năng này được thể hiện
bằng các tiêu chuẩn nh: đẻ con nhiều, đẻ nhiều lứa, tỷ lệ con còn sống sau khi
đẻ cao… Đặc tính sinh sản có liên quan đến thời gian thành thục, chu kỳ động
dục và thời gian động dục sau khi đẻ.
18
- Hiện nay chủ yếu các giống lợn nái Móng Cái theo nhiều tác giả thì
giống lợn Móng Cái có nhiều đặc tính tốt cần được bảo vệ và dự trữ gen bằng
cách nhân giống thuần chủng với các giống lợn khác.
- Về khả năng cho sản phẩm của lợn thì đối với các loài gia súc khác
không loài nào có khả năng cho sản phẩm (chủ yếu là thịt) nhanh, chất lượng
sản phẩm thịt tốt, mức dộ tiêu hoá của thịt lợn đạt 50% mỡ lợn tiêu hoá có thể
đạt 98%.
Trong 1kg thịt lợn có từ 21 – 35% mì, 50 – 55% nước có 3.085 Kcal.
Trong khi đó 1kg thịt dê có 8% là mỡ, 60 – 75% là nước và có 2.775 Kcal
(Nguyễn Khánh Quắc và cộng sự, 1993)[9].
c. Kết cấu ngoại hình
Đặc trưng của phẩm chất giống thể hiện qua ngoại hình làm cho giá trị
giống được nâng cao lên. Kết cấu ngoại hình nó được xác định ngay sản phẩm
giống với các tính năng sản xuất, tạo nên sự tin cậy về phẩm chất của giống
(Trần Đình Miên - 1992)[7]. Sự kết cấu ngoại hình giữa kết cấu bộ phận của
cơ thể cũng mang đặc trưng cho từng giống, đặc trưng đó không phụ thuộc
vào điều kiện ngoại cảnh.
Căn cứ vào ngoại hình để chọn giống và để cho các hướng sản xuất,
được cải tiến trong điều kiện nuôi dưỡng tốt nên lợn tăng trọng nhanh, thời
gian nuôi ngắn, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng Ýt, còn các giống chưa được
cải tiến thì năng suất, sản xuất thấp, thời gian nuôi kéo dài, chi phí thức ăn
cao. Do đó trong quá trình chăn nuôi, muốn nâng cao năng suất, chất lượng
sản phẩm của nuôi lợn thịt, bên cạnh yếu tố thức ăn, chăm sóc, nuôi dưỡng và
quản lý tốt thì chất lượng con giống là rất quan trọng. Để đáp ứng đủ các loại
con giống có khả năng sinh trưởng phát triển tốt như: năng suất thịt cao, chất
20
lượng thịt tốt, tỷ lệ thịt cao, tiêu tốn thức ăn Ýt…Để phục vụ cho tiêu dùng và
xuất khẩu thì đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải đưa ra được các công thức lai phù
hợp với điều kiện sinh thái từng vùng, đặc biệt là các vùng miền núi phía bắc.
Con lai F1 nhiều năm đã được nhiều người dân miền núi phía Bắc ưa
chuộng và phát triển mạnh chính là nhờ các đặc tính ưu việt của con lợn như:
khả năng thích nghi cao với mọi điều kiện sống, khả năng tận dụng thức ăn
thô xanh, sức chịu bệnh tốt…Rất phù hợp với các điều kiện chăn nuôi thực tế
cũng như các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng ở địa phương.
* Nhân tố thức ăn
Lợn là loài gia súc ăn tạp, chịu đựng kham khổ cao, có thể sử dụng các
thức ăn thô xanh, các phế phụ phẩm của ngành công nghiệp chế biến, cũng
như các loại thức ăn ngũ cốc, hoà thảo, các loại thức ăn có nguồn gốc động
vật, thức ăn bổ sung như VTM, kháng sinh. Đối với lợn thì khả năng chuyển
hoá tốt do vậy tiêu tốn/kg tăng trọng so với trâu bò thấp hơn nhiều. Qua
nghiên cứu ta thấy lợn nội có khả năng tận dụng thức ăn thô xanh tốt hơn
giống lợn ngoại. Đây là loại thức ăn tốt, chứa nhiều dinh dưỡng mà tập quán
người dân hay dùng thức ăn thô xanh để nuôi lợn. Đối với các giống lợn
ngoại mà người sử dụng thức ăn thô xanh thì sinh trưởng kéo dài hơn lợn nội,
xong nếu chăm sóc, nuôi dưỡng trong điều kiện thức ăn tốt (thức ăn tinh) thì
giống lợn ngoại lại sinh trưởng phát triển tốt hơn lợn nội. Do đó mà thức ăn
đóng vai trò quan trọng, chiếm 70% giá thành sản phẩm. Đối với từng con
giống đó là khẩu phần ăn tốt, khả năng sản xuất, sản phÈm với chi phí giá
- Lợn thịt nuôi trên và dưới 6 tháng : 0,7 – 1m
2
/con.
- Lợn nái đẻ nuôi con : 4 – 5 m
2
/con.
- Lợn hậu bị nuôi trên và dưới 6 tháng tuổi : 0,8 – 2 m
2
/con.
22
- Lợn nái chửa : 2 - 3m
2
/con
- Lợn đực giống : 6 m
2
/con.
(Trương Lăng (1999)[5].
Về nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 – 20
0
C, độ Èm 75 – 80%. Nếu
nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng, tăng
trọng của lợn, hiệu quả chăn nuôi kém. Nếu nhiệt độ quá cao lúc này lợn sẽ
mệt mỏi làm giảm tính thèm ăn, nếu nhiệt độ quá thấp làm cho lợn phải tiêu
tốn nhiệt năng để duy trì thân nhiệt.
Ánh sáng cũng ảnh hưởng đến sự tăng trọng của lợn, đặc biệt là trong
giai đoạn vỗ béo.
Thức ăn, nước uống, chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thó y, nơi nghỉ
ngơi của lợn phải thoáng mát, sạch sẽ.
Hàng năm tiến hành tiêm phòng định kỳ cho đàn lợn, đồng thời phải
thường xuyên tẩy giun ở các độ tuổi khác nhau của lợn. Khi đã phát hiện gia
giai đoạn phát triển và vỗ béo của lợn. Cân đối giữa nguồn thức ăn động vật
và khoáng vật để lợn tiêu hoá và hấp thu cao nhất. Có hiệu quả vì chi phí thức
ăn chiếm 70 - 75% giá thành thịt lợn. Các giống lợn ngoại thuần, lai hướng
nạc, hoặc nạc mỡ có tỷ lệ thịt nạc cao đòi hỏi khẩu phần thức ăn có tỷ lệ
protein cao để tạo ra thịt. Lợn nội nhiều mỡ thì thức ăn cần bột đường nhiều.
Ở lợn hướng mỡ có bộ máy tiêu hoá phát triển nhanh, lợn tích luỹ mỡ sớm. Ở
lợn hướng nạc hệ hô hấp và tuần hoàn phát triển nhanh, trao đổi chất được
tăng cường để sản xuất thịt. Ở lợn hướng nạc bộ máy tiêu hoá có nhiều men
phân giải protein, ở lợn hướng mỡ thì nhiều men phân giải đường.
Theo (Phạm Hữu Doanh, 1997) {3} tuổi thành thục sinh dục ở lợn lai
muộn hơn lợn nái nội thuần chủng ( Ỉ, Móng Cái… ) Thường ở từ tháng thứ 4
- 5 ( 120 - 150 ngày). ở lợn F1 thường động dục lần đàu ở 6 tháng tuổi và lợn
ngoại là 6 - 8 tháng tuổi.
- Điều quang trọng đối với lợn nái và lợn cái hậu bị mang thai là đủ số
lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để kết quả sinh sản tốt. Nguyễn Tấn
Anh, (1995) {1} cho biết để duy trì năng xuất sinh sản cao thì nhu cầu dinh
24
dương cho ăn tự do chi đến khi đạt khối lượng 80 - 90kg, sau đó cho ăn hạn
chễ đến khi phối giống ( chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) 2kg/ngày (khẩu
phần là 14% Pr thô)
Khi nghiên cứu về đặc điểm sinh lý của lợn nái, tác giả Lê Văn Cường
1986 {2} cho biết: Tuổi đẻ lữa đầu của lợn nái phụ thuộc vào sự thành thục
của giống, điều kiện chăn sóc nuôi dưỡng
Trong chăn nuôi dùng công thức lai (lai kinh tế 3 máu) trên nền nái F1:
Móng Cái x Yorkshire, Móng Cái x DE với đực giống Landrace, tất cả các
con lai đem nuôi thịt và có tỷ lệ thịt trên thân thịt xẻ đạt trên 46%, chất lượng
thịt ngon, giảm phụ phẩm và mỡ.
Tóm lại: Ở nước ta hiện nay chủ yếu là dùng nái địa phương đem lai
tạo với đực ngoại cho con lai có tỷ lệ thịt xẻ cao, tỷ lệ nạc cao, chất lượng thịt
tốt. Công tác giống đã chú trọng đầu tư và phát triển nhằm đem lại lợi Ých