PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của chuyên đề
Trong sự nghiệp đổi mới nền kinh tế nông nghiệp nước ta đã có những
tiến bộ vượt bậc, từ một nền sản xuất mang nặng tự cấp tự túc, thiếu lương thực
triền miên trở thành một nước không chỉ đủ lương thực, thực phẩm đảm bảo
cuộc sống cho nhân dân mà mỗi năm còn xuất khẩu hàng triệu tấn lương thực
thực phẩm, thu về cho đất nước hàng tỷ USD. Cùng với trồng trọt, chăn nuôi ngành
kinh doanh lúa gạo cũng dần khẳng định vị thế của mình trong cơ cấu sản xuất của
ngành nông nghiệp. Trong những năm qua kinh doanh lúa gạo phát triển khá mạnh.
Những năm gần đây kinh doanh lúa gạo đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội tuy
nhiên, để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng và của thị
trường, đòi hỏi người phải mở rộng qui mô, đưa các giống năng suất cao, chất
lượng tốt và hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất.
Thành Hưng là một xã sản xuất nông nghiệp chủ yếu là lúa nước. Trong
những năm qua kinh doanh lúa gạo đã góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, nâng cao thu nhập, tạo việc làm cho người lao động,
khai thác được lợi thế so sánh của địa phương. Tuy nhiên trong quá trình phát
triển kinh doanh lúa gạo của xã vẫn gặp những khó khăn bất cập cần được giải
quyết đó là: kinh doanh vẫn mang tính nhỏ lẻ, qui mô nhỏ, năng suất lao động
thấp sản phẩm lúa gạo còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiêu thụ so với
các ngành khác. Để góp phần giải quyết tồn tại trên và tìm ra các nguyên nhân
ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh và có những giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao hiệu quả kinh tế từ lúa gạo tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hoạt động kinh
doanh lúa gạo tại xã Thành Hưng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá”.
1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu hoạt động kinh doanh lúa gạo của xã tìm ra những
yếu tố ảnh hưởng đến kinh doanh lúa gạo từ đó đề ra một số giải pháp thiết thực
để nâng cao hoạt động kinh doanh lúa gạo ở địa phương cho người dân ở xã
Thành Hưng.
* Số liệu thứ cấp:
Số liệu thứ cấp được thu thập dựa vào tài liệu được công bố trên báo chí,
tạp chí, sách chuyên ngành, niên giám thống kê qua các năm, thông tin truy cập
trên mạng internet qua các Website đồng thời số liệu này còn được thu thập từ
các phòng ban của địa phương, các báo cáo thống kê công khai hàng năm và các
tài liệu liên quan với nguồn thống kê qua 3 năm 2009 - 2011
* Số liệu sơ cấp:
Là số liệu gốc được thu thập trực tiếp từ các hộ kinh doanh lúa gạo trên
địa bàn xã bằng cách phỏng vấn, điều tra thông qua các phiếu điều tra.
1.4.3. Phương pháp xử lý số liệu.
Sau khi thu thập được số liệu chúng tôi tiến hành kiểm tra đánh giá, điều
tra bổ sung. Sau đó xử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu theo những nội
dung đã được xác định. Trong quá trình đó, chúng tôi sử dụng phương pháp
phân tích thống kê để hệ thống hoá số liệu thu thập theo những tiêu thức cần
thiết, phù hợp logic với mục tiêu nghiên cứu.
1.4.4. Phương pháp phân tích số liệu.
1.4.4.1. Phương pháp phân tích thống kê mô tả:
Là phương pháp cơ bản được sử dụng để phân tích số liệu. Bằng việc sử
dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân Kết hợp với việc so
3
sánh giữa các nhóm để phân tích, nêu nên mức độ của hiện tượng (quy mô, cơ
cấu kinh doanh và năng suất sản phẩm ).
1.4.4.2. Phương pháp chuyên gia chuyên khảo:
Trên cơ sở tham khảo ý kiến của một số người có kinh nghiệm đại diện
trong lĩnh vực nghiên cứu như cán bộ lãnh đạo các doanh nghiệp có kinh
nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh, các hộ kinh doanh có quy mô lớn Để đánh
giá hoạt động kinh doanh của xã.
1.4.4.3. Phương pháp so sánh
So sánh hoạt động kinh doanh trong kinh doanh lúa gạo theo các tiêu chí
như hiệu quả kinh tế theo quy mô khác nhau, phương pháp kinh doanh khác
sau. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên hàng năm đón nhận một lượng mưa
lớn (1.700-2.200mm)
Do quá trình sản xuất nông nghiệp, trải qua nhiều thế hệ, xã đã tạo ra hệ
thống sông ngòi dày đặc. Dòng sông chính là sông Bưởi một nhánh của sông
Mã. Tổng chiều dài các con sông, ngòi của xã lên tới15 km, mật độ bình quân từ
5-6km/km
2
. Hướng dòng chảy của các con sông đa số theo hướng tây bắc xuống
đông nam.
Ngoài hệ thống sông ngoài đê. Thành Hưng còn có hệ thống sông ngòi
trong đê chằng chịt chủ yếu phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng và sinh hoạt của
người dân.
Tài nguyên nước trong dòng chảy mặt ở xã rất phong phú. Mật độ sông
ngòi dày đặc chứa và lưu thông một lượng nước mặt khổng lồ. Nguồn cung cấp
hàng triệu m
3
từ các con sông, cộng vào đó là lượng nước mưa nhận được hàng
năm cũng rất lớn (hàng triệu tấn). Đây là điều kiện thuận lợi để cư dân sử dụng
5
tài nguyên nước mặt phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất ở mọi nơi trong tỉnh. Các
dòng chảy mặt đã được sử dụng tưới tiêu cho đồng ruộng thông qua hệ thống
thủy lợi: mương, máng tưới tiêu, hệ thống cống tự chảy
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1. Đất đai
- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong sản xuất
Nông nghiệp. Vai trò của đất đai càng trở nên quan trọng hơn đối với những địa
phương mà sản xuất nông nghiệp là chủ yếu như ở xã Thành Hưng. Do vậy, việc
sử dụng đất đai có ý nghĩa rất lớn trong vấn đề phát triển kinh tế của xã. Tình hình
sử dụng đất đai của xã qua ba năm 2009 - 2011 đã được thể hiện qua bảng 1.1.
- Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 560,4 ha trong đó đất Nông nghiệp
4. Đất nghĩa trang 10,03 7,92 10,03 7,41 10,03 7,34 93,56 99,05 96,31
5. Đất làm VLXD 4,18 3,30 5,04 3,73 5,04 3,69 113,03 98,93 105,98
6. Đất lịch sử, văn hoá 2,39 1,89 2,39 1,77 2,39 1,75 93,65 98,87 96,26
7. Đất khác 6,46 5,10 6,46 4,77 6,46 4,86 93,53 101,89 97,71
III. Đất thổ cư 37,75 6,73 38,5 6,86 39,04 6,96 101,93 101,45 101,69
IV. Đất cha sử dụng 42,86 7,64 33,48 5,97 31,62 5,64 78,14 94,47 86,31
V. Một số chỉ tiêu
1. Đất NN/Khẩu NN 0,067 - 0,069 - 0,071 - 101,49 104,41 102,95
2. Đất canh tác/Khẩu NN 0,05 - 0,05 - 0,05 - 100,00 100,00 100,00
Nguồn: Số liệu thống kê xã Thành Hưng
7
2.1.2.2. Dân số lao động
Bên cạnh đất đai thì lao động cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng trong
quá trình sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng bởi nguồn lao
động là lực lượng nòng cốt của mọi hoạt động trong xã và là nhân tố quan trọng
thúc đẩy nền sản xuất phát triển. Tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm
2009 – 2010 được thể hiện qua bảng 1.2.
Năm 2011 trên toàn xã có 4,166 lao động tăng 3,81% so với năm 2010, trong
đó lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao 79,16 %. Tuy nhiên trong cơ cấu lao động
thì tỷ lệ lao động nông nghiệp đang có xu hướng giảm dần qua các năm. Năm 2009
là 87,38 % năm 2010 là 84,51% và đến năm 2011 giảm còn 79,16%.
Mức bình quân lao động nông nghiệp/hộ năm 2011 đạt 2,44 lao động. Như
vậy có thể thấy trong mỗi hộ nông nghiệp bình quân có 2 lao động chính.
Thực tế trong những năm gần đây do sự đa dạng hoá trong phát triển kinh
tế nông nghiệp nông thôn như đẩy mạnh ngành nghề, đa dạng giống cây trồng
vật nuôi đã tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập cho người lao động. Song
thực tế đời sống kinh tế của xã vẫn ở mức thấp và tốc độ chuyển dịch chưa
nhanh. Nhu cầu về việc làm và tăng thu nhập cho người nông dân đang là vấn đề
cần được quan tâm giải quyết.
8
nông nghiệp phát triển. Cơ sở vật chất phục vụ cho y tế, giáo dục khá tốt, trạm
xá khang trang, sạch sẽ đảm bảo cho việc chăm sóc sức khoẻ và khám chữa
bệnh cho nhân dân trong xã. Hai ngôi trường tiểu học và trường THCS được xây
dựng kiên cố với các dãy nhà hai tầng và đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cho
việc dạy và học là điều kiện thuận lợi để con em nông dân học tập. Ngoài ra, xã
còn có hệ thống loa phát thanh, bưu điện, nhà văn hoá với nhiều loại sách báo
phục vụ cho việc thông tin liên lạc, tuyên truyền và giải trí của nhân dân. Bên
cạnh đó nhà làm việc của UBND xã cũng được xây dựng kiên cố, khang trang,
xã có một hội trường khá rộng và tiện nghi phục vụ cho các buổi họp, các buổi
hội thảo, tập huấn khuyến nụng cho bà con nông dân cũng như tổ chức các buổi
giao lưu văn hoá văn nghệ
10
Bảng 1.3. Tình hình cơ cơ sở hạ tầng của xã Thành Hưng
Diễn giải Đơn vị tính Số lượng
I. Công trình giao thông
1. Đường giao thông mét 12000
2. Đường nhựa mét 4500
3. Đường bê tông mét 800
II. Công trình thuỷ lợi
1. Trạm bơm cái 5
2. Kênh mương mét 25000
III. Công trình phúc lợi
1. Trường mẫu giáo trường 2
2. Trường tiểu học trường 1
3. Trường THCS trường 1
4. Trạm y tế cái 1
5. Đài phát thanh cái 1
6. Bưu điện cái 1
7. Nhà văn hoá cái 6
8. Chùa chiền cái 2
30,73% trong tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp. Như vậy cùng với sự
phát triển của ngành chăn nuôi, ngành trồng lúa đã đóng góp phần lớn vào sự
phát triển của xã Thành Hưng.
12
Bảng 1.4. Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Thành Hưng qua 3 năm 2009 - 2011.
Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 So sánh (%)
SL (Tr.đ) CC (%) SL (Tr.đ) CC (%) SL (Tr.đ) CC (%) 2010/2009 2011/2010 BQ
I. Tổng giá trị sản xuất
33.953,83 100,00 35.417,51 100,00 39.086,5 100,00 111,96 108,23 110,10
1. Ngành Nông nghiệp
24.877,53 73,27 27.325,51 77,15 29.764,2 76,15 116,45 108,30 112,38
Trồng trọt
14.817,525 59,56 16.408,51 60,05 19.316,7 64,90 95,36 98,91 97,13
Chăn nuôi
8.960 36,02 7.667,00 28,06 9.147,495 30,73 154,58 119,31 136,94
Cây đặc sản
1.100,005 4,42 1.250,00 11,89 1.300,005 4,37 113,64 104,00 108,82
2. Ngành nghề, dịch vụ
6.364 18,74 6.900,00 19,48 5.960,3 15,25 101,45 104,85 103,20
3. Thu khác
2.712,3 7,99 1.192,00 3,37 3.362 8,6 118,67 113,77 116,22
II. Một số chỉ tiêu
1. GTSXBQ/hộ/năm
18,856 - 20,74 - 21,902 - 110,00 105,60 107,80
2. GTSXBQ/khẩu/năm
4,835 - 5,28 - 5,555 - 109,14 105,27 107,20
3. GTSXBQ/LĐ/năm
9,97 - 10,978 - 11,557 - 110,11 105,27 107,69
Nguồn: Số liệu thống kê xã Thành Hưng
13
10 100,00
II.Số hộ không có nghề phụ 12 66,67 26 61,91 3 30,00
III. Số hộ có nghề phụ 6 33,33 16 7 70,00
1.Nghề từ lúa gạo 5 83,33 10 62,5 5 71,43
2.Nghề phụ khác 1 16,67 6 37,5 2 28,57
Qua bảng trên ta thấy tỷ lệ số hộ có nghề phụ nhiều nhất là ở những hộ có
quy mô nhỏ chiếm 70%. Và ít nhất là ở những hộ có quy mô lớn chiếm 33,33%.
Trong đó nghề phụ chủ yếu là kinh doanh từ lúa gạo. Những hộ có quy mô lớn
có nghề phụ từ lúa gạo chiếm 83,33 % trong tổng số 6 hộ có nghề phụ. Hộ có
quy mô vừa chiếm 62,5% trong tổng số 16 người có nghề phụ. Hộ có quy mô
nhỏ chiếm 71,43% trong tổng số 7 người có nghề phụ. Như vậy số hộ kinh
14
doanh lúa gạo trong tổng số hộ có quy mô lớn chiếm tỷ lệ lớn nhất nhỏ nhất là
quy mô vừa.
Hiện nay, các hình thức kinh doanh lúa gạo được các hộ sử dụng tại xã
chủ yếu là các hình thức sau:
Thu mua và chế biến các sản phẩm lúa gạo: sản xuất gạo, nấu rượu, dùng
làm bún, bánh phở, bánh đa, chế biến thức ăn chăn nuôi bằng các loại lúa gạo
không đủ tiêu chuẩn
Kinh doanh xuất khẩu và tiêu thụ nội địa: phân phối nội địa lúa gạo và
các sản phẩm từ lúa gạo.
Cụ thể như sau:
Bảng 1.6 Tình hình kinh doanh lúa gạo theo điều tra tại xã Thành Hưng
Hình thức kinh doanh
2009
(Hộ)
2010
(Hộ)
2011
(Hộ)
người đang ngày càng được nâng cao. Năm 2010 giảm 1,17% so với năm 2009
và năm 2011 giảm 4,22 % so với năm 2010.
+ Mặc dù nhu cầu làm bún, bánh phở tăng nhưng gạo V lại có xu hướng
giảm là do giống lúa V chỉ cấy được một vụ tháng 5 mà năng suất lại thấp nên
người nông dân ngày càng ít cấy giống lúa. Gạo V năm 2010 so với năm 2009
giảm 3,24 %, năm 2011 so với năm 2010 giảm 1,11 %.
+ Gạo Xi, Khang Dân, Tạp Giao vẫn tăng qua các năm.
+ Gạo ngon chất lượng (Tám Thơm, Bắc Thơm, Hương Cốm) mặc dù còn
chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng đang có xu hướng tăng dần. Gạo Bắc Thơm 2010 so với
năm 209 tăng 1,32 % và năm 2011 so với năm 2010 tăng 0,88 %. Như vậy cùng
với sự phát triển của đời sống, xã hội thì nhu cầu về gạo chất lượng ngày càng
tăng, đặc biệt là trong các dịp lễ tết thì những gạo có chất lượng được tiêu thụ
rất mạnh.
16
BẢNG 1.7 : Cơ cấu tiêu thụ các loại gạo của xã Thành Hưng
(Đơn vị: 1000 đồng)
Loại gạo
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
DT CP LN %LN DT CP LN %LN DT CP LN %LN
Kho 3696562 3671475 25087 24,15 4062344 4034036 28308 22,30
2571843 2554811 17032 15,74
Q 2446741 4417437 29304 28,21 3250550 5215616 34934 27,52
4197586 4169073 28513 26,35
V 1475257 2457930 17327 16,68 2554098 2734663 19435 15,31
1506831 1693770 13061 12,07
Tạp giao 1709530 1697564 11966 11,52 2423584 2407526 16058 12,65
2667638 2649578 18060 16,69
Khang dân 1535906 1525154 10752 10,35 2191570 2177645 13925 10,97
2350023 2334246 15777 14,58
Xi 488225 483935 4290 4,13 900936 894157 6779 5,34
hộ đã mạnh dạn vay vốn để kinh doanh lúa gạo. Không chỉ dừng lại ở những
hình thức kinh doanh đơn giản, hiện nay số hộ có quy mô sản xuất lớn và các
máy móc hiện đại chiếm 2/3 trên địa bàn huyện. Các sản phẩm sau khi hoàn
thành được phân phối đến các đại lý trên toàn tỉnh và các tỉnh khác trên phạm vi
cả nước hoặc phân phối trực tiếp đến tay người tiêu dùng.
Phân phối theo phương thức bán trực tiếp cho người tiêu dùng :các hộ
xây dựng các cửa hàng giới thiệu sản phẩm, bán hàng trực tiếp. Khách hàng là
những người mua lẻ với mục đích tiêu dùng trực tiếp đến các cửa hàng để mua.
Mục đích của các cửa hàng là giới thiệu mặt hàng mới cho người tiêu dùng vì
thế mà việc bố trí và trưng bày các cửa hàng rất quan trọng.
Người dân Lúa gạo
Doanh nghiệpSản phẩm
18
Phân phối theo phương thức thông qua các đại lý, cửa hàng đến người
tiêu dùng: Gạo là sản phẩm phổ thông cần thiết, quan trọng trong cuộc sống, nhu
cầu về gạo lại nhiều nhất trong những sản phẩm từ lúa do vậy mà cần phải có hệ
thống kênh phân phối rộng khắp đáp ứng kịp thời nhu cầu thường xuyên của
người tiêu dùng. Hiện tại gạo của xã mới chỉ có mặt ở các thị trường chủ yếu ở
phía bắc. Các hộ kinh doanh lúa gạo bán hàng cho các Công ty lương thực ở các
tỉnh, rồi từ đó các Công ty lương thực ở các tỉnh sẽ phân phối hàng đến các cửa
hàng nhỏ lẻ khác, hoặc đến các cơ sở làm hàng bún bánh, nấu rượu.
Sống trong thời đại bùng nồ về internet và các phương tiện truyền thông
hiện đại. Để sản phẩm được nhiều người biết đến một số hộ đã biết tận dụng các
lợi thế trên để quảng bá sản phẩm của mình bằng báo chí, web….Vì vậy, xã đã
thu hút được một số nhà đầu tư và các đại lý lớn giúp đẩy nhanh quá trình tiêu
thụ lúa gạo và các sản phẩm về lúa gạo. Một số nhà đầu tư sau khi nhận ra được
tiềm năng về sản lượng lúa gạo của xã đã không ngần ngại hỗ trợ giống và phân
bón cho người dân nhằm tăng năng suất lao động đáp ứng đủ sản lượng cho việc
kinh doanh lúa gạo.
2.2.3. Qui mô, số lượng, cơ cấu các cơ sở kinh doanh lúa gạo
cơ cấu tiêu thụ. Tuy vậy thị trường tiêu thụ sản phẩm vẫn còn hạn hẹp. Các hộ
mới chỉ kinh doanh chủ yếu ở các tỉnh Miền Trung và Miền Bắc vẫn chưa xâm
nhập được vào thị trường các tỉnh Miền Nam.
Bảng1. 9: Cơ cấu tiêu thụ gạo trên các thị trường
(Đơn vị: %)
20
Năm
TT
2009 2010 2011
Bắc Giang 27,7 26,5 25,3
Vĩnh Phúc 16,3 15,7 14,8
Quảng Bình 19,8 20,6 21,2
Hải Phòng 27,2 28,1 30,5
Thanh Hóa 8,3 8,1 8,2
Tổng 100 100 100
Nhìn vào bảng cơ cấu tiêu thụ các sản phẩm trên thị trường ta thấy sản
phẩm tiêu thụ tại các tỉnh, thành phố chiếm tỉ trọng không đều nhau.Thị trường
tiêu thụ sản phẩm mạnh nhất của các hộ kinh doanh trước kia là Bắc Giang
nhưng hai năm gần đây thị trường này có xu hướng giảm, thay vào đó Hải
Phòng là thị trường lớn nhất của xã.
+ Gạo tiêu thụ tại Bắc Giang ngày càng giảm năm 2009 giảm còn 27,7%,
năm 2010 giảm còn 26,5% và đến năm 2011 chỉ còn 25,3% . Gạo tiêu thụ chính
ở thị trường này là gạo kho, Q nấu rượu, một ít để ăn nhưng do nhu cầu về gạo
Q để ăn giảm, gạo từ Miền Nam tràn vào Bắc Giang nhiều mà giá lại rẻ nên dẫn
đến gạo của xã Thành Hưng tiêu thụ ở thị trường này ngày càng giảm.
+ Thị trường Hải Phòng, Quảng Bình tiêu thụ gạo ngày càng tăng là do hai
khu vực này ngành công nghiệp phát triển mạnh, nông nghiệp ít, nhiều công
nhân nhu cầu về gạo ngày càng tăng nhưng chủ yếu là gạo yếu là Khang Dân,
Tạp giao, Q.
+ Hiện nay Hải Phòng đang là thị trường tiêu thụ gạo mạnh nhất của xã từ
(Đơn vị: 1.000 đồng)
22
Năm
Chỉ tiêu
2009 2010 2011
I: chỉ tiêu quy mô
1. Tổng doanh thu
9.839.971 10.134.420 13.458.768
2.Tổng vốn 2.811.420 2.598.569 2.243.128
Trong đó vốn cố định 911.601 844.535 654.609
3.Tổng số lao động 160 162 165
II: chỉ tiêu hiệu quả
1.Số vòng quay vốn kinh doanh 3,5 3,9 6,0
2. Số vòng quay tài sản cố định 10,8 12,0 20,56
Qua bảng số liệu trên ta thấy:
* Chỉ tiêu về quy mô qua các năm 2009 –2011 đều tăng cả về doanh thu,
vốn, số lao động. Chứng tỏ quy mô của xã ngày càng được mở rộng.
* Chỉ tiêu về hiệu quả:
+ Số vòng quay vốn kinh doanh ngày càng tăng. Một đồng vốn năm 2009
tạo ra 3,5 đồng doanh thu, năm 2010 tạo ra 3,9 đồng doanh thu và đến năm 2011
tạo ra được 6,0 đồng doanh thu. Điều đó chứng tỏ vốn kinh doanh của xã sử
dụng ngày càng có hiệu quả hơn.
+ Số vòng quay tài sản cố tăng. Một đồng tài sản cố định năm 2009 tạo ra
10,8 đồng doanh thu, năm 2010 tạo ra 12 đồng doanh thu và đến năm 2011 tạo
ra 20,56 đồng doanh thu. Điều đó chứng tỏ việc sử dụng tài sản cố định của xã
đang dần có hiệu quả.
Bảng 2.2: Báo cáo kết quả kinh doanh của cac hộ kinh doanh lua gạo tại xã
Thành Hưng năm 2009-2011
(Đơn vị: 1.000 đồng)
Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
nhuận sau thuế cũng tăng qua các năm. Cụ thể, năm 2010 so với năm 2009 tăng
28.718 nghìn đồng tương ứng tăng 13,17%; năm 2011 so với năm 2010 tăng
123.181 nghìn đồng tương ứng tăng 49,9%.
Lợi nhuận tăng dẫn đến thu nhập của người lao động cũng tăng, góp phần
nâng cao đời sống của người dân trên địa bàn xã Thành Hưng, do vậy họ có
niềm tin vào công việc kinh doanh lúa gạo của họ trên đại bàn xã. Từ đó góp
phần đẩy mạnh năng suất lao động và số người tham gia vào lao động sản xuất
lúa gạo tại xã.
Bảng 2.3: Thu nhập của người lao động
24
(Đơn vị: 1000 đồng)
Năm 2009 2010 2011
Thu nhập bình quân một lao
động/tháng
1.200 1.800 2.000
Nhìn chung hoạt động của các hộ kinh doanh lúa gạo tại xã có chiều
hướng đi lên, kinh doanh có hiệu quả nhưng xã vẫn cần phải cố gắng, nỗ lực hơn
nữa để đạt được những kết quả tốt hơn, phấn đấu trong năm tới doanh thu đạt
500 tỷ, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ra toàn quốc.
Thành tựu khác
*Công tác từ thiện:
Xuất phát từ một xã nông nghiệp nghèo đi lên từ ngành lúa nước nên các
hộ kinh doanh lúa gạo tại xã luôn thấm nhuần truyền thống “ Lá lành đùm lá
rách” nên đã tích cực tham gia phong trào từ thiện như: Nuôi 1 cháu con mồ côi
cha mẹ ăn học (Hiện đang học đại học ). Hàng năm đều ủng hộ tiền và hiện vật
giúp đỡ người nghèo, người bị chất độc da cam nơi bị thiên tai bão .
*Công tác đoàn thể quần chúng, chính trị xã hội
Giữa các hộ kinh doanh tại địa bàn xã hàng năm luôn phấn đấu để được
trao tặng các bằng khen thi đua của tỉnh và huyện .
Các hộ kinh doanh luôn quan tâm đến quyền lợi cho người lao động như: