đánh giá hiệu quả của hoạt động nuôi cá nước ngọt tại xã ayun hạ, huyện phú thiện, tỉnh gia lai - Pdf 13

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Huyện Phú Thiện là một huyện nhỏ của tỉnh Gia Lai, có diện tích tự
nhiên khá lớn, diện tích ao hồ tương đối rộng ngoài hồ chứa Ayun Hạ do tỉnh
quản lý, trên địa bàn huyện còn có khoảng 125 ha ao hồ với tổng diện tích
tương đối lớn, mặt nước có thể nuôi trồng các loại thuỷ sản. Với các cơ sở
vật chất hiện có đã được nhà nước đầu tư xây dựng trong những năm trước,
nhất là công trình phục vụ dân sinh như: công trình đại thủy nông Ayun Hạ
có diện tích mặt nước đầy trung bình rộng 3.700 ha, dung tích 253 triệu m
3
nước, với hệ thông kênh mương khá tốt [1]. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản
chủ động được nguồn nước nên việc điều tiết nước trong các ao hồ thuận lợi,
giúp cho quá trình nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao, các loại thuỷ sản ít bị bệnh,
đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi cá nước ngọt.
Xã Ayun Hạ, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai có rất nhiều ưu thế để
phát triển nghành nuôi cá nước ngọt và thực tế nghành nuôi cá nước ngọt là
một trong những nguồn thu nhập đáng kể, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho
các nông hộ ở nơi đây. Đặc biệt từ khi có công trình thủy điện Ayun Hạ hỗ
trợ cho người dân về nuôi trồng cá nước ngọt thì mô hình ngày càng mở rộng
về quy mô. Vì vậy, việc nuôi nước ngọt ở xã đã mang lại hiệu quả kinh tế xã
hội rất lớn, giúp người nuôi không những xóa đói giảm nghèo mà còn tiến
đến làm giàu, dần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm giúp cho
các hộ gia đình thoát nghèo bền vững.
Với những điều kiện thuận lợi trên lẽ ra nghề nuôi cá nước ngọt ở xã
Ayun Hạ đã phải phát triển và “chuyên nghiệp hóa”. Nhưng do vẫn còn tồn
tại những khó khăn như: thiếu vốn trong quá trình sản xuất, trình độ dân trí
của người dân còn thấp, quy mô nuôi ở các hộ còn manh mún, nhỏ lẻ, nghề
nuôi cá nước ngọt ở xã còn mang tính tự phát, người dân chủ yếu bán sản
phẩm cho thương lái nên giá cả bấp bênh. Bên cạnh đó, phương thức nuôi
của các hộ trong xã chủ yếu tận dụng nguồn thức ăn trong tự nhiên và phụ
phẩm nông nghiệp. Vì vậy mà hiệu quả mang lại cho các hộ từ nuôi cá chưa

Hiệu quả là một thuật ngữ dùng để chỉ các mối liên hệ giữa kết quả
thực hiện với mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để
có kết quả đó trong những điều kiện nhất định.
Vì vậy theo hướng mục tiêu của chủ thể, kết quả trong hoạt động càng
lớn hơn chi phí bỏ ra thì càng có lợi.
Đới với các phương án hành động khác nhau hiệu quả chính là chi phí
để phân tích, đánh giá, lựa chọn chúng.
Hiệu quả được biểu hiện theo nhiều góc độ khác nhau vì vậy hình
thành nhiều khái niệm khác nhau: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả
môi trường, hiệu quả tuyệt đối, hiệu quả tương đối
2.1.2. Hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng hoạt
động kinh tế, là thước đo trình độ quản lý và trình độ tổ chức của các doanh
nghiệp. Theo GS.TS Ngô Đình Giao: “ Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao
nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của nhà nước”[3]. TS Nguyễn Tiến Mạnh lại cho rằng “
Hiệu quả kinh tế là phạm trù khách quan phản ánh trình độ lợi dụng các
nguồn lực để được mục tiêu đã xác định”[4].
Vì vậy, ta hiểu rằng: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế biểu
hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai
thác các nguồn lực và trình độ, chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái
sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu đề ra.
Hiệu quả kinh tế biểu hiện tính hữu hiệu về kinh tế của việc sử dụng
các loại vật tư, lao động, tiền vốn trong sản xuất kinh doanh, nó chỉ ra mối
quan hệ giữa các lợi ích kinh tế mang lại với chi phí bằng tiền trong mỗi kỳ
kinh doanh. Lợi ích kinh tế càng lớn thì hiệu quả càng cao.
3
Hiệu quả kinh tế là mối quan hệ tổng hòa giữa hai yếu tố hiện vật và
giá trị trong việc sử dụng các nguồn lực vào sản xuất. Nói cách khác, hiệu
quả kinh tế là hiệu quả đạt được trong việc sử dụng hai yếu tố cơ bản trong

phí bỏ ra. Điều đó có nghĩa là hiệu quả kinh tế là sự so sánh về mặt lượng
giữa kết quả và chi phí sản xuất. Ta có công thức: H = Q/C
Trong đó: H: hiệu quả kinh tế
Q: kết quả thu được
C: chi phí bỏ ra
Phương pháp này phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nguồn lực, xem
xét được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kết quả. Điều
này cho phép chúng ta so sánh hiệu quả ở các quy mô khác nhau.
Ở đề tài này, đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi cá nước
ngọt là so sánh hiệu quả về quy mô nuôi cá nước ngọt.
2.1.4. Các chỉ tiêu tính toán kết quả, hiệu quả.
Doanh thu (DT). Là chỉ tiêu cho biết tổng số tiền thu được cùng với
mức sản lượng và mức giá bán một đơn vị sản phẩm.
Doanh thu = sản lượng * đơn giá bán sản phẩm
Năng suất: Là chỉ tiêu cho biết sản lượng thu hoạch được trên một đơn
vị diện tích.
Năng suất = Sản lượng thu hoạch/ Diện tích ao nuôi
Tổng chi phí (TC). Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ chi phí bỏ ra đầu tư
vào quá trình sản xuất.
TC = Chi phí vật chất + Chi phí lao động
Lợi nhuận (LN). Là phần lời thu được sau khi trừ tất cả các khoản chi
phí kể cả chi phí do gia đình đóng góp.
LN = DT – TC
Thu nhập (TN). Là phần thu được sau khi trừ tất cả các khoản chi phí
sản xuất không kể đến chi phí công gia đình.
TN = DT – CPVC – công LĐ thuê
Tỷ suất thu nhập/chi phí . Chỉ tiêu này cho biết một đồng bỏ ra đầu
tư mang lại bao nhiêu đồng thu nhập.
Tỷ suất thu nhập/chi phí =TN/TCVC
5

Bảng 2.1: Sản lượng cá nuôi nước ngọt thế giới giai đoạn 2004 – 2010.
(Đơn vị: triệu tấn)
Danh
mục
2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Nuôi nước
ngọt
19,46 20,42 21,67 23,09 24,15 26,31 27,70
(Nguồn: FAO, 2010)
Qua bảng trên cho thấy, sản lượng cá nước ngọt thế giới tăng đều qua
các năm. Điều đó chứng tỏ các nước đã quan tâm tới nghành nuôi cá nước ngọt
ngọt.
2.3. Tình hình nuôi cá nước ngọt ở việt nam.
Nước ta có diện tích bề mặt nước ngọt lớn với 653.000 ha sông ngòi,
394.000 ha hồ chứa, 85.000 ha đầm phá ven biển, 580.000 ha ruộng lúa
nước. Ngoài ra, ở ĐBSCL, hàng năm có khoảng 1.000.000 ha diện tích ngập
lũ từ 2 đến 4 tháng… Nhờ vậy, nguồn lợi cá nước ngọt ở Việt Nam thực sự
phong phú. Theo kết quả điều tra khoa học, đã xác định được 544 loài cá
nước ngọt phân bố ở Việt Nam. Ngoài ra, nước ta còn nhập nội thêm hàng
chục loài khác như: cá trắm cỏ, cá rô phi, cá trôi [5]. Trên thực tế, tính đến
thời điểm này, số diện tích nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt đã phát triển tương
đối phù hợp với mục tiêu mà chương trình đã đề ra. Sự phát triển nghề nuôi
cá nước ngọt đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần xoá đói giảm nghèo
ở nhiều vùng nông thôn và miền núi. Thời gian qua đã có rất nhiều mô hình
nuôi cá nước ngọt như: cá rô phi, ếch, ba ba… thành công trên quy mô lớn
tại các địa phương trong cả nước. Việc “nuôi cá hồi” thành công tại một số
địa phương miền núi phía Bắc như Sapa, Lai Châu…đã đánh dấu một bước
phát triển của nghề nuôi cá nước ngọt ở Việt Nam. Bên cạnh sản phẩm chủ
lực là con cá tra ở ĐBSCL, nếu những mô hình này thành công và được nhân
rộng, có quy hoạch hợp lý và có điều kiện để phát triển thì không chỉ phục

đó có 5 huyện tập trung với quy mô 1.000 ha mặt nước trở lên, gồm: Phú
Thiện, Chư Sê, Kbang, Chư Pah, Krông Pa.
Ngoài các đối tượng cá truyền thống được khai thác, Gia Lai còn có
các đối tượng thuỷ sản đặc trưng bản địa có giá trị kinh tế như: Thác lác,
8
Chình hiện đang được khai thác tự nhiên. Các đối tượng này có thể đưa
vào nuôi trong tương lai sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao.
2.5. Tình hình nuôi cá nước ngọt tại huyện Phú Thiện.
Hiện nay đối tượng nuôi trồng thủy sản nước ngọt của huyện Phú
Thiện chủ yếu là các loài cá truyền thống ( trắm, chép, mè, trôi, ). Ngoài ra,
thời gian gần đây một số đối tượng mới được người dân đưa vào nuôi như:
Cá rô phi đơn tính, cá lóc, ba ba nhưng chủ yếu tự phát và nhỏ lẻ. Một số ít
hộ có áp dụng kỹ thuật vào sản xuất. Còn lại đại đa số là nuôi theo kinh
nghiệm. Nuôi thả để cải thiện bữa ăn gia đình mà chưa chú trọng đến hiệu
quả kinh tế từ nuôi cá.
Theo chi cục thống kê của huyện Phú Thiện (2007-2010) diện tích đất
nuôi trồng thủy sản nước ngọt của huyện khá lớn (4853 ha). Diện tích này
chủ động được nguồn nước nên việc điều tiết nước trong ao hồ thuận lợi, các
loài cá ít bệnh, giúp cho quá trình nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao. Sản lượng
cá nước ngọt của huyện Phú Thiện trong giai đoạn (2007 – 2010) được thể
hiện qua bảng sau:
Bảng 2.2: Sản lượng cá nước ngọt của huyện Phú Thiện.
Chỉ tiêu ĐVT 2007 2008 2009 2010
Sản lượng khai thác Tấn 11 40 48 52
Sản lượng nuôi trồng Tấn 58 80 722.25 831.26
Tổng Tấn 69 120 72273 83178
(Nguồn: Theo chi cục thống kê của huyện Phú Thiện ,2007-2010.)
Qua bảng trên cho thấy, sản lượng khai thác và nuôi trồng cá nước
ngọt của huyện qua các năm đều tăng. Nhìn chung, tình hình nuôi cá nước
ngọt ở đây đang phát triển và mô hình này đã áp dụng khoảng bốn năm nay

một năm thường đạt khối lượng từ 0,6 – 0,8kg/con. Cá chép có hai vụ chính
trong năm là vụ xuân và vụ hè.
Nguồn thức ăn của cá chép là các loại phù du động vật ở đáy ao hồ
như giun đỏ, ấu trùng, côn trùng đáy, cũng có thể ăn ốc, hến. Cá còn ăn các
loại thức ăn hạt như thóc, ngô, đậu tương, bã đậu; cá cũng là loại ăn tạp nên
chúng có thể ăn trực tiếp các loại phân hữu cơ, phân chuồng, phân bắc, các
10
phù du thực vật, các loại rau, bèo, các loại bùn bã hữu cơ… Nếu ao nhỏ có
độ pH thấp, môi trường nước chua (axit lớn), các loại phù du động vật kém
phát triển thì cá chép sẽ chậm lớn.
Trong những ao hồ nuôi cá chép nếu kết hợp chăn nuôi vịt sẽ cải tạo
được hồ, ao, tạo môi sinh rất phát triển cho các phù du động thực vật đáy
phát triển tăng lượng thức ăn cho cá, sản lượng cá sẽ đạt năng suất cao hơn.
Cá Mè trắng (Hypophthalmichthys molitrix)
Cá mè là loại cá nuôi ở ao, hồ thường ở tầng mặt và tầng giữa ao, chỉ
khi nào bị xua đuổi đánh bắt mới lặn xuống đáy ao.
Thời vụ nuôi cá mè có hai vụ chính trong năm: vụ xuân từ tháng 2 đến
tháng 4, vụ hè từ tháng 7 đến tháng 9.
Cá mè trắng có tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh, 10 tháng tuổi có
thể đạt từ 0,5 – 0,9kg/con. Nhưng nếu chăm sóc kém cá chỉ đạt từ 200 –
300g/con và có khi còn thấp hơn.
Về thức ăn đối với cá: trong điều kiện tự nhiên chúng ăn phù du sinh
vật, phù du động vật và phù du thực vật. Cá mè trắng ăn phù du thực vật là
chủ yếu chiếm từ 70 – 80%, còn lại là phù du động vật và các chất mùn bã
hữu cơ. Ngoài ra chúng còn ăn các loại thức ăn như cám gạo, ngô, bột sắn, bột
mỳ và đậu tương… Đối với cá mè không ăn trực tiếp các loại phân hữu cơ
như phân lợn, phân vịt Các loại phân này chính là thức ăn cho các loại phù
du động, thực vật và phù du động thực vật là nguồn thức ăn chính cho cá mè.
Cá Trôi ( Sinilabeo decorus)
Cá trôi là loại cá chậm phát triển nhất so với các loài cá. Ở những ao

trường không thích hợp, thiếu thức ăn thì cá lớn chậm và có tỷ lệ chết cao.
Ở giai đoạn nuôi cá thịt, cá trắm cỏ ăn các loại thức ăn như rau, cỏ,
bèo, lá cây, rong. Chúng cũng có thể ăn trực tiếp các loại thức ăn giàu đạm,
các thức ăn hạt, tinh bột và thức ăn cho các phù du động, thực vật như rong,
tảo…, đối với cá trắm cỏ không ăn các loại thức ăn trực tiếp phân vịt.
12
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ nuôi nuôi cá nước ngọt ở
Ayun Hạ, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai
Tập trung vào đánh giá hiệu quả của các hộ này .
3.1.2.Mục tiêu nghiên cứu.
Đánh giá hiệu quả của hoạt động nuôi cá nước ngọt tại xã Ayun Hạ,
huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai
3.1.3. Phạm vi nghiên cứu.
Về mặt không gian: Tại xã Ayun Hạ, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai
Về mặt thời gian: Nghiên cứu tình hình nuôi cá nước ngọt tại xã Ayun Hạ,
huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai trong thời gian 4 tháng từ 3/1/2011 đến
5/5/2011
3.2. Nội dung nghiên cứu.
Đề tài được tiến hành với các nội dung nghiên cứu chính như sau:
Tình hình cơ bản của xã Ayun Hạ.
Thực trạng nuôi cá nước ngọt tại xã Ayun Hạ.
Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của hoạt động nuôi cá nước ngọt
tại xã.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi cá nước ngọt tại xã.
Các giải pháp để phát triển nghề nuôi cá nước ngọt và tăng thu nhập
cho các hộ nuôi cá

3.3.2.2. Phương pháp thu thấp số liệu sơ cấp.
Thu thập số liệu sơ cấp được thực hiện theo phương pháp PRA, các
công cụ PRA được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đó là:
- Phỏng vấn sâu các cán bộ chuyên trách của phòng nông nghiệp, các
cán bộ tại địa phương như: cán bộ khuyến nông, khuyến ngư, người làm
công tác phát triển, cán bộ phụ trách nông nghiệp.
- Phỏng vấn cấu trúc và bán cấu trúc theo phiếu điều tra 40 hộ theo
mẫu đã chọn ở trên, nhằm thu thập toàn bộ các thông tin về hoạy động sản
xuất kinh doanh của các hộ, để phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
- Quan sát thực địa về các hoạt động sản xuất đặc biệt là hoạt động
nuôi cá nước ngọt, quy mô nuôi và kỹ thuật nuôi của mỗi hộ.
3.3.3. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu.
- Tổng hợp số liệu: Số liệu được tổng hợp trên phần mềm Excel.
- Phân tích định tính và định lượng để mô tả phân tích các chỉ tiêu
nghiên cứu.
14
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm của vùng nghiên cứu.
4.1.1. Đặc điểm tự nhiên.
4.1.1.1. Vị trí địa lý.
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, vị trí địa lý đóng vai trò quan
trọng. Đặc điểm địa hình thuận lợi tạo điều kiện cho việc giao lưu buôn bán
qua lại.
Xã Ayun Hạ thuộc huyện Phú Thiện, cách trung tâm huyện 7km về
phía bắc, nằm ở phía Đông Nam tỉnh Gia Lai. Trung tâm xã cách thành phố
Pleiku 72 km theo quốc lộ 25 về phía nam. Xã có diện tích đất tự nhiên là
2.535,47 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 2.129,66 ha, đất phi nông
nghiệp 351,53 ha, đất chưa sử dụng 54,28 ha. Toàn xã có 9 thôn với 5.674
khẩu, 1,229 hộ, dân tộc thiểu số chiếm 59,9% dân số toàn xã.
Địa giới hành chính của xã Ayun Hạ:

mang tính nhiệt đới gió ẩm và khí hậu Cao Nguyên. Một năm có hai mùa
khô và mùa mưa rõ rệt, lượng mưa phân bổ không đều trong năm, lượng
mưa trung bình từ 1.200 – 1.250mm/năm, tập trung cao điểm vào các tháng
9, 10, 11.
Nhiệt độ không khí trung bình năm là 25,5
0
C
Độ ẩm trung bình năm là: 80%
Lượng mưa bình quân năm là: 1.225mm/năm
Xã Ayun Hạ có hai hướng gió chính là: hướng Đông Nam bắt đầu từ
tháng 11 đến tháng 7 năm sau; hướng Tây Nam từ tháng 8 đến tháng 10. Với
đặc thù thời tiết như trên cây lúa có thể phát triển tốt ở vùng này.
4.1.1.4. Thủy văn.
Xã Ayun Hạ có hệ thống sông suối tương đối nhiều. Đặc biệt có sông
IaYun là sông chính chảy qua địa phận xã, dọc theo ranh giới từ phía Bắc kéo
dài xuống phía Nam. Đây là nguồn dự trữ và cung cấp chủ yếu cho các ngành
sản xuất, dịch vụ cũng như phục vụ sinh hoạt của người dân trong xã. Tuy
nhiên, vào mùa mưa sông Ia Yun thường bị ngập lụt gây xói mòn hai bên bờ,
phá hoại mùa màng ảnh hưởng xấu tới mùa màng của bà con nông dân.
Ngoài nguồn nước chủ yếu của con sông Ia Yun và các nhánh suối của
nó, xã còn có công trình hồ chứa thủy điện AYun Hạ, đây là một trong những
công trình thủy lợi lớn, là nguồn nước chính cung cấp nước sinh hoạt, cung
cấp nước sản xuất nông nghiệp và cung cấp điện cho vùng dân cư rộng lớn.
Lượng nước dồi dào từ hệ thống sông IaYun kết hợp với hệ thống
thủy lợi giúp cây lúa được cung ứng đủ cho quá trình sản xuất.
Tuy nhiên, do đặc điểm địa hình miền núi và khí hậu khắc nghiệt cùng
với chế độ mưa tập trung, nên một số vùng vẫn còn thiếu nước vào mùa khô
và thừa nước vào mùa mưa, nhất là tháng 10 và tháng 11.
16
4.1.1.5. Tình hình sử dụng đất đai.

lớn nhất (15,64%), rất thích hợp phát triển các loài cá nước ngọt ở địa
phương, đây là nguồn lợi thủy sản rất lớn đã đóng góp một phần đáng kể vào
việc cải thiện đời sống cho người dân trong vùng. Đât ao hồ chiếm một tỷ lệ
17
thấp nhất trong cơ cấu các loại đất nông nghiệp, chỉ( 0,81%) bao gồm các
loài cá chép, cá mè, cá trắm, cá rô phi, cá trôi nhưng có giá trị kinh tế và
sinh học rất cao. Tuy diện tích nuôi trồng cá nước ngọt không lớn nhưng xã
lại có diện tích đất thủy lợi lớn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển NTTS
thành một ngành kinh tế chính của xã.
4.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội.
4.1.2.1. Tình hình dân số và lao động.
Dân số và lao động của một địa phương thể hiện được sức sản xuất
của địa phương đó. Trong quá trình phát triển kinh tế thì dân số và lao động
có ảnh hưởng rất lớn, một mặt nó sẽ tạo tiềm lực để phát triển mặt khác nó sẽ
cản trở lại sự phát triển khi vấn đề việc làm và đời sống của nhân dân không
được đảo bảo. Với ý nghĩa đó tôi đã tìm hiểu cơ cấu dân số và lao động xã
Ayun Hạ trong năm ( 2008-2010). Kết quả được thể hiện ở bảng4.2.
18
Bảng 4.2. Tình hình dân số và lao động của xã Ayun Hạ (2008-2010).
STT
Chỉ tiêu Đvt
2008 2009 2010
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
1 Tổng số hộ Hộ 1138 100 1226 100 1229 100
1.1 Hộ nông nghiệp Hộ 885 77,77 967 78,88 992 80,72
1.2 Hộ phi nông nghiệp Hộ 253 22,24 259 21,13 237 19,29
2 Tổng nhân khẩu Người 5011 100 5565 100 5653 100
2.1 Nam Người 2531 50,51 2802 50,35 2832 50,10
2.2 Nữ Người 2480 49,50 2763 49,65 2821 49.91
3 Tổng số lao động Người 2289 100 2542 100 2587 100

76,64
23,37
2209
378
85,39
14,62
4 Bình quân
4.1 Số nhân khẩu/hộ Người 4,41 4,54 4,60
4.2 Lao động/hộ Người 2,02 2,08 2,11
4.3 Lao động nông nghiệp/hộ Người 1,51 1,59 1,80
( Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của xã Ayun Hạ)
19
Bảng trên cho thấy tổng số hộ, nhân khẩu, số lao động của xã tăng đều
qua các năm. Lực lượng lao động của xã khá dồi dào, số người trong độ tuổi
lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao. Như vậy, nền kinh tế của xã đang còn
chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Hiện nay ở địa phương chưa tận dụng được
hết nguồn lao động dư thừa, trong những năm tới xã cần có chủ trương để
giải quyết việc làm cho người lao động, tạo điều kiện cho sản xuất nông
nghiệp. Vì vậy việc đầu tư khuyến khích phát triển nghề nuôi cá nước ngọt
sẽ góp phần giải quyết việc làm cho nhiều người lao động, nâng cao thu nhập
và cải thiện đời sống của người dân.
4.1.2.2. Tình hình giao thông, y tế, giao dục.
Trong những năm qua UBND xã đã triển khai làm đường bê tông nông
thôn. Hiện nay xã Ayun Hạ đã có mạng lưới giao thông nông thôn tương đối
hoàn chỉnh. Nhờ có mạng lưới giao thông thuận tiện như vậy mà việc giao
lưu buôn bán được thúc đẩy mạnh mẽ. Nhất là việc buôn bán và vận chuyến
cá giống và cá thương phẩm, một trong những thế mạnh của địa phương.
Hệ thống y tế, giáo dục, thông tin trong những năm gần đây đã được
đầu tư nâng cấp, về cơ bản cơ sở vật chất đáp ứng được nhu cầu về phúc lợi
xã hội.

loại cây trồng khác cũng mang hiệu quả kinh tế cao như: mía, mì (sắn),
bắp, Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kỹ thuật thâm canh còn
chưa được đảm bảo, việc đầu tư phân bón, thời vụ gieo trồng, còn chưa
được đầy đủ và đúng lúc nên năng suất cây trồng chưa cao so với tiềm năng
của xã. Diện tích, năng suất, sản lượng một số loài cây ở Ayun Hạ được thể
hiện qua bảng 4.4.
21
Bảng 4.4. Diện tích, năng suất, sản lượng hàng năm của một số cây trồng chính của xã Ayun Hạ
ĐVT: SL:tấn/năm; NS:tạ/ha; DT:ha
STT Loại cây trồng 2008 2009 2010
DT NS SL DT NS SL DT NS SL
1 Lúa
1.1 Lúa đông xuân 153 60 918 153 67 1025,1 239 85 2031,50
1.2 Lúa hè thu 80 50,5 404 85 52 442 87,8 80 702,40
2 Ngô lai 40 50 200 40 50 200 60 57 342
3 Cây sắn 120 140 1680 120 140 1680 1169,09 140 16252,60
4 Cây mía 45 500 2250 46 500 2300 15 500 750
5 Cây điều 20 8 16 21 8,3 17,4 15 8,6 12,90
6 cây đậu các loại 10 40 40 10 45 45 40 62 248
( Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của xã Ayun Hạ)
22
Qua bảng trên cho thấy diện tích, năng suất và sản lượng của các loại
cây trồng ở xã tăng lên qua các năm đó là cây lúa, cây ngô, cây đậu các loại,
cây sắn. Đặc biệt là cây sắn tăng lên rõ rệt với 1.169,09 ha (2010) tăng so với
năm 2009 (1.049,09) là 120 ha do cây săn dễ làm, ít tốn công, cho năng suất
cao (140tạ/ha) người dân thu lời từ sắn rất cao nên nhân dân chuyển đổi một
số cây trồng và tự khai phá mở rộng diện tích. Bên cạnh đó cây mía 15 ha
(2010) giảm 31 ha so năm 2009, cây điều 15 ha (2010) giảm 4 ha so với
cùng kỳ năm 2009. Do thời tiết khắc nghiệt và bi sâu bệnh không thích hợp
trồng nên diện tích giảm.

Gia cầm
Con
5.500 18.968 30.300

Con
48 126 245
Thủy cầm
Con
312 1.678 14.300
Nhím
Con
44 65
Ong Thùng
337 420 535

Tấn
16 21 24,5
( Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của xã Ayun Hạ)
Ở xã chưa có hình thức nuôi theo quy mô trang trại lớn, chỉ tồn tại theo
quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ. Số liệu bảng trên cho thấy gia cầm, thủy cầm
tăng lên nhanh, tổng số gia cầm hiện nay là 30.300 chiếm 55,32%, thủy cầm
là 14.300 chiếm 89,79 so với số lượng gia cầm năm 2008 và 2009. Đàn gia
cầm trên địa bàn xã luôn được tiêm phòng đầy đủ, dịch bệnh không xẩy ra
do đó số lượng tăng lên đáng kể.
Đối với vật nuôi trâu, bò, ong, dê: Qua bảng cho thấy số lượng tăng đều
qua các năm nhưng không đáng kể. Mặc dù có sự hỗ trợ của chương trình
nông nghiệp và phát triển nông thôn cho 10 hộ nghèo nhưng nhìn chung khả
năng tăng trọng của chúng rất chậm. Ở đây chủ yếu theo hình thức chăn nuôi
quảng canh, dựa vào đồng cỏ tự nhiên. Bên cạnh đó do đầu vào lớn nên tỷ lệ
hộ nuôi ít.

trưởng, phát triển của các loài cây cỏ là điều kiện cần thiết để phát triển nuôi
cá nươc ngọt ở xã.
4.2. Tình hình nuôi cá nước ngọt tại xã Ayun Hạ.
4.2.1. Thuận lợi và khó khăn của nghề nuôi.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status