Website: Email : Tel : 0918.775.368
I - Lời mở đầu
Hiện nay, có rất nhiều ngời và thậm chí cả sinh viên - những ngời mà đang đ-
ợc trang bị một cách khá đầy đủ kiến thức về kinh tế, văn hoá, xã hội vẫn không
hiểu rõ một cách chính xác bản chất hình thái Kinh tế - Xã hội (KT - XH) là gì và
có những hình thái KT - XH nào mà thế giới con ngời đã trải qua và có khá hơn thì
chỉ biết rằng xã hội con ngời đã trải qua các chế độ nào.
Ngay chính bản thân em, cũng chỉ biết rằng mình đang sống trong chế độ
XHCN nhng cũng cha hiểu rõ đợc bản chất của hình thái KT - XH. Và khi đợc học
môn Triết về phần hình thái KT - XH em mới thấy hết đợc ý nghĩa của nó, nó
không đơn thuần chỉ là một khái niệm, cũng không là một cái gì cụ thể mà nó nh
là một cái gì đó vận động. Và việc vận dụng học thuyết Mác về học thuyết kinh tế
- xã hội là mục tiêu để nhanh chóng đạt đến trình độ của nớc phát triển. Đây là
mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nớc ta.
Do trình độ phạm vi nghiên cứu còn hạn hẹp với thời gian có hạn nên bài viết
không tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết cũng nh cha đáp ứng đủ yêu cầu
đòi hỏi của đề tài. Em rất mong đợc sự góp ý của các thầy cô để vốn kiến thức của
em đợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
I - Hình thái KT - XH
Trớc khi đi vào phân tích Sự phát triển của hình thái KT - XH là quá trình
lịch sử tự nhiên cần phải hiểu hình thái KT - XH là gì, kết cấu của nó nh thế nào?
Hình thái KT - XH là một phạm trù của CNDVLS dùng để chỉ xã hội ở từng giai
đoạn lịch sử nhất định với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trng cho mỗi xã hội đó,
phù hợp với một trình độ nhất định của lực lợng sản xuất và với một kiến thức th-
ợng tầng tơng ứng đợc xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó.
Tất nhiên những mặt trên là cơ bản, ngoài ra hình thái KT - XH còn bao gồm
cả những quan hệ về dân tộc, gia đình, lịch sử và các quan hệ khác. Các quan hệ
trên đây có vai trò độc lập nhất định, đồng thời cũng bị chi phối bởi những điều
phẩm con ngời mong muốn. Nó là toàn bộ những tài nguyên thiên nhiên có sẵn mà
con ngời đã, đang và sẽ trực tiếp sử dụng và đa vào sản xuất; nó còn là những sản
phẩm không có sẵn trong tự nhiên mà do con ngời bằng lao động của mình đã tạo
ra nh: các loại hoá chất, sợi tổng hợp, các chất hợp kim, các loại nguyên vật liệu
mới, giống và cây con mới. Con ngời không bao giờ chỉ bằng lòng với những thứ
đang hiện có, việc tìm kiếm ra những đối tợng lao động mới, việc tạo ra những sản
phẩm mới luôn là động lực cuốn hút mọi hoạt động sáng tạo của con ngời. Vì vậy
đối tợng lao động luôn luôn đợc biến đổi, đổi mới không ngừng.
T liệu lao động chính là công cụ lao động (máy móc, thiết bị, hệ thống công
nghệ,...) để con ngời tác động vào đối tợng lao động để tạo ra những sản phẩm mà
mình mong muốn. Ngoài ra, t liệu lao động còn có cả phơng tiện lao động, đó là
những cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quá trình sản xuất nh: nhà xởng, kho
bãi, bến cảng, sân ga, phơng tiện liên lạc, đờng xá, cầu cống,... T liệu lao động
luôn luôn đợc cải thiện, biến đổi theo sự phát triển sáng tạo của con ngời. Chính
công cụ lao động và phơng tiện lao động là cơ sở để đánh giá sự phát triển của mỗi
thời đại kinh tế, mỗi chế độ chính trị xã hội.
Ngời lao động là nhân tố trung gian nối kết t liệu lao động với đối tợng lao
động. Nếu một xã hội dù có t liệu lao động hiện đại đến đâu không có ngời lao
động thì tác dụng tích cực của t liệu lao động cũng chẳng có ý nghĩa gì. Hơn nữa,
t liệu lao động cũng là do con ngời lao động tạo ra. Chính vì vậy con ngời luôn cần
đợc quan tâm giáo dục và đào tạo để phát huy sức mạnh trí tuệ của mình.
2. Quan hệ sản xuất là toàn bộ mối quan hệ giữa ngời với ngời trong quá
trình sản xuất và tái sản xuất vật chất của xã hội. Nó thể hiện ở 3 mặt quan hệ cơ
bản: quan hệ sở hữu đối với t liệu sản xuất; quan hệ trong tổ chức và quản lý sản
xuất; quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ba mặt kinh tế nói trên là một thể thống nhất hữu cơ, tạo thành quan hệ sản
xuất, trớc đó quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với các
mặt quan hệ khác.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chính là cơ sở nảy sinh những đối kháng trong kiến trúc thợng tầng, giai cấp nào
thống trị về kinh tế sẽ thống trị về chính trị và thiết lập cả sự thống trị về mặt tinh
thần đối với xã hội, trong đó hệ t tởng chính trị và bộ máy quản lý Nhà nớc có vị
trí quan trọng nhất. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng có mối quan hệ biện
chứng với nhau. Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thợng tầng. Và kiến trúc thợng
tầng có tính độc lập tơng đối, tác động trở lại cơ sở hạ tầng.
III - Sự phát triển của hình thái KT - XH
Nhân loại đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau tơng ứng với mỗi giai đoạn
ấy là một hình thái KT - XH nhất định. Các hình thái KT - XH vận động, phát
triển và thay thế lẫn nhau đều do tác động của các quy luật khách quan, trong đó
quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lợng sản xuất một trong những quy luật quan trọng nhất đó là quá trình phát triển
tự nhiên của lịch sử.
Trong bộ T bản và các tác phẩm khác của Mác, theo Mác, sự phát triển của
xã hội loài ngời là một quá trình lịch sử tự nhiên, trong đó bản thân con ngời làm
ra lịch sử của mình, nhng không phải con ngời làm ra lịch sử một cách tuỳ tiện,
một sự lựa chọn tuỳ ý, mà làm ra lịch sử phụ thuộc vào toàn bộ sự phát triển đã
qua của sinh hoạt vật chất của xã hội. Ngay cả sinh hoạt tinh thần của xã hội cũng
phản ánh sinh hoạt vật chất của xã hội. Từ đây Mác & Ăng ghen đã nêu lên hàng
loạt những quy luật chi phối xã hội, đó là quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, quy luật về tồn tại xã hội quyết định ý
thức xã hội, về cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc hạ tầng.
Trong tác phẩm Góp phần phê phán chính trị kinh tế học, Mác viết: Trong
sản xuất xã hội, để cung cấp cho đời sống của mình, con ngời hình thành những
quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc vào ý chí của mình - những quan hệ
sản xuất phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của những lực lợng sản xuất
vật chất của mình. Tập hợp những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế
của xã hội cơ sở hiện thực trên đó dựng lên kiến trúc thợng tầng về pháp lý và